bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của di tích và lễ hội đền sái - Pdf 34

PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài.
1.1. Việt Nam ta là một đất nước đa dạng về văn hóa và phong phú về di tích
lịch sử. Đó là bằng chứng về những hoạt động sáng tạo của con người trong
lịch sử từ xưa đến ngày nay. Khi xã hội càng phát triển thì nhu cầu tìm hiểu
về cội nguồn, về các giá trị văn hóa truyền thống của đất nước và nhân loại
lại càng trở thành nhu cầu cấp thiết. Di tích lịch sử văn hóa hàm chứa trong
đó những giá trị văn hóa phi vật thể. Chúng được sáng tạo ra trong lịch sử và
cũng sẽ tồn tại lâu dài theo thời gian và trong không gian.
1.2. Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng lâu đời, phổ biến
và cũng rất đặc trưng trong đời sống xã hội của cư dân người Việt. Từ lâu, lễ
hội đã trở thành một phần hồn của dân tộc, nó còn là mạch ngầm nuôi dưỡng
đời sống tinh thần của người dân Việt. Lễ hội bao gồm nhiều mặt của đời
sống xã hội nhuwtoon giáo, tín ngưỡng, phong tục, tập quán, sự tích về các
danh nhân văn hóa, các vị anh hùng có công với dân với nước, các nghi lễ,
các trò chơi dân gian và là nơi giao thương, trao đổi hàng hóa sản vật.
Lễ hội gắn với bước đi của lịch sử dân tộc, lịch sử một vùng đất,
thông qua lễ hội chúng ta có thể tìm hiểu con người của vùng đất, những giá
trị văn hóa, đạo đức lành mạnh, tinh thần đoàn kết, tính khoan dung gắn bó
với dân tộc, đề cao truyền thống gia đình, dòng họ và những người có công
trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước.
Ở nước ta lễ hội truyền thống nói chung đang ngày càng được quan
tâm phục hồi và có sức sống mạnh mẽ. Đông Anh – Hà Nội nằm ở trung tâm
của Đồng Bằng Bắc Bộ là mảnh đất lịch sử gắn với công cuộc dựng nước
thuở ban đầu của cha ông ta tiêu biểu là lịch sử thành Cổ Loa. Trong quần
thể di tích liên quan đến Cổ Loa, người dân Đồng bắc Bắc Bộ phần nhiều

1


biết tới di tích và lễ hội Đền Sái thôn Thụy Lôi – Thụy Lâm – Đông Anh –

trong cuốn Thụy Lâm truyền thống văn hóa và cách mạng [10] do Ủy ban
nhân dân xã Thụy Lâm biên sọan.
Một số công trình đã công bố trên các sách, tạp chí như Trên mảnh đất
Cổ Loa lịch sử [53] của Trần Quốc Vượng, 36 lễ hội Thăng Long [46] do
Quốc văn sưu tầm cũng chỉ giới thiệu sơ lược về lễ hội rước vua xưa.
Từ những nghiên cứu sơ bộ các kết quả của các tác giả đi trước, cho
đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc
về di tích lễ hội đền Sái. Những tư liệu trên sẽ là những tư liệu bước đầu
giúp cho tác giả tham khảo, kế thừa, tiếp thu để triển khai đề tài của mình.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài là di tích và lễ hội đền Sái trong đó bao
gồm: Phần di tích tập trung nghiên cứu: lịch sử hình thành, tồn tại, phát triển
của di tích. Phần lễ hội tác giả tập trung nghiên cứu: nhân vật được tưởng
niệm trong lễ hội, các nghi lễ, trò diễn dân gian hiện đại trong lễ hội…Luận
văn tiếp cận và nghiên cứu di tích đền Sái vì đây là địa điểm diễn ra lễ hội và
vị thần được thờ ở đây cũng chính là vị thần được tưởng niệm trong lễ hội.
3.2. Về không gian tập trung chủ yếu nghiên cứu thôn Thụy Lôi, xã Thụy
Lâm, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.
3.3. Về thời gian, đối với di tích luận văn xác định nghiên cứu lịch sử hình
thành, tồn tại cho đến nay. Đối với lễ hội: luận văn tập trung nghiên cứu sâu
hơn về lễ hội đền Sái xưa, đồng thời nghiên cứu lễ hội đền Sái hiện nay để
nêu bật được những giá trị của lễ hội đền Sái và những vấn đề đặt ra trong
đời sống xã hội.
4. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở những nguồn tư liệu của các tác giả đi trước và giá trị hiện
có của di tích lễ hội đền Sái, luận văn tập chung nghiên cứu:
3


