MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài:
1.
Trong nền kinh tế quốc dân, công nghiệp là ngành sản xuất giữ vai trò
rất quan trọng. Ngành công nghiệp sản xuất ra một khối lượng sản phẩm
khổng lồ phục vụ cho đời sống xã hội. Công nghiệp không những cung cấp
hầu hết các tư liệu sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho tất cả các
ngành kinh tế mà còn tạo ra các sản phẩm tiêu dùng có giá trị, góp phần phát
triển nền kinh tế và nâng cao trình độ văn minh của toàn xã hội. Công nghiệp
còn có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành kinh tế khác như nông
nghiệp, giao thông vận tải, thương mại, dịch vụ và củng cố an ninh quốc
phòng... Không một ngành kinh tế nào lại không sử dụng các sản phẩm của
công nghiệp. Vì vậy, để đưa đất nước thoát khỏi đói nghèo và lạc hậu, đối với
các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam thì phát triển công nghiệp là
tất yếu. Phát triển công nghiệp được coi là điều kiện tiên quyết để thực hiện
thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Nhận thức rõ vai trò to lớn của công nghiệp đối với sự phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước, trong đường lối đổi mới của Đảng đã đề cập đến vấn
đề phatsb triển công nghiệp. Trong Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã nêu rõ:
Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ
đưa đất nước ta trở thành một nước công nghiệp. Thực hiện đường lối đổi mới
của Đảng từ năm 1986 đến nay nền kinh tế nước ta có bước phát triển rõ rệt đã
dạt được nhiều thành tựu to lớn đưa nước ta thoát khỏi tình trạng khủng hoảng
kinh tế- xã hội, hội nhập với nền kinh tế quốc tế và khu vực.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của đất nước trên con đường đổi mới,
từ xưa đến nay nhân dân Hà Nam không chỉ được biết đến là vùng đất giàu
truyền thống đấu tranh, và giàu truyền thống hiếu học mà ngày nay Hà Nam
còn được biết đến như một điểm sang về phát triển kinh tế nhất là kinh tế công
nghiệp. Hà Nam đang có sự chuyển mình mạnh mẽ với những bước đi trên con
Cuốn "Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hà Nam" tập I, (1930 - 1975), NXB Chính trị
Quốc gia của Ban Chấp hành Đảng bộ Hà Nam, 1996, đã nêu lên một vài nét sơ
lược về tình hình sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp dưới thời Pháp thuộc.
Cuốn "Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hà Nam" tập II (1975 - 2000), NXB Chính trị
Quốc gia của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Nam, 2005, đã ghi lại các sự kiện
tiêu biểu, những cống hiến, đóng góp của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Hà Nam trong
suốt 25 năm xây dựng và bảo vệ quê hương, đẩy mạnh phát triển kinh tế, xã hội,
thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Qua đó, tình hình và
sự phát triển ngành công nghiệp cũng được phản ánh khá sinh động.
Ngoài ra còn có các bài báo đăng trên báo Hà Nam đề cập đến những
vấn đề phát triển của nền công nghiệp Hà Nam trong thời gian 1997-2013.
3
3
Có thể thấy, những tác phẩm trên đã đề cập đến các mặt khác nhau về tình
hình phát triển công nghiệp tỉnh Hà Nam trong thời kỳ đổi mới. Nhưng những tác
phẩm trên mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả ở từng mặt, ở từng thời gian
khác nhau. Việc nghiên cứu một cách tổng thể và hệ thống về quá trình phát triển
công nghiệp của tỉnh Hà Nam từ 1997 đến 2013 thì chưa có công trình lịch sử
chuyên biệt nào tập trung nghiên cứu. Chính vì vậy, mà tôi chọn đề tài này để
nghiên cứu và các công trình trên đã cung cấp nguồn tư liệu quan trọng, phong phú
và gợi ý phương hướng để tôi nghiên cứu đề tài này.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ đề tài
* Mục tiêu: Tìm hiểu tình hình phát triển công nghiệp của tỉnh Hà Nam
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa để làm sáng rõ hơn quá trình
công nghiệp hóa của cả nước nói chung và của địa phương nói riêng.
* Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng 2 phương pháp chủ yếu là phương pháp lịch sử kết
hợp với phương pháp lôgic.
Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số phương pháp bổ trợ khác như:
phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh... nhằm đảm bảo tính
khách quan, khoa học của các nội dung nghiên cứu.
6. Đóng góp của luận văn.
Khi nghiên cứu đề tài “Công nghiệp Hà Nam 1997-2013” khóa luận đã
hệ thổng hóa những chủ trương, chính sách phát triển công nghiệp của Hà
Nam trong thời kì đổi mới. Đồng thời luận văn cũng đã dựng lại bức tranh về
tình hình phát triên công nghiệp Hà Nam từ khi tái lập tỉnh đến năm 2013.
Thông qua đó luận văn đã rút ra những bài học kinh nghiệm đề xuất những
giải pháp pháp triển công nghiệp của địa phương trong thời gian tới. Khóa
luận còn là nguồn tài liệu nghiên cứu cho nhiều công trình có liên quan.
Ngoài ra, luận văn còn cung cấp nguồn tư liệu hoàn chỉnh, hệ thống về
tình hình phát triển công nghiệp cho các nhà nghiên cứu về Hà Nam.
7. Bố cục của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, phần nội dung được
chia làm 3 chương sau.
5
5
Chương 1: Các điều kiện tác động đền sự phát triển công nghiệp của
tỉnh Hà Nam
Chương 2: Tình hình công nghiệp tỉnh Hà Nam trong thời kì 1997 -2013
Chương 3: Tác động của sự phát triển công nghiệp đến tình hình kinh
tế- xã hội tỉnh Hà Nam thời kì 1997- 2013
xe nối liền Hà Nam vời Hưng Yên qua sông Hồng có tác dụng lớn rút ngắn
đoạn đường vận chuyển giảm lượng xe không cần qua Hà Nội trong lưu thông
đường bộ từ các tỉnh phía Đông như Hưng Yên, Hải Dương, Quảng Ninh, Hải
Phòng….với các tỉnh phía Nam đồng bằng Bắc Bộ như Nam Định, Ninh
Bình…và theo chiều ngược lại.
Hệ thống đường tỉnh (tính cả đường nội thị) của Hà Nam cũng khá phát
triển. Tổng chiều dài của mạng đường tỉnh là 312km với 35 tuyến, trong đó
tỉnh quản lý 7 tuyến còn lại ủy thác cho các huyện quản lý. Các đường tỉnh
đều đạt tiêu chuẩn đường cấp V hoặc cấp IV đồng bằng. Không những thế Hà
Nam còn được đánh giá là một trong những tỉnh có hệ thống giao thông nông
thôn hiện đại và đồng bộ. Tính đến thời điểm hiện nay mạng lưới giao thông
nông thôn có tổng chiều dài 4519 km, trong đó đường huyện:192 km, đường
xã và liên xã: 666 km, đường thôn xóm đường ra đồng: 3661 km. Toàn bộ các
tuyến đường này đều được rải nhựa hoặc đổ bê tông, mặt đường tương đối
rộng, bằng phẳng, đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân trong tỉnh.
Đường sắt: có đường sắt Bắc Nam dài 30km và 10km đường chuyên
dùng. Có 3 ga chính: ga Đồng Văn, ga Phủ Lý, ga Bình Lục và các ga đều
nằm ở trung tâm thành phố, thị trấn nền rất thuận tiện cho vận chuyển hàng
hóa và nhân dân đến các tỉnh trong cả nước. Đường sắt chuyên dùng (Phủ LýKiện Khê) đi và khu sản xuất VLXD phục vụ trực tiếp việc cung cấp nguyên
vật liệu, tiêu thụ sản phẩm đá, xi măng, vôi, bột nhẹ….
Đường sông: trên địa bàn Hà Nam có 2 sông lớn do trung ương quản lý
là sông Hồng và sông Đáy, ngoài ra còn có các sông khác.
Sông Hồng dài khoảng 35km nằm ở phía Bắc và Đông Bắc của tỉnh
chảy qua 2 huyện Duy Tiên và Lý Nhân rất thuận lợi cho vận tải đường thủy
Sông Đáy nằm ở phía Tây của tỉnh có chiều dài 40km chảy qua 2 huyện
Kim Bảng và Thanh Liêm. Hiện nay đoạn sông Đáy qua Hà Nam chưa được
nạo vét. Đoạn từ Phủ Lý đến xã Thanh Hải huyện Thanh Liêm vẫn đảm bảo
cho tàu có trọng tải 200- 300 tấn đi lại thuận tiện
7
khu vực và quốc tế tạo điều kiện cho Hà Nam phát triển kinh tế và ngành
công nghiệp.
