BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
...............&..............
LÊ ĐỨC DUY
NéI DUNG, PH¦¥NG PH¸P KIÓM TRA
§¸NH GI¸ MéT Sè N¡NG LùC CñA HäC SINH
TH¤NG QUA D¹Y HäC HãA HäC V¤ C¥ LíP 10
TRUNG HäC PHæ TH¤NG
Chuyên ngành : Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Hóa học
Mã số
: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH. Nguyễn Cương
Hà Nội, 2014
LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng cám ơn GS.TSKH.
NGND Nguyễn Cương đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn
này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến các Thầy, Cô giáo Bộ môn phương pháp dạy
học Hóa học – Khoa Hóa học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã cung cấp tư liệu
và đóng góp nhiều ý kiến quý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi
thực hiện đề tài.
Con xin cảm ơn Bố, Mẹ và anh chị em trong gia đình đã dõi theo con trên
Giáo viên
NL:
Năng lực
SGK:
Sách giáo khoa
PT:
Phổ thông
TNTL:
Trắc nghiệm tự luận
TNKQ:
Trắc nghiệm khách quan
PPDH:
Phương pháp dạy học
KTĐG:
Kiểm tra đánh giá
Phiếu hướng dẫn tự học bài 23: Hidroclorua – axit clohidric...........................70
Đề số 1. Kiểm tra năng lực tự học bài 21: Khái quát về nhóm halogen............72
Đề số 2. Kiểm tra năng lực tự học bài 22: Clo.....................................................72
Đề số 3. Kiểm tra năng lực tự học bài 23.............................................................74
Đề số 4. Kiểm tra năng lực sáng tạo (45 phút).....................................................75
Đề số 5. Kiểm tra năng lực sáng tạo (45 phút).....................................................79
Đề số 6. Kiểm tra năng lực sáng tạo (15 phút) chương Halogen.......................81
Đề số 7. Kiểm tra năng lực sáng tạo (15 phút) chương Halogen.......................82
Đề số 8. Kiểm tra năng lực PH&GQVĐ..............................................................83
Đề số 9. Kiểm tra năng lực PH&GQVĐ..............................................................86
Đề số 10. Kiểm tra năng lực PH&GQVĐ............................................................86
Đề số 11. Kiểm tra năng lực PH&GQVĐ............................................................87
Đề số 12. Kiểm tra năng lực PH&GQVĐ............................................................87
Đề số 13. Kiểm tra 45 phút (chương O – S )........................................................88
Đề số 14. Kiểm tra (45 phút) chương O – S.........................................................89
Đề số 15. Kiểm tra (45 phút) chương O – S.........................................................90
Đề số 16. Kiểm tra (45 phút) chương O – S.........................................................90
Đề số 17. Kiểm tra học kỳ II – lớp 10...................................................................92
Đề số 18. Kiểm tra học kỳ II – lớp 10...................................................................94
Đề số 19. Bài thực hành số 5 - Tính chất của oxi – lưu huỳnh...........................98
3.3.3.1. Kết quả đánh giá năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề của học sinh
trường THPT Tân Lập........................................................................................110
KẾT LUẬN CHUNG VÀ KIẾN NGHỊ.............................................................117
TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................119
DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ TRONG LUẬN VĂN
Stt
Bảng 1
Bảng 2
15
18
27, 28
38
39
dạy học và thái độ trong giờ thực hành
Các mức và các bậc của trình độ nhận thức
Số GV và HS ở 3 trường THPT
Số lượng ý kiến, phần % về mục tiêu và phương pháp
44
46
của GV và HS
Bình khí thở oxi
Sơ đồ tháp tổng hợp axit HCl trong công nghiệp
