Định huớng nghề nghiệp cho sinh viên Công tác xã hội ở truờng Đại Học Sư Phạm Hà Nội - Pdf 34

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP KHOA
(Ghi theo các tiêu chuẩn chấm điểm công trình)

*Nhận xét, chấm điểm của giảng viên 1:
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
Điểm số:………

*Nhận xét, chấm điểm của giảng viên 2:
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
Điểm số: ………….
Kết luận của Hội đồng khoa học:
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………

Điểm số:……….

Chủ tịch Hội đồng Khoa học
(Ký tên)

CTXH
ĐH
SV
NXB
HS
GV
THPT

NVXH
DVXH
ĐHSPHN
TB-XH

Công tác xã hội
Đại học
Sinh viên
Nhà xuất bản
Học sinh
Giáo viên
Trung học phổ thông
Cao đẳng
Nhân viên xã hội
Dịch vụ xã hội
Đại học Sư phạm Hà Nội
Thương binh- Xã hội

MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn lựa đề tài
Lý do khoa học: Nghề nghiệp là một vấn đề quan trọng trong cuộc đời
mỗi con người. Việc có được nghề nghiệp phù hợp với năng lực, sở thích của

hệ thống xã hội, CTXH tương tác vào những điểm giữa con người với môi
trường của họ. Nhân quyền và Công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản
5


của nghề. Đây là lĩnh vực khoa học mới mẻ cần đi sâu vào tìm hiểu dưới
nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau.
Định hướng nghề nghiệp đối với mỗi cá nhân có ý nghĩa không chỉ với
bản thân cá nhân ấy mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với chất lượng nguồn
nhân lực của đất nước. Bởi định hướng nghề nghiệp chính xác sẽ giúp cá nhân
phát huy tối đa năng lực của bản thân, hứng thú với công việc. Nhờ đó, hiệu
quả công việc của họ được nâng cao. Đồng thời định hướng nghề nghiệp đúng
đắn sẽ giúp cá nhân đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực cho xã hội.
Lý do thực tiễn: Hiện nay rất nhiều trường ĐH, CĐ mở mã ngành đào tạo
ngành CTXH vì vậy việc lập kế hoạch, định hướng nghề nghiệp CTXH trong
tương lai một cách hiệu quả luôn đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong
việc tạo dựng một sự nghiệp thành công. Đã có rất nhiều các nghiên cứu về
định hướng nghề nghiệp, nhưng chỉ tập trung cho lứa tuổi THPT mà rất ít
quan tâm đến SV ĐH, CĐ, đặc biệt là ngành CTXH.
CTXH là một công việc còn khá mới mẻ ở Việt Nam, nhiều bạn SV học
ngành này còn không biết khi ra trường mình sẽ làm công việc cụ thể ra sao?
Những đơn vị nào tuyển nhân viên CTXH? Nhu cầu tìm việc làm của SV
ngành này rất cao và trong tương lai còn lớn hơn nữa nhưng gặp nhiều khó
khăn, nhất là những SV sau khi tốt nghiệp trở về những tỉnh thành xa như các
tỉnh miền núi, hải đảo.
Nhu cầu nhân lực ngành CTXH ở Việt Nam rất lớn nhưng do một số
nguyên nhân khách quan như đó là một ngành mới mẻ, đó là ngành ít được đề
cập đến, không được sự quan tâm nhiều của các cơ quan, tổ chức,…khiến các
bạn SV lầm tưởng rằng ngành mình học khó hoặc không có khả năng xin
việc, đặc biệt là đối với SV khoa CTXH – Trường ĐHSPHN, một trường

Các tác giả đều cho rằng có hai nguyên nhân dẫn đến sai lầm trong việc chọn
nghề. Thứ nhất, đa số HS chưa có quan niệm rõ ràng về nghề, nên không thể
định hướng đúng đắn các nghề. Các em không biết những yêu cầu của một
nghề nào đó đề ra cho bản thân về phảm chất và năng lực. Thứ hai, đa số HS
không biết xác định một cách khách quan nghề nghiệp của mình.
Nguyên lý trắc nghiệm định hướng nghề nghiệp của John Holland. Bài
7


