Phát huy giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số tỉnh phú thọ hiện nay luận văn ths triết học 60 22 85 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

NGUYỄN THỊ NHƯ PHƯƠNG

PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG
CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TỈNH PHÚ THỌ HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2012


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

NGUYỄN THỊ NHƯ PHƯƠNG

PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG
CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TỈNH PHÚ THỌ HIỆN NAY

Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số
: 60 22 85

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN VĂN DƯƠNG

HÀ NỘI - 2012


dân tộc thiểu số trong tỉnh............................................................................... 70
3.2.2. Nâng cao dân trí và trình độ nhận thức của đồng bào các dân tộc trong quá
trình giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống ................................76
3.2.3. Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong tỉnh đáp ứng yêu cầu
phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc thiểu số ................................... 79
3.2.4. Kế thừa, phát huy những di sản văn hoá truyền thống tốt đẹp của dân tộc
thiểu số Phú Thọ đồng thời đẩy mạnh giao lưu, tiếp thu các giá trị văn hoá
của các dân tộc anh em ..................................................................................... 83
3.2.5. Phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Phú Thọ đi đôi với xây dựng nếp
sống văn hóa mới, bài trừ các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan ............................. 85


KẾT LUẬN ........................................................................................................................ 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................... 90


BẢNG QUY ƯỚC CHỮ VIẾT TẮT

NN & PTNT:

Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

THPT:

Trung học phổ thông

UBND:

Ủy ban nhân dân


văn hóa dân tộc. Định hướng dân tộc đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt
những văn kiện của Đảng về văn hóa, văn nghệ. Nghị quyết số 22 của Bộ
Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VI nhấn mạnh: “Tôn trọng
và phát huy những phong tục tập quán và truyền thống văn hóa tốt đẹp của
các dân tộc”. Đặc biệt là nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa VIII về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến
đậm đà bản sắc dân tộc khẳng định: “Bảo tồn, phát huy và phát triển văn
hóa các dân tộc thiểu số”.

1


Phú Thọ được coi là vùng đất tổ cội nguồn của Việt Nam thuộc khu
vực vùng núi trung du phía Bắc có diện tích là 3465 km2, nơi có hơn 20
dân tộc anh em chung sống: Tày, Việt, Mường, Dao, Thái, Nùng, Cao Lan,
Sán Chay,... với bản sắc văn hóa truyền thống phong phú, đa dạng. Sau
thời gian sát nhập thành tỉnh Vĩnh Phú, từ ngày 1-1-1997, Phú Thọ được tái
lập và công nhận là một tỉnh miền núi. Phú Thọ là vùng đất cổ có nền văn
hóa rực rỡ lâu đời, là cái nôi của nền văn hóa Lạc Việt, trung tâm sinh tụ
của người Việt Cổ thời các vua Hùng dựng nước Văn Lang. Các dân tộc
trong tỉnh cũng có những bản sắc riêng độc đáo của mình : người Mường có
hát ví, hát đúm, ném còn, hội cồng chiêng, người Dao có tết Nhảy, người
Việt có hát xoan, hát ghẹo, chọi trâu,…
Thực hiện Nghị quyết Trung ương khóa VIII về một số nhiệm vụ văn
hóa văn nghệ trước mắt để chấn hưng nền nghệ thuật dân tô ̣c , đặc biệt là
Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về “xây dựng và phát triển nền văn hóa
Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân ,
Ủy ban nhân dân, Sở Văn hóa Thông tin đã chủ động xây dựng kế hoạch
phát triển các hoạt động văn hóa với hình thức đa dạng làm phong phú
thêm đời sống tinh thần của nhân dân đồng thời bảo tồn và phát huy di sản

số tỉnh Phú Thọ hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sỹ. Đây là đề tài chứa
đựng nhiều vấn đề lí luận và thực tiễn góp phần đi sâu nghiên cứu về các
giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số Phú Thọ giai đoạn
hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong thời gian qua đã có nhiề u công trình, đề tài nghiên cứu về văn
hóa, văn hóa các dân tộc thiểu sổ ở Việt Nam nói chung và văn hóa các dân
tộc Phú Thọ nói riêng. Thực hiện chủ trương chính sách của Đảng, Nhà
nước đối với phát triển miền núi và vùng dân tộc thiểu số, đặc biệt là vấn
đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống thì lĩnh vực này
đang ngày càng được quan tâm, trong đó phải kể đến các công trình nghiên
cứu:
Các công trình nghiên cứu về văn hóa dân tộc và văn hóa dân tộc
thiểu số như: “Bản sắc dân tộc của văn hóa”, Viện văn hóa, 1990, Đỗ Huy -