-Nghiên cứu những nét tổng quan về thôn Thụy Lôi, xã Thụy Lâm,

về đời sống sinh hoạt văn hóa tinh thần người dân nơi đây, trên cơ sở đó đề
xuất một số phương pháp bảo tồn và phát huy giá trị của di tích – lễ hội
trong đời sống hiện nay, góp phần làm phong phú thêm sinh hoạt văn hóa
tinh thần của người dân đồng bằng Bắc Bộ.
-Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là tư liệu khoa học, góp phần
khẳng định, giới thiệu tuyên truyền cho người dân địa phương hiểu rõ hơn
về giá trị lịch sử văn hóa của đền Sái. Từ đó nâng cao tinh thần trách nhiệm
bảo vệ giữ gìn di tích – lễ hội cho chính người dân địa phương.
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn chia làm 3
chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về lịch sử văn hóa làng Thụy Lôi và di tích đền Sái
Chương 2: Lễ hội đền Sái
Chương 3: Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của di
tích lễ hội đền Sái.

5


CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ LÀNG THỤY LÔI VÀ DI TÍCH ĐỀN SÁI
1.1.Tổng quan về làng Thụy Lôi
1.1.1.Đặc điểm vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Đông Anh là một huyện ngoại thành của Hà Nội. Nằm ở vị trí cửa ngõ
phía Bắc của thủ đô Hà Nội diện tích tự nhiên 18.230 ha. Xưa kia là đất
Phong Khê sau đổi thành đất Tây Vu, Bình Đạo. Thế kỷ thứ IX thuộc châu
Cổ Lâm. Thời tiền Lê thuộc châu Cổ Pháp. Thời Lý thuộc phủ Thiên Đức.
Đến thế kỷ XV còn được gọi là huyện Đông Ngàn và huyện Kim Anh thành
huyện mới Đông Anh, thuộc tỉnh Bắc Ninh. Ngày 10 tháng 4 năm 1903
Đông Anh thuộc tỉnh Phúc Yên có 8 tổng, 54 xã. Năm 1961 huyện Đông

trong bốn vị trấn giữ đất Thăng Long.
Theo sách Thụy Lâm truyền thống văn hóa và cách mạng [10], thời cổ
sơ, Thụy Lâm là rừng rậm đầm lầy. Chứng tích về rừng rậm còn ghi trong
tên làng “ Bằng Lâm” tức “rừng đồng bằng”. Những chứng tích về đầm lầy
là những dãy ao mà đê và bờ vùng đã tách khỏi dòng sông mẹ. Khí hậu nơi
đây mang tính chất khí hậu nhiệt đới, ẩm, gió mùa. Từ tháng năm đến tháng
10 là mùa hạ, khí hậu ẩm ướt mưa nhiều. Từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau
là mùa đông, thời kỳ đầu khô lạnh, nhưng cuối mùa lại mưa phùn ẩm ướt.
Giữa hai mùa là thời kỳ chuyển tiếp nên tạo cho Thụy Lâm có bốn mùa
phong phú: xuân, hạ, thu, đông, nhiệt độ trung bình hằng năm là 25 – 27 độ
với lượng mưa 1600 – 1800 mm trong năm đã tạo điều kiện thuận lợi cho
người dân sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là các loại cây trồng như cây lúa,
cây rau màu, cây ăn quả…
Thụy Lâm là nơi tiếp giáp giữa ba huyện: Yên Phong – Đông Ngàn và
Kim Anh ( nay là huyện Sóc Sơn). Sông Cà Lồ chảy qua xã Thụy Lâm là

