QUẢN LÝ ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH ĐÁP ỨNG NHU CẦU CỦA THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG HIỆN NAY - Pdf 34

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
----------------

NGUYỄN VĂN CHUYỀN

QUẢN LÝ ĐÀO TẠO Ở
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH ĐÁP ỨNG
NHU CẦU CỦA THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG HIỆN NAY

Chuyên ngành : Quản lý giáo dục
Mã số

: 60 14 01 14

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Dương Hải Hưng

HÀ NỘI - 2014


LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong trường Đại học Sư
phạm Hà Nội, đặc biệt là giảng viên TS. Dương Hải Hưng là người trực
tiếp hướng dẫn em trong suốt quá trình làm luận văn. Nhờ sự giúp, dìu
dắt của thầy cô em đã học hỏi được những kiến thức cơ bản đáng quý
không những từ sách vở mà cả trong thực tế, từ đó giúp em tích luỹ được
những kinh nghiệm quý báu để tiếp tục bước chân trên con đường sự
nghiệp sau này.
Tuy nhiên do thời gian hạn hẹp, khả năng của tác giả có hạn mà

TCN
TTLĐ

Xin đọc là
Ban giám hiệu
Cao đẳng nghề
Cán bộ quản lý
Cán bộ giáo viên
Công nghiệp hoá
Cơ sở dạy nghề
Cao đẳng nghề
Chuyên môn kỹ thuật
Doanh nghiệp
Giáo dục và đào tạo
Giáo viên
Giáo viên dạy nghề
Hiện đại hoá
Học sinh, sinh viên
Lao động - Thương binh và Xã hội
Quản lý giáo dục
Sơ cấp nghề
Trung cấp nghề
Thị trường lao động


MỤC LỤC


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

và là thành tố quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định phát triển nguồn
nhân lực. Muốn có nguồn nhân lực chất lượng cao, có khả năng cạnh
tranh cao trên thị trường lao động, song song với các cơ chế chính sách
sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, cần phải tăng cường quản lý nâng
cao chất lượng giáo dục - đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng.
Nam Định là một tỉnh nằm ở phía nam đồng bằng Bắc Bộ, Việt
Nam. Theo quy hoạch năm 2008 thì Nam Định thuộc vùng duyên hải Bắc
Bộ, có tiềm năng về đất đai, lâm sản, khoáng sản và thế mạnh phát triển
kinh tế - xã hội. Với những điều kiện thuận lợi về địa lý gắn với vùng
nguyên liệu, trong những năm qua lĩnh vực công nghiệp đã và đang phát
triển nên nhu cầu về lực lượng lao động có tay nghề là rất lớn.
Trường Cao đẳng nghề Nam Định được thành lập theo Quyết định
số 1989/QĐ-LĐTBXH ngày 29 tháng 12 năm 2006 trên cơ sở nâng cấp
từ trường Trung học thủy lợi và phát triển nông thôn Nam Định . Là
trường đào tạo đa dạng về trình độ chuyên môn kỹ thuật ( từ Sơ cấp nghề,
Trung cấp nghề, Cao đẳng nghề) và đa dạng về ngành nghề. Với chức
năng nhiệm vụ đào tạo đội ngũ lao động kỹ thuật có tay nghề, chuyên
môn nghiệp vụ, có ý thức kỷ luật v.v... Trên thực tế trong những năm qua
và hiện nay trường Cao đẳng nghề Nam Định đã có nhiều đổi mới trong
công tác quản lý và đặt được nhiều thành tựu to lớn, nguồn nhân lực lao
động nhà trường đào tạo đã tăng cả về số lượng, chất lượng từng bước
đáp ứng được nhu cầu nhân lực qua đào tạo nghề cung cấp cho các doanh
nghiệp và thị trường lao động. Tuy nhiên, công tác đào tạo còn tồn tại
một số vấn đề như : Quá trình quản lý đào tạo nghề chưa đồng bộ về mục
tiêu, nội dung chương trình, đội ngũ giáo viên, số lượng tuyển sinh hằng
năm chưa đạt kế hoạch được giao, điều kiện cơ sở vật chất còn bất cập,
2