trắc nghiệm nghề nghiệp của Tiến sĩ tâm lý học John Holland (Hoa Kì)
nghiên cứu trong 40 năm được Bộ Lao động Mỹ sử dụng rộng rãi trong các
trường ĐH. Hiện nay ở châu Âu và châu Á, rất nhiều trường ĐH đã sử dụng
công trình của John Holland để xây dựng bộ test cho HS quan tâm đến trường
mình và cho SV tìm việc làm phù hợp sau khi tốt nghiệp. Cùng với MBTI,
đây là 2 bài trắc nghiệm phổ biến và chính xác nhất hiện nay trên thế giới. Bài
trắc nghiệm nghề nghiệp này nhằm giúp cho HS tự khám phá bản thân mình
trước khi ghi nguyện vọng dự thi vào trường ĐH, CĐ. Bài trắc nghiệm này
giúp tự phát hiện các kiểu người trội nhất đang tiềm ẩn trong con người mình
để tự định hướng khi lựa chọn nghề.
Tác giả M.S. Naymatk [26,tr42] cho rằng: “Thanh niên hãy còn biết rất ít
cả những thuộc tính thực tế của những nghề nghiệp hấp dẫn họ và cả những
yêu cầu mà nghề đó đề ra cho người lao động lẫn những khả năng tiềm tàng
của bản thân mình".
Như vậy, xung quanh vấn đề nghề nghiệp đã có rất nhiều tác giả nước
ngoài quan tâm và nghiên cứu.
2.2 Một vài nghiên cứu ở Việt Nam
Đảng và Nhà nước ta cũng rất quan tâm đến công tác hướng nghiệp, điều
đó thể hiện ở các nghị quyết, văn kiện của Đảng và Nhà nước như Nghị định
126/CP ngày 19/03/1981 của Chính phủ về công tác hướng nghiệp trong
THPT và việc sử dụng hợp lý HS các cấp trung học cơ sở và THPT tốt nghiệp ra

sai lầm của việc định hướng nghề nghiệp của các em HS phổ thông và từ đó
đưa ra những phương pháp giúp các em tự nhân định năng lực của mình, để
có một nghề nghiệp đúng đắn.
Trong lĩnh vực lý luận và thực tiễn công tác hướng nghiệp cho HS phổ
thông Việt Nam còn gắn liền với công trình nghiên cứu của tác giả Đoàn Chi
“Sinh hoạt hướng nghiệp”[5,6,7]; Nguyễn Văn Hộ “Thiết lập và phát triển hệ
thống hướng nghiệp”; Lê Anh Hoài “Tâm lí chọn nghề của các tú tài trong
thời đất nước mở của”; Lê Vĩnh Phúc “Tuổi trẻ và hướng nghiệp”; Đặng
Danh Ánh “Một số vấn đề tâm lý giáo dục hướng nghiệp”;…Những công
trình nghiên cứu này đã chỉ ra được một số vấn đề như: bản chất, nhiệm vụ,
9


mục đích và vai trò của công tác hướng nghiệp.
Như vậy, một số công trình nghiên cứu ở Việt Nam đã quan tâm đến lĩnh
vực nghề nghiệp như xu hướng chọn nghề, hứng thú nghề, nhận thức nghề,…
Song vấn đề nghề nghiệp bao giờ cũng vận động và phát triển không ngừng,
chính vì vậy việc nghiên cứu vấn đề này luôn có tính mới mẻ.
Trường ĐHSPHN cũng đã có rất nhiều Công trình nghiên cứu của nhiều
thạc sĩ tâm lý học về vấn đề này như: Tác giả Nguyễn Đức Chữ “Một số vấn
đề tâm lý- xã hội ảnh hưởng đến việc học tập và rèn luyện nghề của sinh viên
trường ĐH Lao động- Xã hội”, Tác giả Trần Thị Liên “Nhu cầu thành đạt trong
học tập, nghề nghiệp của sinh viên”, Tác giả Lê Trọng Phong “Nhận thức giá trị
nghề của sinh viên Trường ĐH Sư Phạm Kỹ thuật Vinh”, “Nay đi học, mai làm
gì?” của tác giả E.A Klimov, … nhưng chưa có nghiên cứu nào đề cập đến việc
định hướng nghề nghiệp cho SV CTXH - một ngành mới của trường.
Thông qua lịch sử nghiên cứu vấn đề ở trên thế giới và Việt Nam, có thể
nhận thấy đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề nghề nghiệp như
xu hướng chọn nghề, định hướng nghề,… Nhưng lại chưa có tác giả nào
nghiên cứu về CTXH, một ngành đã phát triển lâu đời trên thế giới và đối với