7


ranh giới tự nhiên giữa xã Thụy Lâm với xã Xuân Thu, đây cũng là ranh giới
giữa huyện Đông Anh Với huyện Sóc Sơn. Sông bắt nguồn từ dãy Thằn Lằn
Xưa kia, sông là tuyến đường thủy quan trọng để ngược lên vùng núi
Vĩnh Yên, Tuyên Quang; xuôi về phía Nam xuống Lục Đầu giang ra
biển.Tuyến đường đê chạy theo sông cũng sớm được hình thành. Các thôn
xóm nằm ở bờ nam sông Cà Lồ tạo nên phong cảnh hữ tình.
Như vậy với vị thế “ nhất cận thị nhị cận giang” do thiên nhiên ban
tặng, môi trường sinh thái đặc thù ấy đã có ảnh hưởng đến đời sống văn hóa
– xã hội của làng Thụy Lôi ảnh hưởng cả sự lựa chọn thần linh và đời sống
tín ngưỡng. Đó còn là cả sự phát đạt về học hành, sự phong phú về đời sống
tinh thần của cư dân nơi đây, …cũng có nhiều phần bắt nguồn từ vị thế địa

“ Đánh giặc thì đấnh qua sông
Đừng đánh qua đồng nát lúa người ta
Đánh giặc thì đánh qua Xà
Đừng đánh qua Nhội nát nhà Kẻ Đâm”
Câu ca dao trên đã nêu tên các địa danh đó là Xà (làng Phương La),
Nhội – tên nôm của làng Thụy Lôi và Kẻ Đâm là làng Thư Lâm ngày nay
Như vậy có thể nói núi Thất Diệu, đền Sái đã góp phần viết lên bản
anh hùng ca dựng nước ở thế kỷ III TCN và bản anh hùng ca dựng nước ở
thế kỷ XI.
Xưa kia, làng sầm uất với nghề dệt vải khổ hẹp cổ truyền, trong làng
luôn lách cách tiếng thoi dệt vải vọng từ nhà này sang nhà khác. Ngoài đồng
khi thì lúa chiêm làm mùa, khi thì trồng bông trồng mầu. Rồi những ngày
làng vào hội tưng bừng, với những tiếng trống chèo, đám võ vật, hội rước
Vua sống (Vua giả) rực rỡ tán vàng, lọng xanh trống chiêng đậy đất, cờ xí
rợp trời làm sống lại khí thế hào hùng thời Thục Vương dựng nước.

9


Ngày nay, về với đất Thụy Lâm ta như thấy được sự chuyển mình
mạnh mẽ của xóm làng nơi đây. Đường làng ngõ xóm, đời sống kinh tế xã
hội từng bước được cải thiện và nâng cao.
1.2. Đời sống kinh tế và văn hóa xã hội
1.2.1 Đời sống kinh tế
Thụy Lâm là một xã có nền nông nghiệp nhỏ với 1637 ha đất tự
nhiên. Đất canh tác màu mỡ gồm ruộng đường (đồng cao), ruộng trũng
(đồng sâu) và đa số dân cư nơi đây sống nhờ vào nghề nông. Với một nền
nông nghiệp nhỏ, phụ thuộc phần lớn vào thiên nhiên hơn chín mươi phần
trăm trông chờ vào nước trời. Người dân nơi đây xa xưa làm ruộng mà thấp
thỏm bao nhiêu thứ trông: trông trời, trông đất, trông mây, trông mưa, trông

