ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
================== PHƢƠNG THỊ NHUNG PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HOÁ TRUYỀN THỐNG
TRONG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẠI TÂY NGUYÊN
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS Phạm Ngọc Thanh Hà Nội - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất kỳ công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được
chỉ rõ nguồn gốc.
Học viên thực hiện Luận văn
Phương Thị Nhung
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện luận văn tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ
và động viên của quý thầy cô, gia đình và bạn bè.
Đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Phạm Ngọc Thanh về những ý
kiến đóng góp và sự chỉ dẫn tận tình của Thầy trong suốt thời gian tôi thực hiện luận văn này.
Xin cùng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các Thầy giáo, Cô giáo trong khoa Triết học
trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn đã cung cấp cho tôi những tri thức quý báu trong
suốt quá trình học tập cũng như đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này.
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên
tôi động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 11 năm 2014
Tác giả luận văn
1.3.1. Ảnh hưởng của giá trị văn hóa truyền thống đến phát triển bền vững 28
1.3.2. Tác động của phát triển bền vững đến những giá trị văn hoá truyền
thống 31
Kết luận chƣơng 1: 32
Chƣơng 2. ẢNH HƢỞNG CỦA CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN
THỐNG TRONG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẠI TÂY NGUYÊN
TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI 34
2.1. Tổng quan về Tây Nguyên và các giá trị văn hóa truyền thống của
Tây Nguyên trong thời kỳ đổi mới 34
2
2.1.1. Thực trạng phát triển bền vững ở Việt Nam: Thành tựu và hạn chế 34
2.1.2. Tổng quan chung về Tây Nguyên trong thời kỳ đổi mới 36
2.1.1. Những giá trị văn hóa truyền thống của Tây Nguyên 38
2.2. Ảnh hƣởng của các giá trị văn hóa truyền thống đối với sự phát
triển kinh tế 52
2.3. Ảnh hƣởng của các giá trị văn hóa truyền thống đến phát triển
trong lĩnh vực xã hội, nâng cao chất lƣợng sống cho con ngƣời 57
2.4. Ảnh hƣởng của các giá trị văn hóa truyền thống đến bảo vệ môi trƣờng 60
2.5. Ảnh hƣởng của các giá trị văn hóa truyền thống đến chính trị, an
ninh – quốc phòng 63
Kết luận chƣơng 2: 66
Chƣơng 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA
TRUYỀN THỐNG TRONG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẠI TÂY
NGUYÊN GIAI ĐOẠN TIẾP THEO 68
3.1. Các quan điểm định hƣớng 68
3.1.1. Chiến lược phát triển bền vững Tây Nguyên đến năm 2020 68
3.1.2. Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 72
3.1.3. Định hướng phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong phát triển
bền vững tại Tây Nguyên đến năm 2020 74
Đứng trước những thách thức mới của thế giới hiện đại, vấn đề xây
dựng và phát triển đời sống văn hóa tinh thần càng có tầm quan trọng to
lớn. Nhận thức rõ điều này Đảng ta đã nhấn mạnh vai trò của giá trị văn
hóa truyền thống trong sự nghiệp đổi mới đất nước, trước những thời cơ và
thách thức mà dân tộc ta đương đầu. Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII),
Hội nghị Trung ương 9 Khóa XI, và Hội nghị tổng kết 15 năm (1998 -
2013) thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 về văn hóa đã quyết tâm xây
dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc làm nền tảng
4
tinh thần của xã hội. Với 54 dân tộc anh em cùng chung sống trong một
lãnh thổ chung mỗi dân tộc lại mang một nét đặc sắc văn hóa đặc trưng cho dân
tộc mình góp phần hình thành nên một nền văn hóa Việt Nam rất phong phú, đa
dạng và giàu bản sắc. Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
vấn đề văn hóa truyền thống và khai thác các giá trị văn hóa truyền thống phục
vụ sự phát triển đất nước là vấn đề được hầu hết các quốc gia trên thế giới quan
tâm. Việc quan tâm chú trọng đến nhân tố giá trị văn hóa truyền thống sẽ góp
phần vào sự nghiệp phát triển bền vững của đất nước trong thời kỳ hội nhập
quốc tế và mở rộng hợp tác trên tất cả các lĩnh vực.
Cùng với cả nước, Tây Nguyên cũng đang bước vào công cuộc xây
dựng phát triển kinh tế của địa phương. Sự phát triển kinh tế của Tây
Nguyên trong nhiều năm trở lại đây đã góp phần không nhỏ cho sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa của cả nước. Nền kinh tế thị trường cùng với
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang tác động mạnh mẽ đến mọi
mặt của đời sống kinh tế xã hội của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên
trong đó có vấn đề giá trị văn hóa truyền thống. Những giá trị văn hóa
truyền thống đang đứng trước những thách thức về nguy cơ mai một dần.