hạn chế nên chất lượng đào tạo nguồn nhân lực lao động còn chưa đáp

hiện nay, hoạt động đào tạo và công tác quản lý còn bộc lộ nhiều bất cập.
Nếu phân tích rõ cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý đào tạo của trường cao
đẳng nghề Nam Định thì có thể đề ra được các biện pháp quản lý phù
hợp, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng được nhu cầu của thị
trường lao động hiện nay ở địa phương và các vùng lân cận.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý hoạt động đào tạo nghề
trong các trường Cao đẳng nghề đáp ứng nhu cầu thị trường lao động .
5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng đào tạo và quản lý đào tạo ở
trường Cao đẳng nghề Nam Định đáp ứng nhu cầu thị trường lao động.
5.3 Đề xuất các biện pháp quản lý đào tạo đáp ứng nhu cầu của thị
trường lao động hiện nay ở trường Cao đẳng nghề Nam Định.
6. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
6.1. Về nội dung: Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về quản lý
giáo dục nói chung, vận dụng vào quản lý đào tạo nghề. Nghiên cứu,
đánh giá thực trạng công tác quản lý đào tạo, thực trạng các biện pháp
quản lý đào tạo, từ đó đề ra một số biện pháp quản lý đào tạo chủ yếu
nhằm nâng cao chất lượng dạy nghề tại trường Cao đẳng nghề Nam Định.
6.2. Về không gian nghiên cứu : Nghiên cứu được tiến hành tại
trường Cao đẳng nghề Nam Định. Khảo sát nhu cầu thị trường lao động ở
tỉnh Nam Định
6.3. Về thời gian: Nghiên cứu sử dụng số liệu thứ cấp thu thập
trong 3 năm, từ năm 2010 đến 2012, số liệu sơ cấp thu thập trong năm
2013, định hướng và các giải pháp đến năm 2020.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Các phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, so sánh, khái quát hóa, đánh giá tổng hợp các thông tin,
tài liệu để xác định cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý cho vấn đề nghiên cứu.
4




- Làm sáng tỏ khái niệm: quản lý đào tạo nghề theo hướng đáp ứng
nhu cầu thị trường lao động ;
- Xây dựng được nội dung quản lý đào tạo nghề và đào tạo nghề ở
trường Cao đẳng nghề Nam Định theo chu trình đào tạo đáp ứng nhu cầu
thị trường lao động. Làm rõ được các yếu tố ảnh hưởng đến công tác
quản lý đào tạo nghề ở trường cao đẳng nghề theo hướng đáp ứng nhu
cầu thị trường lao động hiện nay
Về thực tiễn :
- Đánh giá được thực trạng đào tạo nghề và quản lý đào tạo nghề
theo hướng đáp ứng nhu cầu thị trường lao động hiện nay ở trường cao
đẳng nghề Nam Định và các DN tại Nam Định và các tỉnh khu vực đồng
bằng Sông Hồng.
- Đề xuất được 6 giải pháp quản lý đào tạo ở trường cao đẳng nghề
Nam định theo hướng đáp ứng nhu cầu thị trường lao động có tính khả thi.
9. Dự kiến cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý đào tạo ở trường Cao đẳng
nghề đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động
Chương 2: Thực trạng quản lý đào tạo ở trường Cao đẳng nghề
Nam Định đáp ứng nhu cầu thị trường lao động
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động đào tạo ở trường Cao
đẳng nghề Nam Định theo hướng đáp ứng nhu cầu của thị trường lao
động .