Các phương pháp được sử dụng chủ yếu cho việc nghiên cứu đề tài này là:
-Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Điều tra thực trạng định hướng nghề
nghiệp của SV.
-Phương pháp phỏng vấn sâu những SV từ năm thứ 1 – năm thứ 4 đang
học ở trường, những SV đã tốt nghiệp đang đi làm.
-Phương pháp phân tích tài liệu: Hiểu rõ và sâu hơn về vấn đề nghiên cứu.
Chọn lọc những thông tin chính xác để phục vụ đề tài và cung cấp những khái
niệm công cụ cho đề tài.
7.Nội dung nghiên cứu
Các vấn đề lý luận về nghề nghiệp và sự định hướng nghề nghiệp của SV
CTXH – ĐHSPHN.
Thực trạng định hướng nghề nghiệp và đưa ra đề xuất giúp nâng cao định
hướng nghề nghiệp cho SV CTXH – ĐHSPHN.
8. Ý nghĩa và đóng góp của đề tài
* Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa khoa học
Đề tài “Định hướng nghề nghiệp cho sinh viên Công tác xã hội ở Trường
11


Đại học Sư phạm Hà Nội” mong muốn tìm hiểu nhận thức nghề nghiệp và
nâng cao định hướng của SV về nghề nghiệp mà mình đã lựa chọn và nghề
nghiệp trong tương lai cùng với những yếu tố tác động đến nhận thức đúng
đắn của SV. Việc thực hiện nghiên cứu đề tài giúp nhóm tác giả bước đầu làm
quen với phương pháp nghiên cứu khoa học, từ đó rèn luyện cho mình
phương pháp tư duy khoa học. Nâng cao nhận thức của mình về nghề nghiệp
CTXH. Qua kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả muốn đóng góp một phần nhỏ
bé của mình vào việc làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về định hướng nghề
nghiệp CTXH ở Việt Nam, những ảnh hưởng của việc định hướng tới việc
học tập và rèn luyện nghề của SV CTXH. Đồng thời, nhóm tác giả muốn

pháp nhất định truyền cảm hứng, giúp SV nhận thức rõ ràng về nghề, hình
thành lòng yêu nghề ở SV.
Đề tài cũng đóng góp cho hệ thống kiến thức nghề nghiệp CTXH của
Khoa CTXH – ĐHSPHN. Đề tài có những đóng góp nhất định về các biện
pháp, cách thức để Khoa và Nhà trường có thể thực hiện tăng cường định
hướng nghề nghiệp cho SV CTXH - một khoa mới thành lập của trường.
Không chỉ đối với SV CTXH- ĐHSPHN mà còn đối với các trường đào
tạo ngành CTXH khác, đề tài nghiên cứu giúp ích cho SV CTXH ở các
trường khác tăng cường định hướng nghề nghiệp cho bản thân từ việc nhìn
nhận thuận lợi và khó khăn của định hướng nghề CTXH. Bổ sung thêm kiến
thức cho SV CTXH về nghề nghiệp đang theo học, đề tài có thể được sử dụng
làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu có liên quan.

13


10.Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài bao
gồm 3 chương:
Chương I: Một số vấn đề lý luận về Công tác xã hội và định hướng nghề
nghiệp của sinh viên.
Chương II: Thực trạng định hướng nghề nghiệp của sinh viên Công tác xã
hội Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
Chương III: Một số đề xuất nhằm tăng cường định hướng nghề cho sinh
viên Công tác xã hội Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

14


NỘI DUNG

Trung quốc đã đưa ra định nghĩa: “Công tác xã hội là một sự nghiệp và môn
khoa học chuyên ngành của nhà nước và xã hội để giải quyết và dự phòng
15