Hiện nay, để tiếp tục xây dựng và phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội ở
Tây Nguyên, ngoài việc nghiên cứu để giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa
truyền thống của Tây Nguyên, cần có giải pháp hạn chế những tác động
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” xuất phát từ quan điểm biện chứng
của lịch sử và quan điểm triết học văn hóa đã làm rõ mối quan hệ giữa giá
trị truyền thống với phát triển, nhấn mạnh vị thế chủ thể của văn hóa nội
sinh trong hội nhập, khẳng định sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước nhất định thắng lợi khi khai thác và phát huy được vai trò của các
giá trị truyền thống.
6
Tài liệu liên quan đến vấn đề văn hóa Tây Nguyên và các gía trị văn
hóa truyền thống của Tây Nguyên có thể kể đến như luận án tiến sĩ Văn
hóa và con người Tây Nguyên trong văn xuôi nghệ thuật 1945 – 2000 của
tác giả Đặng Văn Vũ. Luận án đã làm nổi bật vẻ đẹp cũng như sự phong
phú của các giá trị văn hóa Tây Nguyên được thể hiện một cách độc đáo
trong các tác phẩm văn xuôi. Luận án cũng đã phân tích những yếu tố tiêu
cực của các sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của người Tây Nguyên. Luận án
nêu lên thực trạng biến đổi văn hóa ở Tây Nguyên theo hướng tích cực lẫn
tiêu cực đồng thời Luận án cũng đã làm hiện lên hình ảnh người Tây
Nguyên với những phẩm chất tốt đẹp của họ trong chiến đấu cũng như
trong cuộc sống thường nhật. Luận án cũng đã phân tích sự thay đổi về
phẩm chất con người Tây Nguyên trong thời buổi hòa nhập với các dân tộc
khác. Đó như là một sự cảnh tỉnh về hiện trạng đang mất dần đi vẻ đẹp đó
trong hiện tại và tương lai.
Nhóm tài liệu liên quan trực triếp đến vấn đề Tây Nguyên và phát triển
bền vững Tây Nguyên có thể kể đến các tài liệu như: cuốn sách của TS Bùi
Minh Đạo (2011), Một số vấn đề cơ bản của xã hội Tây Nguyên trong phát
triển bền vững, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội; TS Bùi Minh Đạo (2012),
Thực trạng phát triển Tây Nguyên: một số vấn đề phát triển bền vững, Nhà
xuất bản Khoa học Xã hội; TS Bùi Minh Đạo (2010), Tổ chức và hoạt động
buôn làng Tây Nguyên trong phát triển bền vững, Nhà xuất bản Khoa học
Xã hội; Lê Văn Khoa, Bùi Quang Tú (2014) Hướng tới phát triển bền vững
3.1. Mục đích của luận văn
Làm sáng tỏ thực trạng và giải pháp của việc phát huy những giá trị
văn hóa truyền thống trong phát triển bền vững tại Tây Nguyên giai đoạn
hiện nay.
8
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Làm rõ cơ sở lý luận của việc phát huy giá trị văn hóa truyền thống
trong phát triển bền vững tại Tây Nguyên.
Làm rõ thực trạng của việc phát huy giá trị văn hóa truyền thống
trong phát triển bền vững tại Tây Nguyên giai đoạn khoảng 10 năm gần đây.
Đề xuất một số giải pháp để có thể phát huy giá trị văn hóa truyền
thống trong phát triển bền vững tại Tây Nguyên giai đoạn tiếp theo.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Văn hóa và giá trị văn hóa truyền thống trong phát triển bền vững tại
Tây Nguyên giai đoạn hiện nay
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Tác giả chủ yếu xem xét vấn đề dưới góc độ triết học văn hóa, lý giải
chúng trên cơ sở chủ nghĩa xã hội khoa học, chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Tuy nhiên, trong khuôn khổ của luận văn thạc
sỹ, tác giả không thể nghiên cứu tất cả những giá trị văn hóa truyền thống
trong phát triển bền vững tại Tây Nguyên giai đoạn hiện nay mà chỉ lựa
chọn một số giá trị tiêu biểu của các dân tộc Tây Nguyên như văn hóa cồng
chiêng Tây Nguyên, sinh kế hay chính là cách kiếm sống truyền thống của
các cư dân khu vực cao nguyên, vai trò của luật tục trong đời sống xã hội,
luật tục trong xã hội cổ truyền, tín ngưỡng dân gian, các giá trị văn hóa
khác…Qua đó chỉ rõ vai trò của giá trị văn hóa truyền thống trong phát
triển bền vững tại Tây Nguyên giai đoạn hiện nay.