phụ trong thôn bình quân trên 1500 000đ/tháng. Thụy Lôi đã biết khai thác
thế mạnh của địa phương, phát triển tiểu thủ công nghiệp làm mũi nhọn để
phát triển kinh tế; phát triển nông nghiệp làm nền để ổn định đời sống từ đó
tập trung phát triển các ngành nghề khác. Vì thế số hộ giàu, khá trong thôn
ngày càng nhiều bộ mặt của thôn ngày một đổi mới. các di tích lịch sử văn
hóa được tu bổ, công trình phúc lợi được mở mang, hoạt động văn hóa tinh
thần càng phong phú. Nhân dân cũng phấn khởi tin tưởng vào sự lãnh đạo
của Đảng và chính phủ.
Xưa kia, dân làng Thụy Lôi chủ yếu dựa vào nền nông nghiệp nên hai
yếu tố đất, nước là cần thiết và đòi hỏi phải có mưa thuận gió hòa. Điều ấy
đã tạo ra tâm lý ứng xử có văn hóa với môi trường, trong sinh hoạt cộng
đồng thể hiện ở đặc trưng của một nền văn minh nông nghiệp. Thụy Lôi lại
có vị thế "nhất cận thị, nhị cận giang" nhờ có con sông Cà Lồ lại thêm chợ
Nhội giúp việc trao đổi hàng hóa được thuận lợi. Đó cũng là những thế
mạnh để khai thác toàn diện về kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp và

13


thương nghiệp. Bởi thế đời sống vật chất ấy cũng góp phần quan trọng chi
phối đời sống tinh thần của cư dân nơi đây.
1.2.2. Thành phần dân cư
Do tính chất của cư dân nông nghiệp cần phải có sự gắn bó đoàn kết
cộng đồng khắc phục thiên nhiên nên người dân nơi đây rất gắn bó với nhau.
Các làng xã Thụy Lâm trên cơ sở một nền kinh tế nông nghiệp lúa nước, các
làng xã sớm định hình với cơ cấu tự quản chặt chẽ, gồm nhiều thiết chế tổ
chức khác nhau: gia đình, dòng họ, xóm ngõ, bộ máy quản lý cùng các
phường hội.
Sự tồn tại và phát triển của dòng họ là một trong những yếu tố quan
trọng trong kết cấu của làng Việt qua các thế hệ, các thời kỳ đã tạo nên sự

khi sinh mà phải chờ khi đứa trẻ đã lớn và khỏe mạnh. Tuổi của mỗi trai
đinh trong giáp được tính từ khi vào giáp. Vì vậy có những người lớn hơn
vài tuổi nhưng vẫn có ngôi thứ ngang hàng, thậm chí còn thấp hơn người ít
tuổi. về sau bốn giáp Đông, Nam, Đoài, Bắc phát triển thành tám giáp, mỗi
giáp thường gồm nhiều trai đinh của nhiều gia đình thuộc các xóm ngõ khác
nhau. Đây là hiện tượng phát triển và phân chia làng theo giáp không phổ
biến ở các làng xã trên vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Khi có cuộc họp của làng tại đình, trai đinh của thôn Đông ngồi ở nửa
đình bên trái, trai đinh thôn Đoài ngồi ở nửa đình bên phải.
Tổ chức hội tháng Giêng theo quy định luân phiên: thôn Đoài làm lễ
thỉnh sinh ngày mồng 10, đi lễ ngày 11 và hành lễ ngày 12. Mỗi lễ này ở
thôn Đông diễn ra sau thôn Đoài một ngày.
“Tuy nhiên, sự phân chia thành hai thôn trên chỉ liên quan tới việc tổ
chức hội rước vua vào tháng riêng là chính [10, tr. 42]. Còn thực tế hai thôn
vẫn chung đình, chung thành hoàng, chung bộ máy điều hành việc làng.
Dưới chế độ phong kiến còn có “Hội đồng kỳ mục” bao gồm những người
15