3


Trường Lưu; “Suy nghĩ về về bản sắc văn hóa dân tộc”, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 1994; Nguyễn Từ Chi “Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc
người”, Nxb Văn hóa dân tộc, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, Hà Nội, 2003,
Trần Văn Bính chủ biên; “Văn hóa các dân tộc Tây Bắc - thực trạng và
những vấn đề đặt ra”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004. Phan Hữu
Dật, "Góp phần nghiên cứu dân tộc học Việt Nam", Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2004. Qua các công trình này, các tác giả đã khái quát một cách có
hệ thống những nét truyền thống đặc trưng, vai trò,… của văn hóa trong
đời sống kinh tế xã hội nước ta hiện nay.
Các công trình tiêu biểu nghiên cứu về văn hóa các dân tộc Phú
Thọ: Nguyễn Ngọc Thanh “Gia đình và hôn nhân của người Mường ở tỉnh
Phú Thọ”, Luận án tiến sỹ khoa học lịch sử, Viện dân tộc học, Hà Nội,

văn hóa các dân tộc trong một nền văn hóa thống nhất. Tuy nhiên, các công
trình trên chỉ đề cập một cách khái quát hoặc một số khía cạnh của văn hóa
dân tộc và văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số Phú Thọ. Trước
những yêu cầu và nhiệm vụ của thời kì mới, việc phát huy giá trị văn hóa
truyền thống độc đáo của các dân tộc thiểu số tỉnh Phú Thọ là cần thiết
nhưng cho đến nay những công trình nghiên cứu vấn đề này còn rất thiếu.
Vì vậy, nghiên cứu một cách cơ bản và hệ thống về việc phát huy các giá
trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số tỉnh Phú Thọ được đặt ra đặc
biệt là giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu các giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc
thiểu số ở tỉnh Phú Thọ và thực trạng phát huy giá trị văn hóa truyền thống,
khảo sát đánh giá thực trạng của quá trình phát huy giá trị văn hóa truyền
thống đó, luận văn đề xuất hệ giải pháp phát huy các giá trị văn hóa truyền
thống của các dân tộc thiểu số Phú Thọ trong thời gian tới.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nghiên cứu đã đặt ra, luận văn tập trung giải
quyết những nhiệm vụ sau:

5


Thứ nhất, làm nổi bật những đặc trưng của các giá trị văn hóa truyền
thống Phú Thọ trong quá trình phát triển.
Thứ hai, đánh giá thực trạng phát huy các giá trị văn hóa truyền
thống các dân tộc thiểu số Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay.
Thứ ba, nêu lên phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằ m phát huy
các giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số Phú Thọ giai đoạn
hiện nay.

của các dân tộc thiểu số tỉnh Phú Thọ, sự tác động của thời kì đổi mới, hội
nhập đối với các giá trị văn hóa truyền thống của các đồng bào thiểu số
trong tỉnh, từ đó đề xuất một số phương hướng và giải pháp phát huy giá trị
văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số tỉnh Phú Thọ hiện nay.
Ở một mức độ nhất định, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể
được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy những
nội dung có liên quan đến vấn đề giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền
thống các dân tộc thiểu số, giúp cho việc nhận thức đúng đắn về sự cần
thiết phải kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong quá
trình giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, pần kết luận, luận văn được kết cấu thành 3
chương, 6 tiết:
Chương 1: Quan niệm về văn hóa và vai trò của việc phát huy các
giá trị văn hóa truyền thống dân tộc thiểu số đối với sự phát triển kinh tế xã
hội tỉnh Phú Thọ.
Chương 2: Thực trạng của việc phát huy giá trị văn hóa truyền thống
các dân tộc thiểu số tỉnh Phú Thọ hiện nay.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp cơ bản phát huy giá trị văn hóa
truyền thống các dân tộc thiểu số tỉnh Phú Thọ trong những năm tới.

7


Chương 1
QUAN NIỆM VỀ VĂN HÓA VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆC PHÁ T HUY
GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
ĐỐI VỚI SỰ PHÁ T TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH PHÚ THỌ

1.1. Khái niệm văn hóa và giá trị văn hóa truyền thống dân tộc

ng thời cũng là

tiêu chí cơ bản để phân biệt sản phẩm nhân tạo với sản phẩm tự nhiên

8

. Văn


hóa xuất hiện một cách chủ động và có ý thức của con người với tự nhiên , nên
văn hóa cũng là sản phẩ m của sự thić h nghi ấ y

. Do vậy, trình độ phát triển

của văn hóa phụ thuộc vào trình độ nhận thức và sức sáng tạo của con người
trong quá trình hoạt động thực tiễn của họ. Nếu tách văn hóa ra khỏi đời sống
của con người và xã hội loài người thì văn hóa chẳng còn ý nghĩa gì cả.
C.Mác cho rằng: “con người sản xuất” là một “thực thể song trùng” thống
nhất giữa “cái tự nhiên và cái xã hội”. Con người là sản phẩm tự nhiên, là kết
quả của quá trình tiến hoá lâu dài của giới hữu sinh đêù phải tuân theo quy
luâ ̣t vốn có của tự nhiên... Song con người không phải là động vật thuần tuý
như các động vật khác mà xét trên khía cạnh xã hội thì con người là động vật
có tính xã hội, con người là sản phẩm của xã hội, mang bản tính xã hội.
Những yếu tố xã hội là tất cả những quan hệ, những biến đổi xuất hiện do ảnh
hưởng của các điều kiện xã hội khác nhau, những quy định về mặt xã hội ta ̣o
nên con người. Con người chỉ có thể tồn ta ̣i được khi tiến hành lao động sản
xuất của cải vật chất để thoả mãn nhu cầu mình và chính lao động sản xuất là
yếu tố quyết định hình thành con người và ý thức. Lao động là nguồn gốc duy
nhất của văn hoá vật chất và tinh thần. Trong quá trình lao đô ̣ng sản xuât, bản
chất của con người thể hiện ra trong mối quan hệ giữa mỗi người với người

Trong quá trình lao động, con người đã in dấu mình vào trong từng
khâu, từng yếu tố, từng mặt, từng bộ phận… của thành quả lao động, làm cho
tự nhiên tự hiện hình trong hoạt động của con người. C.Mác viết: “…Bằng
thực tiễn, bằng con đường cách mạng; họ sẽ làm cho “tồn tại” của mình phù
hợp với bản chất của mình” [40, tr.507]. Sự thić h nghi của con người với tự
nhiên không phải là sự thić h nghi máy móc mà là sự thić h nghi có

sáng tạo ,

phù hợp với các giá tri ̣chân - thiê ̣n - mỹ. Như vậy, theo C.Mác, văn hóa được
hình thành và phát triển trên cơ sở sự hình thành và phát triển con người.
Thước đo của sự tiến bộ và phát triển này chính là mức độ hình thành và phát
triển bản chất người trong quá trình con người chinh phục và biến đổi tự

10


nhiên, trong mối quan hệ giữa con người với cộng đồng, mà bao trùm là quan
hệ giữa đời sống tinh thần và không gian sống vật chất của con người và của
xã hội loài người. Nếu môi trường đầu tiên cho con người sự hình thành và
phát triển, quyết định sự tồn tại của con người là sản xuất vật chất, thì môi
trường thứ hai cho con người bộc lộ, phát huy những năng lực và bản chất
người trong các hoạt động sống, đó chính là sản xuất văn hóa.
Quan niệm của V.I.Lênin về văn hóa khá rộng và bao quát. Từ cách
tiếp cận hình thái kinh tế - xã hội, V.I.Lênin cho rằng: Sự phát triển của văn
hóa gắn liền với sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội, mỗi một hình
thái kinh tế - xã hội có một nền văn hóa tinh thần đặc trưng (như một giá trị
lịch sử), khi hình thái kinh tế - xã hội thay đổi, thì nền văn hóa tương ứng với
nó cũng có sự thay đổi nhất định. Đây không có nghĩa là sự đứt đoạn hay
đoạn tuyệt với các giá trị văn hóa truyền thống, mà trong quá trình chuyển

bịa đặt ra… văn hóa vô sản phải là sự phát triển hợp quy luật của vốn kiến
thức mà loài người đã tạo ra dưới ách áp bức của xã hội tư bản, địa chủ và của
xã hội quan liêu [34, tr.402].
Người cũng chỉ ra rằng, chỉ có xây dựng thành công chủ nghiã xã hô ̣i ,
chủ nghĩa cộng sả n thì con người mới có điều kiện thể hiện đầy đủ năng lực
sáng tạo, trình độ làm chủ của mình trước tự nhiên, xã hội và ngay cả trước
bản thân mình. Từ đó, con người và xã hội loài người mới có điều kiện xây
dựng và phát triển sự công bằng, bình đẳng, tự do cho bản thân, các tiêu chí:
chân, thiện, mỹ… mới được xác lập và hoàn thiện, hoạt động sáng tạo của con
người mới có đầy đủ điều kiện đạt tới trình độ nhân văn đích thực. Có thể nói
một cách bao quát: Tất cả những gì có quan hệ với con người (con người với
tư cách cá nhân và cộng đồng) với mọi cách thức tồn tại của nó đều là biểu
hiện của văn hóa.
Kế thừa tư tưởng chủ nghiã Mác -Lênin, Hồ Chí Minh - nhà mácxit Việt
Nam đầ u tiên đã đưa ra mô ̣t đinh
̣ nghiã ở cấ p đô ̣ khái quát về văn hóa đã viế t :
"Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và
phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn

12


học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các
phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn
hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu
hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời
sống và đòi hỏi của sự sinh tồn" [41, tr.431].
Quan điểm của người đã khái quát được nội dung rộng nhất của phạm
trù văn hoá, chỉ ra văn hoá không chỉ bao hàm các hoạt động tinh thần của con
người mà còn bao hàm trong đó cả những hoạt động vật chất. Người cũng chỉ

đã diễn ra trong quá khứ cũng như trong hiện tại. Qua hàng thế kỷ các hoạt
động sá ng tạo ấy đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống thị
hiếu thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc khẳng định bản sắc
riêng của mình” [52, tr.5].
UNESCO thừa nhận văn hóa là cội nguồn trực tiếp của phát triển xã
hội, có vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết xã hội. Nó không những là
yếu tố nội sinh của sự phát triển, mà còn là mục tiêu động lực cho sự phát
triển xã hội. Văn hóa là những gì còn lại sau những chu trình lịch sử khác
nhau, qua đó người ta có thể phân biệt được các dân tộc với nhau. Thông qua
mỗi chu kỳ của sự phát triển, các dân tộc đó tương tác với mình và với những
dân tộc khác cái còn lại được gọi là bản sắc. Theo cách tiếp cận này, văn hóa
là cái bản sắc để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác.
Trong quan niệm của Đảng ta, văn hoá là một lĩnh vực thực tiễn của
đời sống xã hội, nó cũng có quy luật vận động phát triển riêng, trong đó tính
dân tộc được coi là thuộc tính cơ bản của văn hoá, phản ánh mối quan hệ giữa
dân tộc và văn hoá trong điều kiện dân tộc đã hình thành. Tính dân tộc là nội
dung quan trọng luôn được Đảng ta đặt lên vị trí hàng đầu. Trong bản đề
cương văn hoá (1943) Đảng ta khẳng định nền văn hoá mới, phải đảm bảo
tính dân tộc, tức là bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống của văn hoá
dân tộc. Quan điểm này tiếp tục được khẳng định trong suốt quá trình tiến
hành cuộc cách mạng tư tưởng văn hoá. Tới Hội nghị Trung ương 5 khoá VIII
quan điểm đó được cụ thể hoá trong nghị quyết “Xây dựng và phát triển nền
văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Gần đây tại Đại hội IX,
nghị quyết Đại hội một lần nữa khẳng định: “Xây dựng nền văn hoá tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển
xã hội [16, tr.114].