6


CHƯƠNG 1

quyết mối quan hệ giữa lao động và việc làm trong mỗi quốc gia .
Về đào tạo theo "hướng cầu " gắn đào tạo với sử dụng với nhu cầu
của doanh nghiệp, với việc làm và nhu cầu của người học được nhiều
nước trên thế giới nghiên và cứu triển khai,thực hiện .
* Nghiên cứu về đào tạo nghề
Ở Hoa Kỳ các trường dạy nghề đã sớm sử dụng mô đun trong đào
tạo công nhân, đó là việc đào tạo bổ túc tức thời cho công nhân làm trong
các dây chuyền sản xuất ô tô của các hãng General Motor và Fordvaof
những năm 20 của thế kỷ trước . Để đáp ứng với các dây chuyền sản xuất
theo kiểu Taylor vốn thống trị thời bấy giờ , công nhân được đào tạo cấp
tốc trong các khóa học ngắn hạn theo mô đun. Học viên được làm quen
với mục tiêu công việc và được đào tạo ngay tại dây truyền với nội dung
không thừa, không thiếu nhằm đảm nhận được một công việc cụ thể trong
dây chuyền. khi có sự thuyên chuyển vị trí làm việc (nội dung làm việc
khác) ,người công dân phải qua một khóa học ngắn hạn tương tự . Giai
đoạn 1970, tiếp cận năng lực được hình thành và phát triển rộng khắp tại
Mỹ giáo dục và đào tạo nghề dựa trên việc thực hiện nhiệm vụ, các tiếp
cận về năng lực đó phát triển một cách mạnh mẽ trên một nấc thang mới.
Khuyến cáo chung của UNESCO và ILO [48], đã đề cập đến mối
quan hệ chặt chẽ giữa đào tạo, thế giới việc làm, giữa nhà trường và xã
hội. Tuy nhiên, đây chỉ là khuyến cáo chưa có giải pháp cụ thể.
ILO đã xuất bản cuốn sách “Mô đun kỹ năng hành nghề - Một
phương pháp tiếp cận trong đào tạo nghề” đề xuất đào tạo nghề theo Mô
đun kỹ năng hành nghề - MES (Module of Employable Skills) gắn với việc
làm và trên cơ sở đó, đã tổ chức biên soạn ngân hàng chương trình đào tạo
nghề theo KHM để phổ biến cho nhiều nước trên thế giới [49], [50].
UNESCO cũng đã xuất bản tác phẩm “Phát triển Mô đun cho Giáo
dục kỹ thuật và dạy nghề” [51].
8



* Quản lý đào tạo nghề theo năng lực thực hiện đáp ứng nhu cầu
các doanh nghiệp cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu như công trình
“Thiết kế chương trình đào tạo theo năng lực thực hiện”

của Bruce

Markenzie [56], công trình “Phát triển chương trình đào tạo nghề ngắn
hạn” của Doug Ledgerwood [57], công trình “Thiết kế đào tạo theo năng
lực thực hiện” của Fletcher S. [50], công trình “Chuẩn kỹ năng” của Viện
đào tạo Kỹ thuật của Úc [58]. Các công trình này đề lưu tâm đến việc đào
tạo theo năng lực với các chuẩn đầu ra để đáp ứng nhu cầu các doanh
nghiệp dưới tác động của tiến bộ khoa học công nghệ và của sản xuất.
* Quản lý đào tạo nghề trong cơ chế thị trường cũng đã có nhiều
công trình nghiên cứu của nhiều tác giả như: “Chiến lược quản lý đào tạo
ở các nước phát triển” của John E. Kerrigan and Jeff S. Luke [58],
“Quản lý đào tạo nghề đáng ứng nhu cầu thị trường lao động” và “Phát
triển nguồn nhân lực: mẫu hình, chính sách và thực tiễn” của R.Noonan
[59], [60], “Quản lý đào tạo và phát triển hệ thống” của William R. Tracey
[61]. Những công trình này đều đề cập đến quản lý đào tạo trong cơ chế thị
trường theo quy luật cung cầu và quản lý hệ thống đào tạo theo phương
pháp tiếp cận hiện đại gắn nhà trường với doanh nghiệp, với sản xuất, quản
lý đào tạo theo “hướng cầu” như: Đào tạo dựa trên nhu cầu của việc làm và
nhu cầu của người học trong cộng đồng; Tổ chức đào tạo linh hoạt; Quản lý
Giáo dục nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động, Những
công trình này cũng đề cập đến chất lượng và hiệu quả đào tạo trong cơ chế
thị trường, tính cơ động và quản lý trong môi trường luôn biến đổi.
Tóm lại, quản lý đào tạo tại các trường dạy nghề theo hướng đáp
ứng nhu cầu xã hội đã được các nhà khoa học ngoài nước đề cập đến. Tuy
nhiên, mỗi tác giả chỉ đề cập đến một số vấn đề quản lý đào tạo khác