có bằng sắc chức tước, các quan lại về hưu cùng với các chánh phó lý trong
làng. Người đứng đầu hội đồng kỳ mục là tiên chỉ.
Theo số liệu điều tra năm 2010, thôn Thụy Lôi có 8500 nhân khẩu
chiếm 50% dân số xã, do UBND xã quản lý. Làng có 13 xóm, mỗi xóm đều
có xóm trưởng giúp việc cho trưởng thôn.
Ngày nay thôn còn có chi bộ Đảng, các đoàn thể như hội cựu chiến
binh, hội phụ nữ, đoàn thanh niên, hội người cao tuổi, tổ liên gia, mặt trận…
chăm lo phát triển kinh tế, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự xã hội.
Với truyền thống và tinh thần đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau về mọi mặt,
họ cùng nhau làm ăn, cùng nhau bảo vệ xóm làng quê hương cùng nhau tạo
dựng nên những thuần phong mỹ tục nơi đây, cùng nhau hội hè đình đám

bốn giáp (Đông, Nam, Đoài, Bắc) mỗi giáp thường gồm nhiều trai đinh của
nhiều gia đình thuộc các xóm ngõ khác nhau. Đây là hiện tượng phát triển và
phân chia làng theo giáp không phổ biến ở các làng xã trên vùng đồng bằng
Bắc Bộ.
Khi có cuộc họp của làng tại đình, trai đinh của thôn Đông ngồi ở nửa
đình bên trái, trai đinh thôn Đoài ngồi ở nửa đình bên phải.
Tổ chức hội tháng Giêng theo quy định luân phiên: thôn Đoài làm lễ
thỉnh sinh ngày mồng 10, đi lễ ngày 11 và hành lễ ngày 12. Mỗi lễ này ở
thôn Đông diễn ra sau thôn Đoài một ngày.
“Tuy nhiên, sự phân chia thành hai thôn trên chỉ liên quan tới việc tổ
chức hội rước vua vào tháng riêng là chính [10, tr42]. Còn thực tế hai thôn
vẫn chung đình, chung thành hoàng, chung bộ máy điều hành việc làng.
Dưới chế độ phong kiến còn có “Hội đồng kỳ mục” bao gồm những người
có bằng sắc chức tước, các quan lại về hưu cùng với các chánh phó lý trong
làng. Người đứng đầu hội đồng kỳ mục là tiêu chí

17


Là vùng quê thuộc xứ kinh bắc xưa kia, Thụy Lôi ngày nay có truyền
thống học hành khoa cử. Xã “Thư Lâm” (rừng sách) đã phản ánh một phần
truyền thống này. Dưới thời phong kiến, cả xã Thụy Lâm có 5 người đỗ đại
khoa, riêng làng Thụy Lôi đã chiếm 4 người, người làng Thụy Lôi sớm gia
nhập hàng ngũ những người đỗ đạt, tất cả họ đều đỗ vào thời Lê sơ trong đó
3 người đỗ dưới thời Lê Thánh Tông (1460 – 1497) giai đoạn đỉnh cao của
khoa cử Nho học Việt nam với tên gọi khoa cử Hồng Đức.
Người ở thôn Thụy Lôi đầu tiên đỗ đạt đó là Nguyễn Thạch Trụ
(1441) đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ, xuất thân khoa Kỷ Sửu niên hiệu
Quang Thuận, đời vua Lê Thánh Tông, làm quan tới chức Tả Thị quan bộ
Lại. Người đỗ thứ hai ở làng Thụy Lôi đó là Ngô Trinh Chấp, đỗ Đệ tam