8
8
1.1.2. Địa hình, đất đai
* Về địa hình
Do vị trí địa lý nằm ở rìa phía châu thổ Đồng bằng sông Hồng - nơi có
sự đan xen giữa đồng bằng với núi đồi thuộc phức hệ Tây Bắc nước ta nên Hà
Nam có địa hình rất đa dạng và phức tạp, vừa có đồi núi và nửa đồi núi, vừa
có đồng bằng, vừa có vùng trũng Có thể chia địa hình theo 2 vùng chính:
- Đị a hì nh đồ i nú i : nằ m ở phí a Tây và Tây Nam củ a tỉ nh thuộ c 2
huyệ n Thanh Liêm và Kim Bả ng chiế m 20% diệ n tí ch toà n tỉ nh, có độ
cao tuyệ t đố i 378m, là vù ng tậ p trung nhiề u khoá ng sả n đá vôi, than
bù n….đây là tiề m năng lớ n cho phá t triể n công nghiệ p củ a tỉ nh đặ c biệ t
là công nghiệ p vậ t liệ u xây dự ng.
- Vùng đồng bằng : chiếm 71,1% diện tích tự nhiên, độ cao trung bình
0,9-1,2m so với mặt nước biển. Đất ở vùng này chủ yếu là đất phù sa được
bồi và không được bồi, tập trung một phần huyện Thanh Liêm và Kim Bảng,
còn lại chủ yếu ở Thành phố Phủ Lý, huyện Lý Nhân, Duy Tiên, Bình Lục.
Tiềm năng phát triển của vùng là nông nghiệp: Trồng lúa, rau màu, cây công
nghiệp ngắn ngày. Đây chính là nguồn nguyên liệu dồi dào cung cấp cho
ngành công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm. Đặc biệt với địa hình
bằng phẳng như vậy sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dưng các khu
công nghiệp và cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh.
* Về đất đai
Bảng 1.1: Hiện trạng sử dụng đất năm 2013
TT
5,2
8,4
Nguồn: [51, tr.7]
Qua bảng số liệu ta thấy tổng quỹ đất tự nhiên của tỉnh tính đến năm
2012 là 85.169 ha, đứng thứ 7 về diện tích tự nhiên trong 11 tỉnh, thành phố
thuộc khu vực Đồng bằng sông Hồng. Trong đó, tổng quỹ đất dùng cho sản
xuất (bao gồm đất nông nghiệp và lâm nghiệp) chiếm đa số,trên 70% diện tích
tự nhiên. Chỉ tính riêng đất nông nghiệp chiếm tới 60,9%, hơn một nửa tổng
diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Với tiềm năng đất đai như vậy sẽ tạo điều kiện
cho Hà Nam phát triển kinh tế nông nghiệp cho nông nông nghiệp nhiều,
cung cấp nguồn nguyên liệu dồi dào cho công nghiệp chế biến của ngành
công nghiệp. Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có 7.214 ha đất chưa sử dụng,
chiếm 8,4% diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Đây cũng là tiềm năng có thể khai
thác sử dụng để phục vụ cho phát triển sản xuất công nghiệp.
Như vậy với nguồn tài nguyên đất đai đa dạng và phong phú như vậy,
tỉnh Hà Nam có điều kiện để phát triển một nền nông nghiệp theo hướng đa
dạng hóa, sẽ cung cấp nguồn nguyên liệu phong phú cho công nghiệp. Ngoài
ra với diện tích đất chưa sử dụng còn khá lớn ta có thể khai thác vào việc xây
dựng các nhà máy xí nghiệp, xây dựng các cơ sở công nghiệp trong toàn tỉnh.
1.1.3. Tài nguyên thiên nhiên
* Tài nguyên rừng
Theo thống kê năm 2010 tiềm năng đất lâm nghiệp ở Hà Nam là 8.769
ha chiếm 10,3 % diện tích đất tự nhiên và tập trung chủ yếu ở hai huyện Kim
Bảng và Thanh Liêm. Trong đó diện tích rừng tự nhiên là 6.917 ha và rừng
trồng là 1.852 ha. Tài nguyên rừng của tỉnh có giá trị không lớn nhưng đây
cũng là nguồn nguyên liệu quan trọng cung cấp một phần nguyên liệu cho
ngành công nghiệp chế biến gỗ của tỉnh Hà Nam
* Tài nguyên nước
thuận lợi…làm cho chi phí khai thác, chế biến thấp tạo lợi thế tuyệt đối với
các tỉnh lân cận.