Về thời gian nghiên cứu là trong thời kỳ đổi mới, tập trung vào khoảng
gồm 3 chương, 10 tiết. 10
PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN
THỐNG TRONG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
1.1. Giá trị văn hóa truyền thống
1.1.1. Văn hóa
Cho đến tận hôm nay, những định nghĩa văn hóa đang được sử dụng,
trên thực tế, cũng vẫn chỉ là những định nghĩa có tính chất quy ước nhằm đi
tới một khái niệm thỏa thuận để tiện sử dụng, việc định nghĩa văn hóa do
vậy cũng vẫn đang được xem như là một điều thách thức. Những định
nghĩa mới xuất phát từ cách hiểu khác tiếp tục xuất hiện. Theo thống kê
hiện nay đã có hơn 700 định nghĩa về văn hóa.
Các nhà khoa học trên thế giới hiện nay đều đánh giá rằng những giá
trị văn hóa thực sự là một động lực tinh thần quan trọng thúc đẩy sự tiến bộ
xã hội. Nó là yếu tố nối liền quá khứ với hiện đại, đem lại cơ sở để chúng
ta có thể nhận thức về bản thân mình và thời đại mình.
Nghiên cứu văn hóa Việt Nam không phải là công việc đến hiện nay
mới được tiến hành. Trái lại, với truyền thống của một đất nước ngàn năm
văn hiến, cha ông ta từ lâu đời đã làm công việc sưu tầm, ghi chép và
nghiên cứu văn hóa.
Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định văn hóa là một mặt căn bản của xã
hội. Theo Người, văn hóa là một trong những mục tiêu, nhiệm vụ của sự
nghiệp xây dựng con người mới, xã hội mới xã hội chủ nghĩa.
Đảng ta luôn luôn chăm lo xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc, thể hiện sức sống mãnh liệt và sự trường tồn của
dân tộc Việt Nam. Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương
được cái nhìn toàn diện về nguồn gốc, lịch sử của văn hóa, phạm vi rộng
12
lớn của văn hóa trong đời sống và trong toàn bộ hoạt động sinh hoạt của
con người.
Sở dĩ có những quan niệm khác nhau về văn hóa như vậy là do:
Thứ nhất, văn hóa là lĩnh vực có phạm vi bao quát rộng lớn, nó hiện
diện và tác động trong mọi lĩnh vực của đời sống con người, của xã hội, nó
vô cùng phong phú và phức tạp, vì vậy quan niệm về văn hóa cũng đa
nghĩa. Cũng vì vậy trong nghiên cứu văn hóa mỗi người có thể chọn những
góc tiếp cận riêng và hình thành những cách hiểu biết riêng về nó. Đó là
một thực tế không thể không chú ý khi nghiên cứu hiện tượng văn hóa.
Thứ hai, trong nghiên cứu văn hóa chúng ta thường thấy hiện tượng
phổ biến là các nhà nghiên cứu do những mục đích nghiên cứu khác nhau
thường có xu hướng “quy văn hóa vào những lĩnh vực hạn hẹp cụ thể”,
mặc dù việc giới hạn phạm vi nghiên cứu là yêu cầu của người nghiên cứu,
nhưng từ đó chỉ thấy văn hóa trong cái bộ phận, cái cá biệt của nó điều đó
là một hạn chế.
Ngày nay văn hóa không chỉ bó hẹp trong phạm vi cá nhân, gia đình
và cộng đồng mà còn mở rộng ra phạm vi các quốc gia, dân tộc trên thế
giới. Văn hóa hình thành trong quá trình tiếp xúc, giao lưu, sàng lọc, cải
biến văn hóa bản địa với những nền văn hóa khác. Do đó văn hóa bao giờ
cũng thể hiện sự đa dạng, phong phú nhưng luôn mang những nét độc đáo
của dân tộc, đồng thời bao hàm tiềm ẩn những giá trị chung của nhân loại.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, khu vực hóa giao lưu văn hóa giữa các quốc
gia khu vực bao gồm cả những nước có chế độ chính trị khác nhau đang
diễn ra trên quy mô rộng lớn và tốc độ nhanh. Sự biến đổi văn hóa của các
quốc gia dân tộc đó cũng diễn ra nhanh chóng. Bên cạnh những thời cơ lớn
việc giữ gìn, bảo vệ và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc chống nguy cơ đồng
hóa về văn hóa là một trong những thách thức lớn đối với các quốc gia.