quan niệm phong thủy dân gian đền và núi đều ở thế “quy xà hợp hình” (rắn,
rùa cùng quy tụ). Theo tương truyền đền được An Dương Vương xây dựng
để ghi nhớ công ơn của Thánh Trấn Vũ đã giúp vua dựng được thành Cổ
Loa. Ban đầu, di tích này được gọi là “Kim Khuyết Cung”, đến năm Hưng
Trị thứ ba năm Canh Dần 1590, gọi là “quán Chân Linh” song từ lâu dân
làng trong vùng quen gọi là đền Sái.
Đền Sái là một phức thể các công trình thờ cúng của Phật giáo, Đạo
giáo và tín ngưỡng thờ mẫu đền được tu bổ lại vào năm Nhâm Ngọ niên hiệu
Bảo Đại (năm 1942).
Từ ngoài vào là tam quan của đền. Tam quan của đền được dựng theo
lối cổ, có nhiều bậc lên xuống, gồm 3 cửa chính, 2 cửa phụ nên còn gọi là
ngũ môn quan. Qua cổng ngũ môn là gác chuông gồm 5 gian vững chãi với
mái đao cong tạo vẻ đẹp cổ kính cho di tích. Sau gác chuông là nhà Kính
Thiên. Đây cũng là công trinh độc đáo. Tiếp đến là tiền tế, tiền đường và hậu
cung. Phía trên hậu cung là đền Sái. Ngang chùa về phía tay phải là nhà
mẫu. Ngoài ra còn có nơi thờ Quan Vân Trường, ban cô và ban cậu.
19


Đền Sái với thiết kế công trình kiến trúc nằm kế tiếp nhau, công trình
sau cao hơn công trình trước theo thế thoải của sườn núi. Dáng vẻ của mỗi
công trình khác nhau nhưng đan xen hài hòa trong khôn gian rộng thoáng
của di tích. Xung quanh đền Sái còn có nhiều địa danh gắn với các di tích
dân gian liên quan đến bạch kê Tinh trên núi Sái như Đò Lo, Chợ Chờ, Núi
Sái đã đi vào lịch sử gắn với Loa thành và cuộc kháng chiến của quân dân
Âu Lạc trước Công nguyên.
Ngoài đền Sái, làng Thụy Lôi còn có một số ngôi đền khác, mỗi đền
thờ một vị thần.
Đền Thượng: tọa lạc cách đền Sái khoảng 150 mét về phia Đông gồm
hai tòa tiền và tiền tế, mỗi tòa năm gian cấu trúc chữ “Nhị”. Đền thờ Chân

các vai gắn với các công việc sau:
-Thôn Đoài: đảm nhiệm các vai vua Thục, chúa, quan trấn thủ, quan
đề lĩnh, quan tán lý, quan thự vệ.
-Thôn Đông: đảm nhiệm các vai vua, quan thự vệ, và quan trấn thủ.
Trai đinh sinh ra ở làng Thụy Lôi phải gánh vác nghĩa vụ rất nặng nề. Sau
khi vào làng theo số hàng giáp, mỗi người phải đảm nhiệm một vai và phải
thực hiện các nghĩa vụ sau:
-Một lần góp gạo để thổi cơm thờ vào hội tháng Chín của làng. Tuy số
gạo chỉ có một đấu (khoảng 0,6kg) nhưng vì là gạo để thổi cơm thờ, mang
tính thiêng rất cao nên phải xay giã cẩn thận, trước đây công việc này phải
nhờ người làm rất tốn kém.
Thổi xôi thờ vào dịp hội làng tháng Chín để làm phần cho thân nhân
những người đặt hậu làng và hậu Phật (mỗi năm mỗi giáp phải có một bàn
bốn người làm việc này)
Làm quan viên, làm vua và làm chúa. Việc này liên quan đến nghĩa vụ
của hai thôn Đông và Đoài trong lễ hội rước vua sống.
21


-Riêng với nhữn người đầu phe (có nhiệm vụ giữ sổ nhân đinh của
giáp) chịu trách nhiệm theo dõi, phân công các trai đinh trong giáp đảm
nhiệm các nghĩa vụ theo lượt.
Lệ làng cũng quy định, các đinh nam đến tuổi 55 đã lo được cỗ chay,
cỗ mặn được gọi là quan thượng thính. Đến 60 tuổi được đóng làm quan tứ
trụ. Quan tứ trụ được chia làm 4 người:
-Quan trấn thủ: là người trấn ải biên thùy, hàng năm được triệu về
trông nom thành, để vua xa giá bái yết Đức Thánh trấn
-Quan tán lý: là người được bàn bạc công việc lớn của triều đình, hộ
giá vua đi bái yết Thánh.
-Quan đề lĩnh: là người lĩnh ấn tiên phong thi hành nhiệm vụ