- Đất sét: Tổng trữ lương đất sét ở Hà Nam khoảng 400 triệu tấn, trong
đó đất sét chuyên làm nguyên liệu sản xuất xi măng khoảng 331 triệu tấn có
hàm lượng Al203 từ 7,4 đến 18,6 %. Các mỏ sét phục vụ xi măng tập trung
chủ yếu ở các huyện Thanh Liêm, Kim Bảng. Ngoài ra Hà Nam có nguồn đất
sản xuất gạch, ngói rất phong phú dọc song Hồng qua 2 huyện Duy Tiên và
11
11
Lý Nhân cho phép xây dựng các lò sản xuất gạch tuynel lớn. Hàng năm sản
xuất trên 350 triệu viên phục vụ xây dựng của nhân dân trong và ngoài tỉnh.
- Cát san lấp và xây dựng: Hà Nam có nguồn cát đen tập trung chủ yếu
ở ven sông Hồng, sông Đáy thuộc các huyện Duy Tiên, Lý Nhân, Kim Bảng,
Thanh Liêm và thành phố Phủ Lý cung cấp cho thị trường hàng trăm nghìn
m3/năm. Tuy nhiên chỉ có nguồn cát ở ven sông Hồng có thể khai thác thường
xuyên và có trữ lượng lớn, còn nguồn cát ở sông Đáy nếu khai thác nhiều sẽ
ảnh hưởng đến môi trường. Hiện nay tỉnh quản lý và nghiêm cấm khai thác
cát trên sông Đáy.
- Than bùn: các mỏ than bùn có trữ lượng trên 6 triệu m 3 ở Ba Sao và
hồ Liên Sơn (Kim Bảng). Mỏ than bùn Ba Sao dài khoảng 2km, rộng 1-2km,
chỗ dày nhất lên tới 1,5m. Mỏ than hồ Liên Sơn có chiều dài 800-900m, rộng
200- 300m, dày gần 2m có trữ lượng khoảng 7,296 triệu tấn.
- Cá t kế t: mỏ cá t kế t Khe Non huyệ n Thanh Liêm đượ c khai thá c sử
dụ ng là m phụ gia cho sả n xuấ t xi măng ở Hà Nam, trữ lượ ng khoả ng
19,22 triệ u tấ n.
*Tài nguyên du lịch
đảm nhiệm 1 máy dệt. Trong làng cũng hình thành sự phân công lao động
theo hướng chuyên môn hóa theo mặt hàng và theo công đoạn sản xuất. Sản
phẩm lụa, đũi tơ tằm của Nha Xá hiện được tiêu thụ khắp các vùng, miền
trong nước và xuất khẩu ra nhiều nước trên thế giới.Nghề thêu ren ở Thanh
Hà (huyện Thanh Liêm) gồm 7 thôn, nằm cạnh quốc lộ 1A. Từ năm 1990 đến
nay do chuyển đổi cơ chế thị trường truyền thống bị thu hẹp nên nghề thêu
ren gặp không ít khó khăn song cũng tìm được hướng đi để tồn tại và phát
triển. Hiện nay sản phẩm thêu ren đã xuất đi nhiều nước chủ yếu là các nước
Châu Âu và Bắc Á. Làng nghề làm rũa cưa ở xã An Đổ (huyện Bình
Lục).Các công đoạn của nghề này cũng có sự phân công theo hướng chuyên
môn hóa theo các hộ nên sản phẩm có số lượng và chất lượng ngày càng cao..