14




16


nhiều trường hợp là định hướng phát triển cơ bản của đời sống tinh thần nhân
loại trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định [20, tr.129].
Theo đây, giá trị gắn liền với tư tưởng, cụ thể hơn, gắn với quan niệm về
lợi ích của một cộng đồng nhất định, mà hạt nhân của nó là quan điểm giai cấp.
Giá trị văn hoá được xem là sự kết tinh những thành tựu của con người
trong quá trình hoạt động thực tiễn, cải tạo thế giới và cải tạo chính bản thân.
Đó là những phẩm chất cao quý, có ý nghĩa mà cả xã hội cùng ao ước và chia
sẻ. Ví dụ: lòng yêu nước, lòng nhân ái, đức tính bao dung, tinh thần đoàn kết...
Giá trị không tồn tại riêng lẻ mà hợp thành một hệ thống phản ánh quan
niệm thống nhất của một cộng đồng về ý nghĩa của các sự vật, hiện tượng
trong đời sống. Do vậy, giá trị như hạt nhân tinh thần liên kết cộng đồng, là
tấm biển chỉ dẫn hành vi của con người. Các nhà nghiên cứu Nga cho rằng
với tư cách là yếu tố điều chỉnh, giá trị "thống trị" đời sống văn hoá.
Có nhiều quan niệm về hệ thống các giá trị. Nho giáo Trung Hoa đề
cao trung, hiếu, tiết, nghĩa. Trong khi đó, người Nhật đề cao thiện - ích - mỹ.
Nếu xem xét hoạt động sống của con người từ ba góc độ nhận thức,
hành động và cảm xúc, chúng ta thấy hệ giá trị văn hoá bao gồm ba phạm trù
cơ bản là: Chân - Thiện - Mỹ. Trong đó, Chân là đối tượng của nhận thức và
sáng tạo khoa học, Thiện là đối tượng của nhận thức và hành vi đạo đức, Mỹ
là đối tượng của nhận thức và hoạt động thẩm mỹ - nghệ thuật. Chân, Thiện
và Mỹ thống nhất nhau, phản ánh quan niệm của con người về những mối
quan hệ ứng xử với tự nhiên và xã hội, khả năng sáng tạo theo các quy luật của
cái đẹp của con người. Phạm trù Chân - Thiện - Mỹ đã hàm nghĩa phân biệt với
các hiện tượng phản giá trị đối lập như: giả - ác - xấu. Điều này cũng cho thấy
văn hoá là quá trình vận động của chủ thể người và xã hội theo hướng ngày càng
tiếp cận và khẳng định các giá trị Chân - Thiện - Mỹ, đấu tranh với cái phản giá

giá trị nhất định đối với từng nhóm người, từng giai cấp, cộng đồng và xã hội
nói chung” [25, tr.113].

18


Như vậy có thể khái quát văn hóa truyền thống có những tính chất cơ
bản:
Thứ nhất: Tính giá trị. Cũng như văn hóa nói chung, văn hóa truyền
thống mang tính giá trị. Đối với mỗi dân tộc, văn hóa là căn cước, là chứng
chỉ, nó chỉ rõ anh là ai, thiếu nó anh không tồn tại như một giá trị. Bản sắc
dân tộc bao gồm cả hai mặt: Một mặt, nó là cái cốt lõi bên trong, cái sức mạnh
tiềm tàng, bền vững, nó chi phối tư tưởng, hành vi của dân tộc. Mặt khác, nó
là biểu hiện ra bên ngoài thành những phong tục, tập quán trong sinh hoạt,
thường được gọi là hình thức, màu sắc, hay sắc thái dân tộc.
Về mặt lịch sử, cái “tự nhiên thứ hai”, cái tự nhiên rất người, hay văn hóa
không phải được tạo ra một lần và tồn tại mãi mãi, mà ở các cộng đồng người
khác nhau, không gian và phương thức sống khác nhau thì văn hóa sẽ mang
những diện mạo khác nhau. Hạt nhân của mỗi nền văn hóa là hệ thống các giá
trị. Hệ giá trị (hay bảng giá trị) là một tập hợp các phạm trù giá trị khác nhau,
được cấu trúc theo những thứ bậc khác nhau, và có mối liên hệ có tính lịch sử
cụ thể với nhau để thực hiện một hay một số chức năng nhất định. Nó có tính
phát triển nội tại và có khả năng chuyển hóa sang một hệ thống khác, nhằm
thích ứng với điều kiện và môi trường lịch sử - xã hội. Hạt nhân của mỗi nền
văn hóa là hệ thống giá trị. Có thể coi hệ thống giá trị là chỉ số đánh giá trình
độ và tính chất đã đạt được của một nền văn hóa.
Văn hóa truyền thống trở thành một bộ phận thiết yếu của cuộc sống và
góp phần phát triển cuộc sống. Văn hóa truyền thống mang giá trị bởi vì đó là
những chuẩn mực, là thước đo cho hành vi đạo đức, cho những quan hệ ứng
xử giữa người với người trong một cộng đồng, một quốc gia, một dân tộc nhất

lại tách rời khỏi những giá trị của truyền thống, đoạn tuyệt với những giá trị
làm nên bản sắc độc đáo của một dân tộc nhất định (dù đó là dân tộc đa số
hay dân tộc thiểu số) và giá trị vượt không gian, vượt thời gian của mọi nền
văn hoá, đó chính là chân, thiện, mỹ, là những giá trị được lưu truyền hàm
chứa trong di sản văn hoá vật thể, phi vật thể của mỗi dân tộc.

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status