những vấn đề nảy sinh do thành viên xã hội thiếu khả năng thích ứng với cuộc
sống xã hội hay mất thăng bằng chức năng xã hội. Tính năng của nó là điều
chỉnh quan hệ xã hội, cải thiện chế độ xã hội, đẩy mạnh xây dựng xã hội, thúc
đẩy sự phát triển ổn định của xã hội thông qua phục vụ xã hội và quản lý xã
hội”.
Theo từ điển bách khoa ngành CTXH: “Công tác xã hội là một khoa học
ứng dụng nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của con người, tạo ra những
chuyển biến xã hội và đem lại nền an sinh cho người dân trong xã hội”.
Năm 2000, tại Đại hội Montreal, Liên đoàn CTXH chuyên nghiệp quốc tế
(IFSW) đã phát triển định nghĩa CTXH theo hướng tiếp cận mới: “Công tác
xã hội chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội, thúc đẩy việc giải quyết các
vấn đề trong các mối quan hệ con người và sự tăng quyền lực và giải phóng
người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ nhằm giúp cho cuộc sống của họ
ngày càng thoải mái và dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người
và hệ thống xã hội, Công tác xã hội can thiệp ở các điểm tương tác giữa con
người và môi trường của họ. Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên
tắc căn bản của nghề Công tác xã hội”.
Năm 2001, NXB thế giới cho xuất bản cuốn Từ điển xã hội học của hai tác
giả G.Endruweit và G.Tromsmdoorff, đã định nghĩ: “Công tác xã hội là một
dịch vụ đã chuyên môn hóa - một việc giúp đỡ có tính cá nhân để giải quyết
những vấn đề xã hội đặc biệt”.
Năm 2004, Liên đoàn CTXH chuyên nghiệp quốc tế họp ở Canada đã thảo
luận, bổ sung và đưa ra định nghĩa: “Công tác xã hội là hoạt động chuyên
nghiệp nhằm tạo ra sự thay đổi của xã hội, bằng sự tham gia vào quá trình giải
quyết các vấn đề xã hội (vấn đề nảy sinh trong mối quan hệ xã hội) vào quá

- Thứ nhất là đặc trưng về đối tượng trợ giúp
Đối tượng cần sự trợ giúp của CTXH rất đa dạng, có hoàn cảnh, trình độ
văn hóa, nhận thức, sinh sống ở nhiều vùng miền khác nhau. Có nhiều cách
phân loại khác nhau về đối tượng trợ giúp của CTXH theo các cách tiếp cận
khác nhau
+Theo nhóm đối tượng có hành vi lệch chuẩn: người nghiện ma túy, người
hành nghề mại dâm, người phạm pháp, người có vấn đề tâm sinh lý – tình dục

17


và các đối tượng tham gia tệ nạn xã hội khác.
+Theo nhóm lứa tuổi đặc thù: trẻ em, thanh niên, người cao tuổi.
+Theo cách tiếp cận là các tổ chức xã hội: tổ chức chính tị - xã hội, tổ chức
đoàn thể quần chúng, các cơ sở bảo trợ và trung tâm lao động trợ giúp, giải
quyết các vấn đề nảy sinh trong mối quan hệ gia đình, trường học, cơ quan,
công sở, đơn vị hành chính trong địa bàn dân cư.
+Theo cách tiếp cận lĩnh vực hoạt động xã hội: lĩnh vực hoạt động kinh tế
sản xuất kinh doanh, lĩnh vực văn hóa – xã hội, lĩnh vực chính trị - xã hội,
lĩnh vực pháp luật, y tế, giáo dục, dân số, môi trường, truyền thông, dân tộc,
tôn giáo, tín ngưỡng.
+Theo nhóm đối tượng thiệt thòi yếu thế: cá nhân, gia đình, nhóm xã hội
có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn về kinh tế, cộng đồng nghèo, kém phát triển,
người khuyết tật, trẻ em bị lạm dụng, bị xâm hại và xao nhãng, trẻ em mồ côi,
trẻ em lang thang và lao động sớm, nạn nhân thiên tai, bệnh tật hiểm nghèo,
chiến tranh, tai nạn, thương tích,…
+CTXH với đối tượng đặc biệt: người có HIV, gia đình và những người
liên quan đến người có HIV/AIDS, người mắc bệnh tâm thần, người phạm
trọng tội đã thành án chung thân hoặc tử hình,…
- Đặc trưng về công cụ tác nghiệp trợ giúp

một - một.
- Các phương pháp tác nghiệp của CTXH có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau
Phương pháp này cần thiết phải có sự tham gia, kết hợp với phương pháp
kia. Trong CTXH nhóm, cần thiết phải sử dụng các kỹ năng của CTXH cá
nhân để làm việc với từng thành viên của nhóm. CTXH nhóm cần tiếp cận cá
nhân trước rồi mới có thể làm việc nhóm. Trong phương pháp tổ chức và phát
triển cộng đồng, ban đầu phải tiếp xúc với nhóm.
3. Các phương pháp Công tác xã hội
Theo giáo trình Nhập môn CTXH của thầy Nguyễn Duy Nhiên Khoa
CTXH – ĐHSPHN. Có 5 phương pháp đặc trưng của CTXH. Đó là phương
pháp CTXH cá nhân; CTXH với nhóm; CTXH tổ chức và phát triển cộng
đồng; Tham vấn; Quản trị CTXH.
CTXH cá nhân là phương pháp khởi đầu, phương pháp can thiệp đầu tiên
và là một trong những phương pháp can thiệp chính thống có vai trò khởi đầu
quan trọng của nghề CTXH chuyên nghiệp. CTXH cá nhân là phương pháp
can thiệp để trợ giúp một cá nhân thoát khỏi những khó khăn trong đời sống
vật chất và tinh thần, chữa trị và phục hồi các chức năng xã hội của họ, giúp
19