14
quan, thương người, vì nghĩa. Nghị quyết TW 5 nêu những đức tính nổi bật
của bản sắc Việt Nam, cũng có thể hiểu đó là các giá trị của con người Việt
Nam: “Lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết,
ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - tổ quốc, lòng khoan
dung, trọng nghĩa tình đạo lý, tính cần cù sáng tạo trong lao động, sự tinh tế
trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống”. Những thập niên vừa qua người
ta còn nêu hệ giá trị chung của Châu Á: Hiếu học, cộng đồng, cần cù, huyết
thống. Bên cạnh những giá trị tổng quát như vậy, trong từng lĩnh vực của
đời sống, hoạt động của con người thì người ta lại đúc rút nên các giá trị, có
vai trò định hướng trong từng lĩnh vực riêng lẻ ấy.
Trong từ điển Bách khoa Xô Viết định nghĩa: “Truyền thống là
những yếu tố văn hóa, xã hội truyền từ đời này sang đời khác và được lưu
giữ trong các xã hội, giai cấp và nhóm xã hội trong một quá trình lâu dài.
Truyền thống được thể hiện trong chế định xã hội, chuẩn mực của hành vi,
các giá trị tư tưởng, phong tục, tập quán và lối sống… Truyền thống tác
động khống chế đến mọi xã hội và tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội”
[Dẫn theo 16, tr. 11].
Giáo sư Phan Huy Lê cho rằng: “Truyền thống là tập hợp những tư
tưởng, tình cảm, những thói quen trong tư duy, lối sống, ứng xử của một
cồng đồng nhất định, được hình thành trong lịch sử và đã trở nên ổn định,
được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác” [24, tr. 03]. Theo TS. Trần
Nguyên Việt thì có thể coi truyền thống là một bộ phận tương đối ổn định
của ý thức xã hội, được lặp đi lặp lại trong suốt tiến trình hình thành và
phát triển của các nền văn hóa tinh thần và vật chất, là một giá trị nhất định
đối với từng nhóm người, từng giai cấp, cộng đồng và xã hội nói chung.
Truyền thống dù được tiếp cận theo góc độ nào cũng đều được hiểu
theo nghĩa là những hiện tượng văn hóa xã hội (bao gồm các giá trị, các
15
thừa nhận rằng: “Mỗi dân tộc đều có truyền thống của mình, không dân tộc
nào không có. Truyền thống là những đức tính hay những thói tục kéo dài
nhiều thế hệ, nhiều thời kỳ lịch sử và hiện có nhiều tác dụng, tác dụng cũng
có thể tích cực, cũng có thể tiêu cực” [16, tr. 50]. Điều này có nghĩa là dù là
những truyền thống lâu đời của một dân tộc nhưng trong quá trình phát
triển luôn cần vận dụng linh hoạt các giá trị truyền thống tránh tình trạng tư
duy duy trì trệ cản trở sự phát triển của lịch sử. Vì vậy, việc chắt lọc lấy
những gì tinh túy nhất của truyền thống, loại bỏ những gì là cản trở, níu
kéo sự phát triển cần được thực hiện một cách cần thực hiện một cách cẩn
trọng và khoa học.
Quan niệm về giá trị văn hóa truyền thống: như đã nói ở trên văn hóa
là nét đặc sắc của mỗi dân tộc, còn truyền thống là những gì được lưu giữ
hàng ngàn năm cùng với văn hóa làm nên sức sống của mỗi dân tộc. Giá trị
truyền thống rất đa dạng và phong phú, có giá trị vật chất, giá trị tinh thần,
giá trị đạo đức, giá trị thẩm mỹ… song được hiểu là sự tổng hòa tất cả các
mảng giá trị truyền thống về tâm lý, ý thức, tình cảm, tư tưởng quan điểm
về văn hóa, đạo đức thẩm mỹ với tư cách là hạt nhân, sức sống tiềm tàng
bên trong mỗi dân tộc.
Theo như GS. Trần Văn Giàu, đã viết: “Truyền thống thì có cái tốt,
cái xấu, nhưng khi chúng ta nói “giá trị truyền thống” thì ở đây chỉ có cái
tốt mà thôi, bởi vì chỉ có những gì tốt đẹp đều được gọi là giá trị, mà phải
là những cái tốt, phổ biến, cơ bản, có nhiều tác dụng tích cực cho đạo đức
luân lý, có cả tác dụng hướng dẫn sự nhận định và hướng dẫn sự hành
động, thì mới được mang danh là giá trị truyền thống” [16, tr. 50].