Làng nghề làm bánh đan nem, bánh đa khô, bánh thái các loại ở xã Hòa LýNguyên Lý- Lý Nhân, sản lượng mỗi năm lên tới 2000- 2500 tấn, tiêu thụ
khắp các nơi cả Nam Định, Hà Nội, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh và
13
13
nhiều nơi khác. Trong đó có hàng trăm tấn sản phẩm được xuất khẩu ra nước
ngoài. Ngoài ra ở Hòa Lý còn có nhiều nghề khác như xay xát, buôn bán thóc
gạo, …Nghề làm trống ở Đọi Tam (Huyện Duy Tiên) có từ rất lâu đời và rất
nổi tiếng.Trống Đọi Tam hiện nay được bán ở rất nhiều nơi kể cả thị trường
nước ngoài, phần lớn làm theo đơn đặt hàng với nhiều loại kích cỡ và mẫu mã
đáp ứng mọi yêu cầu của khách hàng.Đây chính là tiềm năng để Hà Nam phát
triển ngành tiểu thủ công nghiệp với nhiều sản phẩm phong phú và đa dạng sẽ
cung cấp nguồn nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp của tỉnh, nâng
cao đời sống của nhân dân phát triển kinh tế xã hội.
Trải qua hàng nghìn năm chinh phục thiên nhiên, đức tính cần cù, lòng
dũng cảm, sự sáng tạo trong lao động của nhân dân Hà Nam đã được hun
đúc. Bằng sức lực trí tuệ của mình, trong quá trình hoạt động phát triển
đảm bảo chi thường xuyên cho hoạt động giáo dục chiếm tỷ lệ trung bình
19,8% tổng chi ngân sách của tỉnh hàng năm với mức tăng trưởng bình quân
19,1%/năm. Hà Nam cũng là một trong những tỉnh đầu tiên của cả nước hoàn
thành mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học năm 1999, bậc trung học cơ sở năm
2002 đồng thời giữ vững và duy trì thành quả đó. Toàn tỉnh hiện nay có 405
trường học ở 4 bậc học phổ thông, trong đó bậc mầm non là 120 trường,
trường trung học phổ thông là 25 trường, trong 14 năm (1997-2010) đã thành
lập thêm 22 trường. Chất lượng giáo dục từng bước được cải thiện tỷ lệ thu
hút học sinh vào bậc THPT tăng lên. Năm học 2009-2010 đạt 7,3% vượt mục
tiêu đại hội XVII. Hà Nam còn có 9 trường đang hoạt động đào tạo là: 1
trường đại học, 6 trường cao đẳng và cao đẳng nghề, 2 trường trung cấp
chuyên nghiệp và trung cấp nghề đã đào tạo nhiều ngành nghề với nhiều loại
hình đào tạo Trong đó có hai trường đào tạo công nhân kĩ thuật với các ngành
nghề đạo tạo như: cơ khí, điện, vận hành máy, xây dựng... Học sinh được đào
tạo ra trường có đủ năng lực làm việc trong các khu công nghiệp trình độ kỹ
thuật cao. Với nguồn nhân lực có trình độ khá, nền giáo dục phát triển đã tạo
điều kiện cho phát triển khoa học công nghệ, một trong những yếu tố cần thiết
và quan trọng hàng đầu để phát triển ngành kinh tế nói chung và ngành công
nghiệp nói riêng của địa phương.
Cơ sở hạ tầng phát triển nhanh trong những năm đổi mới. Tỉnh đã hoàn
thành điện khí hóa nông thôn. Hệ thống giao thông nông thôn, chợ, thông tin liên
15
15
lạc, các công trình phúc lợi như: trường học, trạm y tế, nhà văn hóa…được xây
dựng, nâng cấp đáp ứng yêu cầu cơ bản cho phát triển kinh tế- xã hội. Năm 2005
toàn tỉnh cơ bản không còn hộ đói, số hộ nghèo giảm còn 9,68 % năm 2011
(theo tiêu chí mới). Bệnh viện đa khoa tỉnh và ở các huyện được xây dựng nâng
năng của mỗi chặng đường. Chính vì thế, qua từng thời kỳ chủ trương, chính
sách phát triển công nghiệp đều được Đảng và Nhà nước đưa ra một cách cụ
thể đối với từng ngành, từng vùng, từng thành phần kinh tế...
Đại hội VI của Đảng là mốc lịch sử quan trọng trên con đường đổi
mới toàn diện ở nước ta. Sau khi phân tích phê phán nghiêm túc những sai
lầm, thiếu sót trong thời gian qua. Đại hội đã đề ra chủ trương chính sách
đổi mới kinh tế, có đổi mới phát triển công nghiệp. Cụ thể, có những nội
dung chủ yếu sau:
- Đổi mới toàn diện nhưng trọng tâm là đổi mới kinh tế
- Xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường.
- Thừa nhận nền kinh tế có nhiều thành phần
- Mở rộng kinh tế đối ngoại
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (tháng 6/1991) Đảng và Nhà nước
đã đề ra chính sách phát triển cho từng ngành công nghiệp. Đại hội chỉ rõ:
- Đối với ngành công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản, phải quy
vùng tập trung chuyên canh, đưa khoa học công nghệ vào sản xuất, tạo ra
nguồn nguyên liệu lớn, chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu công nghiệp chế biến
hiện đại. Phát triển cơ sở chế biến gần với vùng nguyên liệu, nâng cao chất
lượng, đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh, đa dạng hóa mặt hàng thực phẩm.
- Với công nghiệp hàng tiêu dùng, phát triển hàng công nghiệp tiêu
dùng thông dụng, mở rộng sản xuất hàng lâu bền, cao cấp. Đổi mới công
nghệ, nâng cao chất lượng, đa dạng hóa mặt hàng, cải tiến bao bì và giảm giá
thành. Phát triển mạnh sản xuất hàng tiêu dùng xuất khẩu, đặc biệt các sản
phẩm may mặc, dệt, da, hàng điện tử, đồ điện gia dụng, hàng thủ công mỹ
nghệ, chuyển nhanh từ gia công sang tự sản xuất để xuất khẩu.
- Công nghiệp cơ khí và điện tử - tin học: Tận dụng năng lực hiện có,
tranh thủ công nghệ hiện đại, tạo thêm năng lực sản xuất mới cần thiết. Mở
rộng hợp tác liên doanh với nước ngoài, đi từ lắp ráp sản xuất phụ tùng tiến
17
triển công nghiệp. Tỉnh cũng đã tiến hành cải cách hành chính, ban hành quy
định thực hiện "cơ chế một cửa" tạo điều kiện cho các nhà đầu tư yên tâm và
mạnh dạn đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh.
Với những đường lối, chính sách nêu trên của Đảng, Nhà nước ta nói
chung và tỉnh Hà Nam nói riêng, đã tạo cơ sở và điều kiện thuận lợi cho công
nghiệp của Hà Nam phát triển và đạt được nhiều thành tựu to lớn.
1.4. Vài nét về công nghiệp tỉnh Hà Nam trước năm 1997
1.4.1. Tình hình công nghiệp Hà Nam trước năm 1986
20
20
Cùng với sự hình thành và phát triển của con người thì nền kinh tế cũng
phát triển nhằm phục vụ cho nhu cầu của cư dân. Là một bộ phận quan trọng
của nền kinh tế ngành công nghiệp cũng không nằm ngoài quy luật đó
Ngay từ thời phong kiến, bên cạnh việc phát triển nông nghiệp lúa nước
thì Hà Nam đã nổi tiếng nhiều làng nghề thủ công mỹ nghệ như dệt ở Nha Xá,
Thanh Hà- Thanh Liêm, nghề làm nghề thêu ren ở Đọi Tiên, nghề làm bánh
đa nem ở Nguyên Lý- Lý Nhân, nghề chế tác đồ sừng và đồ mĩ nghệ …..Sản
phẩm của các làng nghề không chỉ phục vụ cho nhu cầu dân cư trong vùng mà
còn cung cấp cho các vùng khác.
Từ cuối thế kỉ XIX bên cạnh các nghề tiểu thủ công gia đình trong các
làng xã ở Hà Nam bắt đầu xuất hiện các loại hình công nghiệp công xưởng,
có quy mô lớn kinh doanh theo lối tư bản chủ nghĩa. Đó là các cơ sở công
nghiệp của các chủ tư bản người Pháp và một số tiểu chủ, tiểu tư sản trong
nước. Các cơ sở công nghiệp này chủ yếu khai thác ở những dãy núi đá ven
sông Đáy, những mỏ đá thuận tiện về giao thông ở các huyện Kim Bảng,
Thanh Liêm. Năm 1883, Ghiôm- một chủ tư sản người Pháp đã thành lập
thêm một số cơ sở công nghiệp quốc doanh được xây dựng và đi vào hoạt
động như nhà máy xi măng X-77 của Bộ Quốc phòng năm (1977); nhà máy xi
măng nội thương (năm 1978) và nhiều cơ sở công nghiệp quốc doanh địa
phương của tỉnh và của các huyện. Song từ cuối những năm 1980 đầu những
năm 1990 trong quá trình chuyển đổi cơ chế từ kế hoạch hóa tập trung sang
cơ chế thị trường, nhiều cơ sở công nghiệp địa phương đã phải thu hẹp sản
xuất,giải thể hoặc chuyển sang cổ phần hóa.
Như vậy sau khi đất nước thống nhất (năm 1975), Đảng và Nhà nước ta
đã đưa đường lối phát triển kinh tế : đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ
nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất của CNXH, phải đưa nền kinh tế nước ta từ
sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một
cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ. Khi đã
thấm nhuần tư tưởng của đường lối trên tỉnh ủy Hà Nam đã đề ra chủ trương:
khôi phục các làng nghề, sản xuất các mặt hàng phục vụ trực tiếp sản xuất,
xuất khẩu và đời sống của nhân dân. Vì vậy thực hiện đường lối trên công
22
22
nghiệp Hà Nam đã có những bước phát triển nhanh. Các sản phẩm công
nghiệp ngày càng đa dạng và phong phú như đồ gỗ, gạch, ngói…. Có giá trị
sản xuất công nghiệp ngày càng cao.
Công nghiệp Hà Nam trước năm 1986 mặc dù đã đạt được một số
thành tựu quan trọng, nhưng về cơ bản còn nhỏ bé, lạc hậu, cơ cấu ngành
chưa đa dạng, giá trị sản xuất chưa cao, chủ yếu là công nghiệp làng nghề.
Công nghiệp chế biến còn quá nhỏ bé phần lớn là nông sản, thực phẩm và
hàng tiêu dung. Tuy nhiên ngành công nghiệp trong thời gian qua cũng có
những đóng góp nhất định vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc. Sự
phát triển của công nghiệp thời kì này tạo điều kiện tiền đề và là cơ sở cho sự
13,1%/năm. Trong thành phần kinh tế Nhà nước công nghiệp quốc doanh
trung ương có tỷ trọng giảm, năm 1990 chiếm 57,3% đến năm 1996 giảm
xuống còn 28,7%, công nghiệp quốc doanh địa phương có tỷ trọng tăng từ
42,7% năm 1990 lên 71,3% năm 1996. Do có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nên nhịp độ tăng trưởng bình quân thời kì 1990-1996 của khu vực kinh tế tư
nhân, kinh tế cá thể đạt 24,2%. Về cơ cấu công nghiệp theo các huyện, thị xã
thì các huyện Lý Nhân, Kim Bảng và Duy Tiên là ba huyện có tỷ trọng công
nghiệp cao nhất lên tới 77,6% trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp của toàn
tỉnh. Lý Nhân cũng là huyện có nhịp độ tăng trưởng công nghiệp cao nhất với
bình quân 20%/năm thời kì 1991-1995. [52,tr. 577- 578 ]
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, công nghiệp Hà Nam trong thời
kỳ này còn bộc lộ nhiều hạn chế. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp nhỏ bé,
chưa phát huy được tiềm năng thế mạnh. Công nghiệp quốc doanh quy mô
nhỏ, trình độ công nghệ lạc hậu, phần lớn thiết bị máy móc của các doanh
nghiệp thuộc thế hệ trước năm 1960. Nhiều cơ sở sản xuất bằng phương pháp
thủ công, năng suất thấp, chất lượng hiệu quả kém. Một số xí nghiệp công
nghiệp quốc doanh khi chuyển sang cơ chế thị trường tự hạch toán kinh doanh
còn gặp nhiều lúng túng, sản xuất kinh doanh thua lỗ triền miên và không tìm
được hướng đi phù hợp cho mình. Công nghiệp Hà Nam thời kỳ này phát
triển chưa tưng xứng với vị trí, tiềm năng và yêu cầu phát triển kinh tế - xã
hội của địa phương.
24
24
* Tiểu kết chương 1
Như vậy, với những thuận lợi nhất định về điều kiện tự nhiên - xã hội
cùng với những chủ trương chính sách phát triển công nghiệp của Đảng và
Nhà nước đã tạo tiền đề để các ngành công nghiệp ở Hà Nam phát triển, góp