họ tự nhận thức và giải quyết các vấn đề xã hội gặp phải bằng khả năng của
mình.
Ở Việt Nam, sự ra đời và phát triển CTXH vận động theo quy luật chung
của sự hình thành và phát triển CTXH trên thế giới: từ nhân đạo, từ thiện trở
thành khoa học, phương pháp trợ giúp xã hội và nghề nghiệp chuyên môn.
Đặc trưng của phương pháp CTXH cá nhân là phương pháp mà người làm
CTXH vận dụng lý thuyết, các cách tiếp cận, các kỹ năng chuyên nghiệp để
tác nghiệp với đối tượng dựa trên mối quan hệ trực tiếp, sự tương tác hai
chiều nhằm hỗ trợ đối tượng nhận diện vấn đề của mình, đánh giá tiềm năng,

CTXH nhóm.
+Giai đoạn 2: Thời kỳ hình thành cơ sở khoa học của CTXH nhóm (1930
– 1950). Từ hoạt động của các nhóm tình nguyện đã đặt ra yêu cầu hình thành
phương pháp chuyên nghiệp hơn cho các hoạt động đó, mở rộng và phát triển
hơn phương pháp CTXH cá nhân. Quá trình hoạt động lâu dài, đem lại những
giá trị tốt đẹp cho cộng đồng, xã hội, cải thiện cuộc sống, CTXH nhóm dần
dần định hình về phương pháp tác nghiệp và cơ sở khoa học. Những cơ sở
khoa học đó là nền tảng, định hướng, trang bị và rèn luyện phương pháp, kỹ
năng dựa trên hệ thống kiến thức, lý thuyết và những nguyên tắc xác định.
Những yếu tố này đã đặt nền móng và thúc đẩy khoa học về CTXH nhóm
phát triển mạnh mẽ ở giai đoạn tiếp theo.
+ Giai đoạn 3: Thời kỳ CTXH nhóm định hình và phát triển (từ những
năm 1950 đến nay). Việc xác lập cơ sở khoa học, sự thể hiện trong thực tiễn
và đặc biệt là sự công nhận của xã hội đối với phương pháp CTXH nhóm,
nhất là những khóa đào tạo, huấn luyện chuyên nghiệp là những nhân tố quyết
định đến vị trí, vai trò và sự phát triển của CTXH nhóm. Một số nước trên thế
giới đã chú trọng đến phương pháp CTXH nhóm vào ứng dụng rộng rãi trong
đời sống đối với việc tham gia góp phần giải quyết các vấn đề xã hội. Về hình
thức tiếp cận, CTXH nhóm được xây dựng theo bốn mô hình dựa trên nhu cầu
định hướng mục tiêu can thiệp, trợ giúp khác nhau, đó là mô hình phòng
chống và phục hồi, mô hình tương tác, mô hình các mục tiêu xã hội, mô hình
21


lồng ghép. CTXH nhóm ngày nay đóng vai trò quan trọng trong việc thực
hiện chức năng giải quyết vấn đề xã hội, và đang được ứng dụng rộng rãi phổ
biến ở hầu khắp các nước trên thế giới và ở nhiều lĩnh vực khác nhau .
CTXH nhóm là phương pháp mà người làm CTXH chỉ đóng vai trò là chất
xúc tác, hướng dẫn, tổ chức sinh hoạt nhóm để chính thành viên trong nhóm
có sự tương tác lẫn nhau và dùng mối quan hệ đó làm công cụ chính để nhận