mùa thì làng mở hội lớn.
- Kỳ tháng Giêng (hội mùa xuân) là kỳ hội quan trọng nhất và độc đáo
nhất, đó chính là kỳ hội diễn ra lễ hội rước vua sống.
Trước Cách mạng tháng Tám, nhân dân làng Thụy Lôi còn nhiều các
hủ tục làng xã nhằm ràng buộc con người vào các nghĩa vụ nặng nề với làng
thông qua tổ chức giáp. Các ngôi thứ trong làng, ở giáp vừa là nghĩa vụ, vừa
là cái danh hão buộc những người đến lượt phải theo, nên “được chỗ ngồi
trôi chỗ ở”. Ở Thụy Lôi xưa, đứa trẻ mới lọt lòng mẹ đã phải lo khiêng
người chết, sắm mâm bát cho người sống khi “có việc làng”. Đến lúc trưởng
thành phải lo “cỗ dừ”. Từ 40 tuổi trở đi, những “cái lo” đến dồn dập: lo
thượng thính, lo cỗ hội, 4 lần lo làm quan, 1 lần làm vua, 1 lần làm chúa, vai
nào, lần lo nào cũng rất tốn kém. Xưa kia người đăng cai các vai như vua,
chúa, quan thường tổ chức ăn uống mười ngày liền từ mùng 5 tết đến hết 15.
Sự tốn kém của việc gánh vai ở thôn còn đi vào câu ca:
“Con gái thôn Đông lấy chồng thôn Đoài
Lo tiết Thượng Thính gia tài sạch không
23


Con gái thôn Đoài lấy chồng thôn Đông
Lo tiết thự vệ sạch không gia tài”
Ngày nay, các tục lệ để chọn người đóng vai vua, chúa và quan không
còn khắt khe như trước kia. Đàn ông trong làng chỉ cần qua tuổi 55 và tham
gia hội người cao tuổi của làng là có thể được bầu chọn. Nhưng điều đặc biệt
là họ không phải lo làm cỗ thượng thính để dâng lên đình, đền và mời dân
làng nữa. Tục nuôi trâu đô, lợn đô cũng không còn nữa. Các tục lệ quy định
cho lễ hội rước vua ngày nay đã trở nên đơn giản hơn trước nhiều.
Các trang phục phục vụ cho lễ hội như kiệu vua, chúa, và võng cho
các quan, cùng trang phục quần áo mũ hia… đều do nhà đền sắm sửa. Trước
ngày diễn ra lễ hội những người đóng vai vua, chúa, quan, lên đền làm lễ và

hơn cả. Trước kia, việc chọn người đóng vai vua chúa, quan phải tuân thủ
những quy định rất nghiêm ngặt. Ngày nay việc chọn người đóng vai không
còn quá khắt khe nữa. Lễ hội ngày nay mang mầu sắc cung đình đầy sự sang
trọng nhưng cũng rất gần gũi với người dân.
Với vị thế đẹp “Nhất cận thị, nhị cận giang”, với môi trường tự nhiên
hài hòa, đời sống kinh tế phát triển, giao thông thuận tiện đặc biệt là giao
thông đường thủy nên từ xa xưa làng Thụy Lôi đã có nền kinh tế phát triển
với nghề dệt vải khổ hẹp được bán ở khắp các chợ trong vùng. Từ những
điều kiện thuận lợi ấy cùng với truyền thống được xây đắp từ nhiều thế hệ
nên làng đã có nhiều người thành đạt trong học hành. Nhiều phong tục, tập
quán của làng đã phản ánh một giai đoạn phát triển của đời sống văn hóa
phong phú của người dân nơi đây. Dưới sự lãnh đạo của Đảng xây dựng đời
sống văn hóa mới, đường làng ngõ xóm được bê tông hóa, giáo dục văn hóa
được chú trọng.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status