Giá trị văn hóa truyền thống là những nét đẹp văn hóa được lưu
truyền từ ngàn đời nay, là nơi hội tụ toàn bộ tâm hồn, khí phách, phẩm chất
17
của một cộng đồng. Nó được thử thách, cô đúc, tái tạo qua nhiều thế hệ kế
tiếp nhau trong những biến cố của lịch sử, trong sự giao lưu, tiếp xúc với
Văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là nền tảng tinh thần của xã hội, là
động lực thức đẩy sự phát triển của xã hội. Văn hóa truyền thống Việt Nam
là nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. GS.TSKH. Trần Ngọc
Thêm cho rằng: “Truyền thống văn hóa là những giá trị tương đối ổn định
(những kinh nghiệm tập thể) thể hiện dưới những khuôn mẫu xã hội được
tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và được cố định
hóa dưới dạng những phong tục tập quán, nghi lễ, luật pháp, dư luận…” (2,
tr.26). Song cũng có quan điểm cho rằng: “Nền văn hóa được truyền lại
được gọi là truyền thống văn hóa. Như vậy, nó phản ánh được những thành
tựu con người, tích tập được trong quá trình tìm hiểu, thực hiện và truyền
bá ý nghĩa sâu lắng nhất của cuộc sống. Đó chính là truyền thống theo
nghĩa hài hòa của nó như là một hiện thân của trí tuệ” (4, tr.19).
Ở Việt Nam đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, truyền thống “lá lành đùm
lá rách” trở thành những giá trị ổn định. Nó là những thước đo, khuôn mẫu
đánh giá nhân cách con người, hành vi của mỗi cá nhân và cả cộng đồng xã
hội. Tính giá trị, tính ổn định và tính lưu truyền đã tạo nên dáng vẻ riêng của
văn hóa truyền thống Việt Nam. Trong những cuộc đụng đầu lịch sử với
những kẻ thù hung bạo nhất, dân tộc ta tìm thấy sức mạnh vĩ đại trong những
giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam. Giữa truyền thống và truyền thống văn
hóa có mối quan hệ thống nhất nhưng không đồng nhất. Truyền thống mang
trong nó tính hai mặt. Một mặt, truyền thống góp phần suy tôn, giữ gìn những
gì quý giá, là cốt cách, là nền tảng cho sự phát triển của cộng đồng dân tộc, ở
góc độ này truyền thống mang những giá trị tích cực, là chỗ dựa không thể
thiếu của dân tộc trên con đường đi đến tương lai. Mặt khác, truyền thống còn
19
là nơi dung dưỡng duy trì, làm sống lại mặt bảo thủ lạc hậu khi điều kiện và
hoàn cảnh đã thay đổi. Mặt này góp phần kìm hãm, níu kéo làm chậm trễ sự
phát triển của một quốc gia dân tộc. Như vậy, văn hóa truyền thống là một bộ
phận của truyền thống, là mặt tích cực, mặt giá trị của truyền thống.Vì vậy,
hiện ở khả năng nhận thức, cải biến tự nhiên và xã hội theo quy luật, thông
qua hoạt động thực tiễn của con người, hướng tới sự nghiệp giải phóng con
người. Trong tư duy, sự phát triển biểu hiện ở khả năng nhận thức ngày
càng sâu sắc, đầy đủ hơn về tự nhiên và xã hội và nhận thức chính bản thân
con người. Phép biện chứng duy vật khẳng định phát triển là khuynh hướng
chung của các sự vật, hiện tượng nhưng không diễn ra một cách trực tuyến,
mà quanh co, phức tạp, theo hình xoáy ốc; trong đó có thể có bước thụt lùi
tương đối.
Phát triển được định nghĩa khái quát trong Từ điển Oxford là: “Sự
gia tăng dần của một sự vật theo hướng tiến bộ hơn, mạnh hơn ” (The
gradual grow of sth. so that it becomes more advanced, stronger ). Trong
Từ điển Bách khoa của Việt Nam, phát triển được định nghĩa là: “Phạm trù
triết học chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới”.
Con người và mọi sự vật đều thay đổi theo thời gian, nhưng sự phát triển
được bao hàm cả khía cạnh thay đổi theo hướng đi lên, hướng tốt hơn
tương đối. (Sự phát triển theo hướng đi lên như vậy, trong sinh học được
gọi đó là phát triển tiến bộ hay tiến hóa, và ngược lại là phát triển thoái bộ -
thoái hóa).
Khái niệm phát triển bền vững:
Phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự
phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát
triển trong tương lai. Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới của
21
nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã
hội, chính trị, địa lý, văn hóa riêng để hoạch định chiến lược phù hợp
nhất với quốc gia đó.
Thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980
trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn
Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất