Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả tán sỏi niệu quản nội soi ngược dòng sử dụng laser holmium tại bệnh viện việt tiệp hải phòng - Pdf 34

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sỏi tiết niệu là bệnh lý khá phổ biến trong số các bệnh lý tiết niệu đã
được biết đến từ lâu. Trên thế giới tỷ lệ mắc bệnh hàng năm là 81,3300/100.000 nam giới và 29,5-100/100.000 nữ giới với xu hướng ngày
càng gia tăng [65], [66]. Trong sỏi tiết niệu, sỏi niệu quản thường đứng thứ
2 sau sỏi thận, chiếm tỷ lệ khoảng 28,31% [10]. Sỏi có thể nằm ở đoạn 1/3
trên, 1/3 giữa hay 1/3 dưới của niệu quản. Sỏi có thể kết hợp với nhiều sỏi
ở vị trí khác nhau của đường tiết niệu, số lượng có thể 1 hoặc nhiều viên,
có khi xếp thành 1 chuỗi trong lòng niệu quản, hình trụ, xù xì hoặc nhẵn
[1], [2].
Sỏi niệu quản là một bệnh cấp cứu trì hoãn do sỏi rất dễ gây ra các
biến chứng như nhiễm khuẩn tiết niệu, ứ nước, ứ mủ thận, thậm chí có thể
gây vô niệu hoặc suy thận dẫn đến tử vong nếu không xử trí kịp thời.
Điều trị sỏi niệu quản hiện nay trên thế giới có nhiều phương pháp
hiện đại như tán sỏi ngoài cơ thể (ESWL – Extracorporeal shock wave
lithotripsy), tán sỏi thận qua da (Percutaneous Nephrolithotripsy), và tán
sỏi qua nội soi (Endo Uroscopic Lithotrypsy)… đã giải quyết 90% các
trường hợp sỏi. Từ đó mổ lấy sỏi chiếm một vị trí nhỏ và ít được chỉ định
trong can thiệp sỏi niệu quản [21].
Tại Việt Nam, nội soi niệu quản đã được thực hiện từ những năm 80
của thế kỉ 20. Tuy nhiên phải tới những năm đầu của thế kỷ 21, kỹ thuật
này mới thực sự phát triển mạnh, đóng vai trò quan trọng trong điều trị sỏi
niệu quản. Các dụng cụ để tán sỏi trước đây thường dùng là máy tạo khí
nén hoặc thủy điện lực với bản chất là tạo ra các xung động cơ học, hoặc
các sóng năng lượng thấp. Phương pháp tán sỏi nội soi với các dụng cụ này
chỉ thực sự có hiệu quả với các sỏi có kích thước nhỏ, mới hình thành. Các
trường hợp sỏi có kích thước lớn, thời gian tạo sỏi lâu, sỏi bám dính chặt
vào niêm mạc thì phương pháp này thường thất bại. Khoảng 3 thập kỷ gần


2

thúc bằng 2 lỗ niệu quản. Đường kính ngoài 4-5 mm, đường kính trong 34 mm, khi niệu quản đã bị tắc có thể dãn rộng hơn 10 mm. Niệu quản
chia làm 4 đoạn. Có liên quan từng đoạn với các bộ phận lân cận. Theo
chiều dài niệu quản có 4 chỗ hẹp sinh lý: chỗ nối tiếp bể thận niệu quản,
chỗ niệu quản bắt chéo động mạch chậu, chỗ nối tiếp niệu quản bàng
quang và lỗ niệu quản.
1.1.1.1.2. Liên quan
- Đoạn thắt lưng: dài 9-11 cm, bắt đầu từ mỏm ngang cột sống L2L3 tới chỗ bắt qua cánh chậu. Tại chỗ tiếp giáp với bể thận, cơ niệu quản
dày lên làm lòng niệu quản hẹp, đây là chỗ hẹp đầu tiên của niệu quản
hay đối chiếu lên thành bụng là điểm niệu quản trên và sỏi hay dừng ở vị
trí này.
Đoạn này niệu quản nằm sau phúc mạc, liên quan tới mỏm ngang
các đốt sống, liên quan với động mạch chủ (bên trái), tĩnh mạch chủ (bên
phải). Đây là mốc quan trọng tìm niệu quản khi phẫu thuật.
- Đoạn chậu: đoạn này dài 3-4 cm, bắt đầu khi đi qua cách xương
chậu tới eo trên.
Với động mạch chậu: bên trái niệu quản bắt chéo động mạch chậu
gốc trên chỗ phân chia 1,5 cm, bên phải niệu quản bắt chéo động mạch


4
chậu ngoài dưới chỗ phân chia 1,5 cm. Cả 2 niệu quản bắt chéo động
mạch chậu và động mạch chậu ngoài đều cách đường giữa 4-5 cm. Tìm
niệu quản thì tìm chỗ niệu quản bắt chéo động mạch. Khi sỏi niệu quản
vượt qua chỗ bắt chéo động mạch cũng khó khăn, và có thể nhìn thấy
động mạch đập qua thành niệu quản. Đây là chỗ hẹp thứ 2 của niệu quản
mà sỏi hay dừng lại và đối chiếu lên thành bụng chính là điểm niệu quản
giữa.
- Đoạn chậu hông: dài 13-14 cm, bắt đầu từ eo trên xương chậu tới
bàng quang, nằm sát vào thành bên của chậu hông.
Ở nam giới: niệu quản chạy phía trước trực tràng, lách giữa bàng

sỏi ở vị trí nào thì gọi tên theo vị trí đó.
Sỏi niệu quản 1/3 trên: Sỏi nằm ở đoạn niệu quản từ khúc nối bể thận
- niệu quản đến đường ngang của liên đốt sống L5 - S1.
Sỏi niệu quản 1/3 giữa: sỏi nằm ở đoạn niệu quản từ đường ngang
của liên đốt sống L5 - S1 đến cuối khe khớp cùng - chậu.
Sỏi niệu quản 1/3 dưới: sỏi nằm ở đoạn niệu quản từ cuối khe khớp
cùng - chậu đến lỗ sáo niệu quản ( đổ vào bàng quang).
1.1.1.2. Cấu trúc niệu quản
Thành niệu quản dày ~ 1 mm có cấu trúc gồm 3 lớp:
Lớp niêm mạc: lớp này liên tục với niêm mạc bể thận ở trên và
niêm mạc bàng quang ở dưới, lớp này được phân tầng đa dạng có khả
năng chống lại môi trường toan của nước tiểu.


6
Lớp cơ: gồm 3 lớp, lớp trong là cơ dọc, lớp giữa là lớp cơ vòng, lớp
ngoài thô sơ và có vài cơ dọc.
Lớp bao ngoài: là lớp vỏ, có nhiều mạnh máu nối tiếp nhau và một
số tế bào hạch chi phối hoạt động của niệu quản.
1.1.1.3. Mạch máu và thần kinh niệu quản
- Mạch máu niệu quản: niệu quản được cung cấp từ nhiều nguồn.
+ Niệu quản 1/3 trên: nhận máu từ nhánh bên của động mạch thận.
+ Niệu quản 1/3 giữa: nhận máu từ nhánh nhỏ của động mạch chủ
bụng.
+ Niệu quản 1/3 dưới: nhận máu từ nhánh động mạch bàng quang và
động mạch trực tràng giữa.
- Tĩnh mạch: hệ thống tĩnh mạch đổ vào tĩnh mạch chậu, tĩnh mạch
thận.
Mạch máu niệu quản tạo thành mạng lưới liên tục chạy dọc niệu
quản. Khi phẫu thuật làm tổn thương lớp thanh mạc quá dài, gây tổn

- Đoạn chậu hông: 40-50 cm H2O.
Co bóp của niệu quản là động lực đẩy nước tiểu từ bể thận xuống
bàng quang,đồng thời có tác dụng chống trào ngược nước tiểu từ bàng
quang lên thận [22].
1.1.2.2. Trương lực cơ của niệu quản
Sự hoạt động nhịp nhàng di chuyển nước tiểu trong ống dẫn nước
tiểu theo từng cung đoạn từ ống góp tới đài thận, rồi bể thận và từng đoạn
niệu quản là nhờ sự vận động của hệ thống co thắt và các thớ cơ tạo nên
thành ống tiết niệu, trong điều kiện bình thường, hoạt động này còn phụ
thuộc vào điều kiện bàng quang đầy nước tiểu hay rỗng, cũng như trên
đường tiết niệu có bị cản trở hay không. Khi bàng quang đầy nước tiểu,
trương lực cơ ở thành niệu quản bể thận và đài thận giảm hơn, khẩu kính
ống dẫn lớn hơn và nước tiểu ứ đọng hơn. Các hoạt động co bóp của các


8
cơ sẽ có thể giảm tần số nhưng mạnh hơn để đẩy nước tiểu. Trong trường
hợp này cũng xảy ra khi trên đường niệu quản có vật cản (như sỏi chẳng
hạn) làm cho sự co bóp nhịp nhàng sẽ thay đổi. khi bàng quang đã hết
nước tiểu hoặc vật cản mất đi, hoạt động sinh lý trở lại bình thường.
Ngược lại, nếu vật cản (sỏi) vẫn tồn tại, khi áp lực cần thiết để đẩy nước
tiểu xuống quá cao, nước tiểu phía trên bị ứ đọng, hoạt động co thắt giữa
các đoạn giảm, trương lực cơ giảm sút và nếu vật cản (sỏi) bít tắc hoàn
toàn đường tiết niệu thì trương lực cơ càng mất đi và dần dần sự hoạt
động co bóp của các cơ thành ống dẫn mất hẳn, đường ống dẫn niệu giãn
và mất trương lực. Hiện tượng này có thể phục hồi nếu nguyên nhân ứ tắc
được giải quyết sớm.
1.2. BỆNH LÝ SỎI NIỆU QUẢN
1.2.1. Các nguyên nhân và yếu tố thuận lợi cho sự hình thành sỏi
Sự hình thành sỏi không phải do 1 bệnh đặc biệt mà là biến chứng

pyrophosphate, xitrat, mucopolisaccarit, magie…Trên thực tế, các thuyết
này bổ sung cho nhau như các thí nghiệm về tinh thể học đã chứng minh.
1.2.3. Thành phần hóa học của sỏi
Trong sỏi có 90% trọng lượng là tinh thể, còn lại 10% gồm nước
5%, protein 3 % và sau cùng là các yếu tố vi lượng khác như cacbonnat,
xitrat, kim loại kiềm, flo…[2].
Có nhiều cách phân tích thành phần sỏi như: phương pháp hóa học,
phương pháp phổ Raman, phương pháp nhiễu xạ tia X phương pháp nhiệt
vi sai, phương pháp kỹ thuật hạt nhân, phương pháp phổ quang hồng ngoại
(IR = Infrarouge). Nhưng dù dùng phương pháp nào, các tác giả đều thống
nhất 5 nhóm loại:
- Sỏi Calcium oxalate: Là loại sỏi hay gặp nhất, chiếm 60-90 % các
loại sỏi, có màu vàng hay đen, rất rắn, cản quang, bề mặt xù xì có nhiều
gai, hay gặp ở nam giới [2], [35].
- Sỏi Calcium phosphate: Dưới dạng apatite và brushite, màu trắng,
có nhiều lớp đồng tâm, cản quang, dễ vỡ khi tán, gặp ở cả 2 giới có tỉ lệ
như nhau [2].


10
- Sỏi Struvite: Magnesium amonium phosphate, gặp khoảng 5-15%
các loại sỏi, phát triển nhanh thành sỏi to, sỏi san hô, màu trắng ngà, hay
gặp ở phụ nữ, hình thành do nhiễm khuẩn đặc biệt do vi khuẩn proteus.
- Sỏi Uric: Chiếm 6% các loại sỏi, có màu nâu, rất rắn, không cản
quang, thường gặp ở nam giới và người cao tuổi.
- Sỏi Cystine: Chiếm 1-2 % có màu trắng ngà, rắn, ít cản quang,
thường gặp ở người trẻ, ít gặp ở Việt Nam [2].
Trên thực tế, các thành phần này thường phối hợp với nhau để cấu
tạo thành sỏi hỗn hợp [2].
1.2.4. Sinh lý bệnh sỏi niệu quản

+ Giãn đài bể thận, phá huỷ nhu mô thận.
+ Trào ngược nước tiểu vào hệ bạch huyết và tĩnh mạch ở tổ chức
khe thận, dẫn tới viêm thận kẽ.
- Cơ chế viêm và nhiễm khuẩn: thực tế lâm sàng khó phân biệt giữa
nhiễm khuẩn tiết niệu dẫn tới sỏi hay sỏi tiết niệu gây biến chứng nhiễm
khuẩn niệu, nhưng đó là 2 quá trình cùng tác động qua lại để phát triển và
thường gọi chung là nhiễm khuẩn niệu trên bệnh nhân sỏi tiết niệu.
- Cơ chế xơ hoá: viêm và nhiễm khuẩn sẽ dẫn đến xơ hoá ngay tại
thành niệu quản xung quanh, làm hẹp niệu quản làm cho ứ đọng tăng lên,
gây ra 1 vòng bệnh lý liên quan.
1.3. CHẨN ĐOÁN SỎI NIỆU QUẢN
1.3.1. Triệu chứng lâm sàng
- Triệu chứng cơ năng:
+ Cơn đau quặn thận dữ dội: Cơn đau quặn điển hình biểu hiện sỏi
đang di chuyển trong niệu quản gây co thắt niệu quản. Đau thành từng cơn
dữ dội vùng thắt lưng vài phút, có khi hàng giờ [19]. Thường đau lan rõ rệt:
sỏi ở 1/3 trên niệu quản sẽ đau lan dọc xuống tinh hoàn cùng bên, sỏi ở 1/3
giữa đau lan xuống hố chậu, còn sỏi ở 1/3 dưới đau lan xuống bìu [25].
+ Đau âm ỉ vùng thắt lưng: Khi có hiện tượng ứ đọng ở niệu quản
hoặc khi lao động nặng, vận động nhiều.


12
+ Đái máu đại thể hoặc vi thể: Triệu chứng đái máu đại thể gặp
khoảng 60% [25].
+ Đái rắt, đái buốt: Khi sỏi niệu quản gần bàng quang gây kích thích.
+ Đái đục: Khi sỏi niệu quản gây biến chứng nhiễm khuẩn, viêm
đường tiết niệu trên [2].
- Triệu chứng thực thể:
+ Cơn đau sỏi niệu quản: Đau co cứng cơ thắt lưng, bụng trướng, ấn

đoán sỏi niệu quản. Sỏi niệu quản được xác định bằng hình ảnh tăng âm
kèm theo bóng cản trên đường đi niệu quản. Giúp phát hiện vị trí, kích
thước sỏi và mức độ giãn các đài - bể thận [2], [7].
Siêu âm thuận lợi cho chẩn đoán bệnh nhân có thai, có thể chẩn đoán
sỏi không cản quang. Trong một số trường hợp đau bụng cấp, siêu âm phát
hiện sỏi niệu quản phân biệt với viêm ruột thừa, viêm đại tràng, viêm phần
phụ...
- Nội soi bàng quang - niệu quản: Giúp phát hiện các sỏi niệu quản
ở nội thành bàng quang, nhất là sỏi nằm ngay lỗ niệu quản hoặc sỏi không
cản quang [2].
- CT. scanner: Cho phép đánh giá chính xác số lượng, kích thước, vị
trí sỏi và có hay không mức độ ứ nước thận, niệu quản. Hơn nữa chụp cắt
lớp đa lát cắt giúp xác định tính dễ vỡ và thành phần của sỏi nhờ độ đậm và
đặc tính cấu trúc sỏi. Một ưu điểm của CT. scanner là giúp phát hiện bất
thường hệ tiết niệu như là dị dạng bẩm sinh, áp xe thận, u thận…[2], [7].
Nói chung, việc chẩn đoán sỏi niệu quản chủ yếu dựa vào siêu âm,
chụp X quang hệ tiết niệu không chuẩn bị và UIV. Các phương pháp khác
như nội soi bàng quang - niệu quản, CT. scanner chỉ dùng trong những
trường hợp mà các phương pháp trên gặp khó khăn.
1.3.3. Các biến chứng chính của sỏi niệu quản
Các biến chứng hay gặp là viêm - nhiễm khuẩn (viêm thận bể thận,
viêm thận kẽ), ứ đọng nước tiểu - nhiễm khuẩn (thận ứ nước, thận ứ mủ) và
thiểu niệu - vô niệu (suy thận cấp, suy thận mạn tính).
- Nhiễm khuẩn:


14
Sỏi NQ là một dị vật đường tiết niệu, làm cản trở lưu thông, ứ đọng,
nhiễm khuẩn đường tiết niệu. Sỏi ở càng lâu, càng gây tỷ lệ nhiễm khuẩn
cao, nhất là viêm đài bể thận - NQ trên chỗ tắc của viên sỏi. Bệnh nhân

phóng niệu quản kịp thời, hay gặp ở sỏi niệu quản hai bên hoặc trên thận
độc nhất. Về lâm sàng, do thận đã bị mất chức năng hoặc thực thể nên khả
năng bài tiết của thận suy giảm nhiều hoặc mất hoàn toàn. Các chất độc
không được thải ra ngoài gây nhiễm độc cơ thể, hậu quả là tử vong.
1.4. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ SỎI NIỆU QUẢN
1.4.1. Điều trị nội khoa
Từ thời cổ đại, con người đã biết dùng nhiều loại thảo mộc để điều
trị bệnh sỏi tiết niệu.
Trước đây, Mulavaney, Henving đã dùng Renacidin bơm vào niệu
quản làm tan sỏi photphat canxi hay amoni – magic photphat, tuy nhiên có
một số biến chứng do Renacidin gây tổn thương mô niệu quản nên phương
pháp này không được các tác giả chấp nhận.
Năm 1980 YoShimasa Hayase…đã làm tan được sỏi systin khi bơm
rửa bằng dung dịch Tiopromin.
Nói chung điều trị nội khoa phải căn cứ vào nguyên nhân gây sỏi,
vào từng loại sỏi và theo nguyên tắc:
Chống đau: chống đau quặn thận, đau lưng do sỏi có thể dùng các
thuốc chống co thắt niệu quản như Buscopan, Spamaverin.
Thuốc lợi tiểu nên dùng các thuốc lợi tiểu nhẹ nhóm
Hydrochrothiazide, Orthosiphene…kèm theo Vitamin B6, B1
Tại Việt Nam ngoài các bài thuốc bằng tây y còn có các bài thuốc
Đông y theo y học cổ truyền như râu ngô, rễ cỏ tranh …trong đó có kim
tiền thảo là vị thuốc được Xí nghiệp dược trung ương 24 sản xuất dưới
dạng viên để bán rộng rãi.
Năm 2010, Hà Hoàng Kiệm đã nghiên cứu tác dụng điều trị sỏi tiết
niệu bằng nước hãm nụ vối, kết quả bệnh nhân không còn sỏi sau 6 tháng
điều trị là 43,47% [20].


16


17
trong và sau thủ thuật, kim chọc vào cơ quan lân cận, nhiễm khuẩn đường
tiết niệu, nhiễm khuẩn máu, rò nước tiểu sau thủ thuật, sót sỏi.
Những năm đầu thập kỷ 80 phương pháp lấy sỏi thận và sỏi niệu quản
1/3 trên gần bể thận qua da được sử dụng nhiều. Từ năm 1984 trở lại đây
do tính chất phức tạp và các biến chứng của thủ thuật kết hợp với sự phát
triển của tán sỏi ngoài cơ thể, nhất là tán sỏi nội soi ngược dòng nên chỉ
định của phương pháp lấy sỏi tiết niệu qua da hạn chế hơn nhường chỗ cho
những thủ thuật có ít tai biến, hoặc tai biến nhẹ hơn.
1.4.4. Tán sỏi ngoài cơ thể
Phương pháp tán sỏi ngoài cơ thể là một thủ thuật không xâm lấn
nhằm làm tan sỏi từ xa, không phải can thiệp phẫu thuật.
Từ năm 1974 đến năm 1980, E. Schmeidt và cộng sự hợp tác với
hãng Donier để cho ra đời máy tán sỏi ngoài cơ thể, trường hợp tán sỏi đầu
tiên vào năm 1980, sau đó Chaussy (1982) báo cáo 206 trường hợp tán sỏi
được đánh giá là một thành tựu khoa học điều trị bệnh sỏi tiết niệu. Tán sỏi
ngoài cơ thể là phương pháp can thiệp không xâm hại, ít đau, sỏi được tán
vụn thành nhiều mảnh nhỏ và các mảnh sỏi nhỏ này di chuyển trong nước
tiểu và đái ra ngoài trong những ngày tiếp theo.
Chỉ định: Các loại sỏi ở thận, niệu quản, bàng quang có đường kính
 2cm tính theo chiều dài trục của sỏi.

Chống chỉ định: Phụ nữ có thai, u thận, nhiễm khuẩn tiết niệu, rối
loạn đông máu, thận mất chức năng, biến dạng về xương, cột sống, dị dạng
đường tiết niệu...
Nhược điểm của phương pháp này là sỏi vỡ vụn trong quá trình di
chuyển xuống bàng quang có thể mắc lại tại niệu quản tạo thành một chuỗi
sỏi vụn, có khi phải kết hợp với tán sỏi niệu quản nội soi để gắp sỏi vụn.
Hiện nay, đây là phương pháp được áp dụng phổ biến ở nhiều nước

chẩn đoán niệu quản 1/3 dưới cho phụ nữ bằng ống soi bàng quang trẻ em
cỡ 9,5 F. Chiều dài ống soi hạn chế đã không thể thực hiện soi niệu quản
cho nam giới. Đến năm 1979, Lyon cùng với Richard Wolf đã cho ra đời
ống soi có chiều dài 23 cm, đường kính 13 F đến 16 F, cho phép đưa ống


19
soi lên niệu quản cả nam và nữ. Sau đó Karl Stort và Richard Wolf đã cho
ra đời ống soi cứng dài 40 cm, đường kính 9 F đến 11 F bắt đầu đánh dấu
cho sự ra đời và phát triển của ống soi niệu quản bể thận hiện đại như ngày
nay, cho phép soi được đường tiết niệu trên.
Từ những năm 80 của thế kỷ XX, ống soi được cải tiến từng bước và
cho ra đời ống soi có kích thước nhỏ từ 6,9 F đến 9,4 F, ống soi bán cứng,
giúp dễ dàng hơn khi đưa ống soi lên đường tiết niệu trên, ít tổn thương
niệu quản, bệnh nhân ít đau. Cũng năm 1980, Perez Castro và Martinez
Piniero là hai tác giả đầu tiên soi niệu quản lấy sỏi bằng ống soi niệu quản
cứng 11F.
1.5.2. Chỉ định và chống chỉ định tán sỏi niệu quản nội soi
- Chỉ định tán sỏi niệu quản qua nội soi.
Theo Patric Spirmark J (1991) không có một chỉ định cứng
nhắc cho tất cả các trường hợp mà chỉ định tán sỏi niệu quản qua nội soi
niệu quản phụ thuộc vào nhiều yếu tố: vị trí, kích thước , thành phần hoá
học của sỏi, phụ thuộc vào kinh nghiệm của phẫu thuật viên, vào phương
tiện tại cơ sở như máy tán sỏi, các dụng cụ và một êkíp tán sỏi...
Trước đây, tán sỏi niệu quản chỉ thực hiện cho những bệnh nhân có
sỏi niệu quản nhỏ, vị trí 1/3 dưới. Nhờ sự phát triển của ống soi niệu quản
cỡ nhỏ và ống soi mềm, kết hợp với khả năng tán sỏi hiệu quả của các các
nguồn năng lượng như siêu âm, thủy điện lực, laser…cho phép tán sỏi niệu
quản kích thước lớn hơn, ở bất kì vị trí nào của niệu quản.
Theo Hội Tiết Niệu Mỹ (American Urologic Association, AUA)

1.5.3. Dụng cụ
1.5.3.1. Ống soi niệu quản
- Ống soi cứng (rigid ureteroscope): Ống soi có kích thước từ 10,5 F
đến 13 F, góc quan sát từ 0o đến 7o, chiều dài ống soi lên được bể thận.
- Ống soi bán cứng (semi-rigid ureteroscope): Ống soi được cấu tạo
bằng các sợi quang học và vỏ của ống dẫn làm bằng kim loại bán cứng, có
thể bẻ cong nhưng không làm ảnh hưởng đến chất lượng hình ảnh. Kích


21
thước ống soi thay đổi từ 6 F đến 10 F ở phần đỉnh ống. Phần thân ống to
dần từ 7,8 F đến 14,5 F. Có thể có 2 kênh dụng cụ.
- Ống soi mềm (Flexible ureteroscope): Kích thước ống thay đổi từ 4,9
F đến 11 F ở phần đỉnh ống, phần thân ống to dần từ 5,8 F đến 11 F. Chiều
dài ống thay đổi từ 54 cm đến 70 cm. Đa số các ống soi mềm chỉ có một
kênh thao tác 1,5 F đến 4,5 F. Đầu ống có thể uốn cong chủ động từ 120o
đến 270o
1.5.3.2. Nguồn năng lượng tán sỏi
- Sóng thủy điện lực (Eleotro - Hydraulic, EHL): Năm 1960,
Iukin kỹ sư người Nga đã chế ra máy Urate.1 dùng để phá sỏi.
Nguyên lý của máy dựa trên sóng thuỷ-điện lực (ElectroHydraulique) tạo ra xung động sóng để làm tan sỏi. Phương pháp này
nhanh chóng được áp dụng và phổ biến rộng rãi. Đã có nhiều báo cáo kết
quả điều trị sỏi niệu quản dưới bằng cách tán sỏi bằng sóng thuỷ- điện
lực. Theo Robert.T; Drianno N (1997) đã báo cáo tán sỏi niệu quản qua
nội soi cho 18 trường hợp bằng phương pháp thuỷ- điện lực đạt kết quả
thành công 89%.
Ưu điểm là có thể sử dụng được cho ống soi cứng và ống soi mềm,
kích thước điện cực được cải tiến nhỏ dần cho phù hợp với ống soi từ 1,6 F
đến 5,0 F, giá của thiết bị rẻ hơn tán sỏi bằng laser.
Nhược điểm là nguy cơ cao tiềm tàng tổn thương niêm mạc niệu quản.

có tác dụng làm mát đầu rò.
- Laser: Phương pháp sử dụng năng lượng laser tán sỏi, được giới
thiệu gần đây nhất (Watson và Wickham, 1986). Điện cực nhỏ và mềm (từ
200 đến 320 µm), có thể dùng cho ống soi niệu quản mềm, rất tốt cho sỏi
niệu quản cao và sỏi thận, an toàn cho niệu quản, thời gian tán nhanh, tán
được mọi loại sỏi.
Lần đầu tiên Mulvaney và Beck đã tán sỏi bằng ruby laser năm 1968
với nhược điểm là gây tổn thương các mô. Năm 1986 Watson và Wickham
đã báo cáo tán sỏi niệu quản bằng pulsed dye laser với bước sóng 504 nm.
Sau đó là Homium: YAG laser ra đời với bước sóng là 2100 nm, có thể tán


23
được mọi cấu trúc sỏi, sỏi di chuyển, hiệu quả, năng lượng laser có thể
khoan thủng từng phần viên sỏi. Theo nghiên cứu in vitro năng lượng laser
khác nhau cho từng loại sỏi: sỏi struvite cần năng lượng là 2,8 J/mg, sỏi
acid uric là 4,8 J/mg, sỏi cystine là 5,8 J/mg và sỏi monohydrate cần năng
lượng tới 6 J/mg. Ánh sáng laser truyền qua sợi thạch anh tới sỏi, năng
lượng của laser được hấp thu bởi nước bên trong và trên bề mặt viên sỏi.
Khí plasma được hình thành trên bề mặt viên sỏi hấp thụ ánh sáng laser
truyền từ điện cực tới bề mặt viên sỏi và tạo nên sóng âm. Sóng này vượt
quá sức căng của viên sỏi và quá trình tan sỏi xảy ra, mọi loại sỏi đều có
thể tan, các mảnh sỏi vụn có thể < 0,5 cm. Tuy nhiên, homium laser cũng
có thể gây tổn thương thành niệu quản, theo nghiên cứu nó có thể gây bỏng
thành niệu quản sâu 0,5 cm, tùy theo cường độ laser mà tổn thương niệu
quản nhiều hay ít [66].
Tán sỏi bằng laser tỉ lệ thành công cao, có thể tán được sỏi to. Trở
ngại lớn nhất của tán sỏi bằng laser chính là giá thành cao.
1.5.3.3. Những dụng cụ khác
- Dây hướng dẫn (Guide wire): Dây dẫn giúp đặt ống soi vào niệu

quang tăng sáng truyền hình (C-arm), hệ thống màn hình, nguồn sáng lạnh.
1.5.4. Kết quả của phương pháp tán sỏi nội soi ngược dòng
Nhờ sự phát triển nhanh của các phương tiện chẩn đoán và điều trị
trong niệu khoa, đã được áp dụng trong điều trị sỏi niệu quản nên cho kết
quả hết sức khả quan, tỉ lệ tán sỏi thành công cao hơn. Worreuther (1992)
tán sỏi bằng thủy điện lực cho 82 bệnh nhân, trong đó 1/3 là sỏi niệu quản
đoạn trên, tỷ lệ thành công trên 90% [73]. Yang SSD, Hong JS (1996) tán
sỏi cho 43 bệnh nhân sỏi niệu quản 1/3 trên, tỷ lệ thành công 84%, sỏi lên
thận 14%, tổn thương nhẹ niệu quản 9% [75]. Sinan Sozen (2003) tổng kết
500 bệnh nhân tỷ lệ thành công 94,6% [67].
Shroff (1996) báo cáo kết quả tán sỏi bằng laser cho 100 bệnh nhân
kích thước sỏi trung bình 9 mm, tỷ lệ thành công 96 % đối với sỏi niệu
quản 1/3 dưới và 77% sỏi niệu quản 1/3 trên [66]. Soichi Mugiya và cộng


25
sự (2000) tán sỏi niệu quản bằng laser cho 54 bệnh nhân có kích thước sỏi
trung bình 24 mm cho kết quả thành công 88,9% [68].
Keeley (1999) tán sỏi bằng điện động lực (EKL) cho 56 bệnh nhân
sỏi niệu quản 1/3 dưới, tỉ lệ thành công là 80% sau lần tán đầu và 87% sau
lần tán thứ 2 [51].
Delvecchio F.C, Kuo R.L, Preminger G.M (1998) đã điều trị 21 bệnh
nhân bị sỏi niệu quản dưới và đạt kết quả tới 95% [42].
Menezes (2000) tỷ lệ thành công 86% khi tán sỏi 23 bệnh nhân bằng
điện động lực và 74% bằng xung hơi [59]. Satoshi Hamano (2000) tổng kết
1082 bệnh nhân tỷ lệ thành công 79%, 90,4%, 93,2% sỏi niệu quản trên,
giữa, dưới [64].
1.5.5. Các tai biến và biến chứng trong và sau tán sỏi
Mặc dù cho đến ngày nay nội soi tán sỏi niệu quản đã phát triển
nhiều về kĩ thuật cũng như trang thiết bị nhưng các tai biến và biến chứng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status