những hành vi không phù hợp.
+Thuyết thực nghiệm xã hội giúp NVXH trong CTXH nhóm điều phối và
hỗ trợ nhóm đối tượng hiểu được những tương tác trong nhóm và chỉ ra đâu là
những yếu tố cốt lõi cần can thiệp. Sự tồn tại, hoạt động của nhóm phải được
xây dựng với tư cách một thực thể không thể tách rời với những hoạt động
tương tác, ảnh hưởng nhóm vào hỗ trợ các đối tượng thay đổi hành vi chưa tốt
sang hành vi tốt.
+Thuyết trao đổi xã hội ứng dụng trong CTXH nhóm là đưa ra quan điểm
thành viên trong nhóm quan hệ tương tác với nhau thông qua sự trao đổi và
dựa trên ý niệm về sự công bằng. Khi nhận thức được sức mạnh của lợi ích cá
nhân trong các cơ hội lựa chọn của đối tượng cũng như các hành vi của họ sẽ
tăng tính chính xác trong việc đánh giá, vì vậy tăng hiệu quả can thiệp.
Bên cạnh đó còn một số thuyết khác ứng dụng trong CTXH nhóm như
thuyết lãnh đạo, thuyết xung đột xã hội, thuyết vai trò.
CTXH tổ chức và phát triển cộng đồng với đối tượng tác nghiệp của
phuong pháp này là cộng đồng người, thường sinh sống trên địa bàn dân cư
có những đặc điểm kinh tế, xã hội, văn hóa tương đồng,.. có vấn đề xã hội.
Mục đích: Thông qua việc nhận diện vấn đề của cộng đồng, đánh giá
nguồn lực, khai thác và phát huy tiềm năng của cộng đồng từ đó tổ chức hoạt
động thực thi những chương trình hành động mang lại những chuyển biến tích
cực cho cộng đồng.
Phương pháp tác nghiệp tổ chức và phát triển cộng đồng là huy động
nguồn nội lực, có sự tham gia của nhà nước hoặc các nguồn lực hỗ trợ từ bên
ngoài, để cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư, tăng cường khả
23


năng tự lực của cộng đồng trong việc giải quyết vấn đề của mình. Khi thực
hiện phương pháp CTXH với cộng đồng, nhân viên phát triển cộng đồng xã
định vấn đề gặp phải, phân tích tìm ra nguyên nhân của những vấn đề xã hội



một thuật ngữ chỉ một hình thức lao động trong xã hội, mà ở đó con người sử
dụng sức lao động của mình để tạo ra những sản phẩm vật chất, phi vật chất cho
xã hội, mỗi cá nhân thông qua nghề của mình để duy trì sự tồn tại của cá nhân,
gia đình, đồng thời góp sức mình vào sự phát triển của xã hội.
Theo tác giả Nguyễn Quang Huỳnh: “Nghề là hoạt động lặp đi lặp lại của
người lao động nhằm hoàn thành những nhiệm vụ nhất định do sự phân công
lao động xã hội quy định” [16].
Theo GS.TSKH Nguyễn Văn Hộ: “Nghề nghiệp như là một dạng lao động
vừa mang tính xã hội (sự phân công lao động xã hội) vừa mang tính cá nhân
(nhu cầu bản thân), trong đó con người với tư cách là chủ thể hoạt động đòi
hỏi để thỏa mãn như cầu nhất định của xã hội và cá nhân” [21].
Theo E.A.Klimop “Nghề nghiệp là một lĩnh vực sử dụng sức lao động vật
chất, tinh thần của con người một cách có giới hạn cần thiết cho xã hội (do sự
phân công mà có) nó tạo ra kỹ năng cho người sử dụng lao động của mình để
thu lấy những phương tiện cần thiết cho sự tồn tại và phát triển”[8,tr10].
Nghề theo chữ Latinh (profession) có nghĩa là công việc chuyên môn được
hình thành một cách chính thống, là dạng lao động đòi hỏi một trình độ học
vấn nào đó, là hoạt động cơ bản giúp con người tồn tại.
Từ một số quan điểm về nghề nghiệp nêu trên, có thể hiểu ngắn gọn khái
niệm: Nghề nghiệp là hoạt động chủ yếu của con người, được đào tạo đặc biệt
có tính chuyên môn, ổn định, lâu dài và có thu nhập nhằm đảm bảo cho cuộc
sống của cá nhân và sự phát triển của xã hội.
Cùng với khái niệm nghề nghiệp là khái niệm việc làm. Việc làm Theo
TĐTV được hiểu là “cái phải làm, cái phải làm, cái phải lo đến, cái làm hàng
ngày để sinh sống” (25,tr1166). Theo TĐTV (Hoàng Phê chủ biên, NXB Khoa
học xã hội-1994): “Việc làm là công việc được giao cho làm và trả công”.
Trong Luật Lao động quy định tại điều 13: “Mọi hoạt động lao động tạo ra
nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhân là việc làm”.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status