cầu xã hội phải bắt đầu từ nhận thức.
Nghiên cứu về đào tạo nghề theo “hướng cầu” đã có một số công
trình như: “Đào tạo nhân lực đáp ứng nhu cầu CNH-HĐH, trong điều
11


kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế” của Nguyễn
Minh Đường, Phan Văn Kha [29], “Hoàn thiện đào tạo nghề tại xí
nghiệp”, báo cáo tổng kết đề tài cấp Bộ, mã số B91-38-07 của Trần
Khánh Đức, Nguyễn Lộc; “Mở rộng hình thức dạy nghề trong doanh
nghiệp” của Minh Hiền [30]; “Đào tạo nghề gắn kết giữa nhà trường và
doanh nghiệp” của Nguyễn Thị Minh Nguyệt [31]; “Một số giải pháp về
đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp” của Mạc Văn Tiến [32];
“Về đào tạo theo nhu cấu xã hội đối với các cơ sở đào tạo” của Đặng
Xuân Hải [33], “Cung – Cầu giáo dục” của Vũ Ngọc Hải [34], “Đào tạo
và sử dụng nhân lực trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” của Phan
Văn Kha [35], “giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân
lực” của Trần Khánh Đức [36], “Quan hệ giữa giáo dục và kinh tế thị
trường, tình hình ở một số nước” của Đặng Bá Lâm [37], Báo cáo đề tài
NCKH cấp Bộ “Các giải pháp liên kết giữa nhà trường với cơ sở sản
xuất nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo” của Nguyễn Xuân
Mai [38], “Giáo dục nghề nghiệp trong nền kinh tế thị trường và hội
nhập quốc tế” của Phan Văn Nhân [39],... Những công trình này đã đề
cập đến sự cần thiết phải đào tạo theo “hướng cầu” đề đáp ứng nhu cầu
doanh nghiệp trong cơ chế thị trường đồng thời cũng đã nêu lên một số ý
tưởng về một số giải pháp để thực hiện đào tạo đáp ứng nhu cầu doanh
nghiệp nhưng chưa đề cập đến vấn đề cốt lõi là đối với mục tiêu, nội
dung và chương trình đào tạo cũng như tổ chức quá trình đào tạo để thích
ứng với đào tạo theo hướng đáp ứng nhu cầu thị trường lao động hiện
nay.

Xuyên [44], “Đề án hỗ trợ thanh niên học nghề và tạo việc làm” của
Trung ương Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh [45], “Quản lý giáo
dục – Quản lý nhà trường, Một số hướng tiếp cận” của Đặng Quốc Bảo
[46], “Đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội – Quan niệm và giải pháp thực
hiện” của Nguyễn Minh Đường, Nguyễn Thị Hằng [47], ... Những công
13


trình nêu trên đã đề cập đến những vấn đề lý luận về quản lý và các định
hướng về quản lý đào tạo nhưng chưa đề cập đến vấn đề quản lý đào tạo
cụ thể của nhà trường để đáp ứng nhu cầu thị trường lao động .
Tuy vậy cho đến nay, vấn đề quản lý hoạt động đào tạo ở trường dạy
nghề nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường lao động vẫn chưa được nghiên
cứu một cách cụ thể, còn thiếu những biện pháp quản lý vi mô cần thiết.
1.2. Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.2.1. Nghề xã hội và nghề đào tạo
Nghề là thuật ngữ để chỉ một hình thức lao động sản xuất nào đó
trong xã hội.
Tác giả E.A.Klimov viết: “Nghề nghiệp là một lĩnh vực sử dụng
sức lao động vật chất và tinh thần của con người một cách có giới hạn,
cần thiết cho xã hội (do sự phân công lao động xã hội mà có). Nó tạo
cho con người khả năng sử dụng lao động của mình để thu lấy những
phương tiện cần thiết cho việc tồn tại và phát triển” . Với khái niệm này,
nghề được gọi là “nghề xã hội”.
Theo từ điển Tiếng Việt, nghề là: “Công việc chuyên môn làm theo
sự phân công lao động xã hội”
Theo tác giả Nguyễn Hùng thì:“ Những chuyên môn có những đặc
điểm chung, gần giống nhau được xếp thành một nhóm chuyên môn và
được gọi là nghề. Nghề là tập hợp của một nhóm chuyên môn cùng loại,
gần giống nhau. Chuyên môn là một dạng lao động đặc biệt, mà qua đó

cơ bản; đào tạo ngắn hạn; đào tạo từ xa và đào tạo lại (tương đương với
bồi dưỡng)... Tuỳ theo tính chất chuẩn bị cho cuộc sống và cho lao động,
người ta phân loại đào tạo gồm đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề
nghiệp, và chỉ khi nào quá trình đào tạo được biến thành quá trình tự đào
tạo một cách tích cực, tự giác thì việc đào tạo mới thực sự có kết quả cao.
Tác giả Hồ Ngọc Đại (Giải pháp về giáo dục – H, 1991) định nghĩa: "Đào
tạo được hiểu là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình
15


thành và phát triển một cách có hệ thống những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo
nghề nghiệp và thái độ của người lao động nhằm xây dựng nhân cách cơ
bản cho mỗi cá nhân, tạo điều kiện cho họ có thể tham gia lao động nghề
nghiệp trong cuộc sống xã hội".
Tác giả Nguyễn Minh Đường trong đề tài KX07 - 14 quan niệm:
"Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức, nhằm hình thành
và phát triển hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ... để hoàn
thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho họ có thể vào đời hành
nghề một cách năng suất và hiệu quả"...
Như vậy, có thể hiểu: Đào tạo là quá trình trang bị kiến thức, kỹ
năng ban đầu cùng với những phẩm chất, thái độ cần thiết để người được
đào tạo có thể hành nghề và trở thành người lao động có năng lực và
phẩm chất nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu của xã hội. Còn đào tạo lại cũng
chính là một dạng của đào tạo, là quá trình tạo cho người lao động (đã
được đào tạo) có cơ hội được học tập, được đào tạo chuyên sâu hay một
lĩnh vực chuyên môn mới một cách cơ bản, có hệ thống cả tri thức, kỹ
năng, kỹ xảo lẫn thái độ nhằm mục đích có trình độ tay nghề cao hơn
hoặc có thể chuyển đổi nghề (hay công việc mới). Đây chính là quá trình
hoạt động nhằm phát triển nhân cách một cách hài hoà, toàn diện cho mọi
người, giúp họ trở thành người lao động có năng lực và phẩm chất nghề

kỹ xảo và năng lực nhận thức để hình thành nhân cách nghề nghiệp, quá
trình này được thực hiện thông qua việc giảng dạy theo các nghề đào tạo.
*Nguyên tắc đào tạo nghề:
Đào tạo nghề là khâu quan trọng trong việc giải quyết việc làm
cho người lao động, tuy nó không tạo ra việc làm ngay nhưng nó lại là yếu
tố cơ bản tạo thuận lợi cho quá trình tìm việc làm và thực hiện công việc.
Dạy nghề giúp cho người lao động có kiến thức chuyên môn, kỹ năng và
thái độ nghề nghiệp để từ đó họ có thể xin làm việc trong các cơ

17


quan, doanh nghiệp, hoặc có thể tự tạo ra công việc sản xuất cho bản thân.
Vậy công tác đào tạo nghề thực hiện theo các nguyên tắc sau:
- Đảm bảo các quan điểm, đường lối, chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước.
Nguyên tắc này đòi hỏi nội dung chương trình, giáo trình đào tạo
phải thực hiện theo chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà
nước, phải được xây dựng phát triển theo quy trình đổi mới và phát triển
của đất nước.
- Đảm bảo đào tạo theo nhu cầu: Đào tạo phải thực hiện trên nhu
cầu của xã hội, nhu cầu thực tiễn của sản xuất. Có thể nói rằng, các cơ sở
đào tạo cần dạy cho người học những nghề mà thị trường cần, chứ không
phải dạy cho người học những nghề mà cơ sở đào tạo có.
- Đào tạo gắn với thực hành và thực tiễn: Nguyên tắc này đòi hỏi
nội dung chương trình, giáo trình, trang thiết bị thực hành phải gắn với
thực tiễn. Đào tạo lấy thực hành, thực tập kỹ năng nghề, khả năng
vận dụng vào thực tiễn làm chính; coi trọng giáo dục đạo đức, lương
tâm nghề nghiệp, rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong
công nghiệp của người học, đảm bảo tính giáo dục toàn diện để sau khi
tốt nghiệp người học có thể đáp ứng được những yêu cầu của xã hội.

đào tạo. Có nhiều hình thức tổ chức như tự học, thực hành, tham quan,
thực tập…
- Phương pháp đào tạo: Phương pháp đào tạo là sự tác động qua lại
với nhau giữa nhà trường, giáo viên, học sinh nhằm chuyển biến nhân
cách, chuyên môn của học sinh theo mục tiêu và nội dung đã xác định. Ví
dụ như phương pháp dạy – học, phương pháp giáo dục,rèn luyện học sinh
về phẩm chất đạo đức…
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ đào tạo: Trang thiết bị, máy
móc, nhà xưởng, nguyên vật liệu và các cơ sở vất chất kỹ thuật phục vụ
công tác đào tạo, các điều kiện phục vụ nhu cầu cần thiết cho giáo viên và
19


học sinh trong nhà trường. Công tác phục vụ đào tạo tốt sẽ đảm bảo, nâng
cao chất lượng cho quá trình đào tạo nghề.
- Xã hội hóa công tác đào tạo nghề: Cùng với sự đầu tư cơ sở vật
chất, trang thiết bị dạy nghề của nhà nước và các tổ chức xã hội, sự đóng
góp của gia đình học sinh, phối hợp với các doanh nghiệp, các cơ sở sản
xuất để tạo điều kiện cho người học tiếp cận nhanh với thực tế, giải quyết
việc làm cho người học sau khi tốt nghiệp.
- Chất lượng đào tạo: Chất lượng luôn là vấn đề quan trọng nhất
của tất cả các cơ sở đào tạo. Chất lượng đào tạo được đánh giá qua mức
độ đạt được mục tiêu đào tạo đã đề ra.
Chất lượng đào tạo được phản ánh các mức độ của kết quả hoạt
động giáo dục và hoạt động đào tạo có tính liên tục từ khởi đầu quá trình
đào tạo đến kết thúc quá trình đó.
Mỗi cơ sở đào tạo đều có một nhiệm vụ, điều này chi phối hoạt động
của nhà trường. Từ nhiệm vụ này, nhà trường xác định các mục tiêu đào tạo
của mình sao cho phù hợp với nhu cầu và sự phát triển của xã hội để đạt
được chất lượng bên ngoài, đồng thời các hoạt động của nhà trường sẽ được

thời, vạch ra lôgích của quá trình quản lý xã hội theo các mức từ thấp đến
cao “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”.
Bước sang thời kỳ Chủ nghĩa tư bản, do yêu cầu phát triển sản xuất
đại công nghiệp, dưới tác dụng của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật,
yêu cầu về quản lý không ngừng tăng lên. Quản lý từng bước tách khỏi
triết học và dần dần trở thành bộ môn khoa học độc lập, với sự tham gia
đóng góp của nhiều trường phái và nhiều học giả.
- Charles Babbage (1792-1871) là người đầu tiên đề xuất phương
pháp tiếp cận có khoa học trong quản lý, quan tâm tới mối quan hệ giữa
người quản lý với người bị quản lý. Các ý tưởng trên thực tế trở thành
một học thuyết nhờ đóng góp của Ferdrick winslow Taylor (1856-1915)
người được coi là cha đẻ của thuyết quản lý khoa học, ông cho rằng:

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status