Điều chế và thu khí Clo trong phòng thí nghiệm
Điều chế khí SO2 trong phòng thí nghiệm
Điều chế O2 trong PTN đi từ H2O2
Bảng phân phối các đề kiểm tra đánh giá năng lực của
62
65
74
90
91
học sinh THPT ở các lớp thực nghiệm
Kết quả kiểm tra năng lực tự học của học sinh trường
Biểu đồ 6
Biểu đồ 7
Biểu đồ 8
Bảng 18
Bảng 19
Biểu đồ 9
Bảng 20
Bảng 21
THPT Đan Phượng
% số học sinh đạt điểm yếu – kém, trung bình, khá,
giỏi của học sinh trường THPT Đan Phượng
Kết quả đánh giá năng lực tự học của học sinh lớp
10A1 Trường THPT Đan Phượng
Kết quả kiểm tra năng lực tự học của học sinh trường
THPT Bình Minh
% số học sinh đạt điểm yếu – kém, trung bình, khá,
giỏi của học sinh trường THPT Bình Minh
Kết quả đánh giá năng lực tự học của học sinh lớp
10A1 trường THPT Bình Minh
Kết quả kiểm tra năng lực sáng tạo của học sinh
trường THPT Tân Lập
% số học sinh đạt điểm yếu – kém, trung bình, khá giỏi
về năng lực sáng tạo của học sinh trường THPT Tân
Lập
Kết quả đánh giá năng lực sáng tạo của học sinh lớp
10A2 trường THPT Tân Lập
Kết quả đánh giá năng lực sáng tạo của học sinh lớp
109
109
Biểu đồ 10
Bảng 22
Bảng 23
Biểu đồ 11
Biểu đồ 12
Biểu đồ 13
Bảng 24
Bảng 25
Biểu đồ 14
Bảng 26
Bảng 27
Biểu đồ 15
Bảng 28
Bảng 29
Biểu đồ 16
Kết quả đánh giá năng lực sáng tạo của học sinh lớp
10A1 trường THPT Bình Minh
Kết quả kiểm tra năng lực PH&GQVD của học sinh
110
111
111
112
112
113
113
113
114
114
114
115
116
116
116
lớp 10A4 trường THPT Tân Lập
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Việc đổi mới giáo dục trung học dựa trên những đường lối, quan điểm
chỉ đạo giáo dục của nhà nước, đó là những định hướng quan trọng về chính sách
dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích
học tập suốt đời”. “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng
hiện đại; Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để
người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực. “Đổi mới
căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào
tạo, bảo đảm trung thực, khách quan”.
Theo tinh thần đó, các yếu tố của quá trình giáo dục trong nhà trường trung học
cần được tiếp cận theo hướng đổi mới.
Nghị quyết số 44/NQ-CP, ngày 09/6/2014 ban hành Chương trình hành động
của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013
Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn
diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều
kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế xác định
“Đổi mới hình thức, phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục
theo hướng đánh giá năng lực của người học; kết hợp đánh giá cả quá trình với
đánh giá cuối kỳ học, cuối năm học theo mô hình của các nước có nền giáo dục
phát triển”...Những quan điểm, định hướng nêu trên tạo tiền đề, cơ sở và môi
trường pháp lý thuận lợi cho việc đổi mới giáo dục phổ thông nói chung, đổi mới
đồng bộ phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá theo định hướng năng lực người
học.
Trong một số năm gần đây, đồng thời với việc tích cực đổi mới nội dung
phương pháp dạy học thì công tác đổi mới trong kiểm tra, đánh giá cũng đã được
chú trọng. Tuy nhiên, trên thực tế kiểm tra đánh giá năng lực của học sinh là một
điều rất mới mẻ và ít người quan tâm tới. Với yêu cầu cấp thiết của giáo dục nước
nhà cho nên bước đầu Tôi lựa chọn luận văn với đề tài:
2
“Nội dung, phương pháp kiểm tra đánh giá một số năng lực của học sinh
thông qua dạy học hóa học vô cơ lớp 10 THPT”
- Đối tượng nghiên cứu: Đổi mới nội dung, phương pháp kiểm tra đánh giá để
phát triển một số năng lực của học sinh thông qua dạy học hóa học vô cơ lớp 10
THPT.
6. Giả thuyết khoa học.
Nếu xây dựng được một hệ thống đề kiểm tra đánh giá kiến thức, kĩ năng Hóa
học lớp 10 phần vô cơ đảm bảo được yêu cầu của đề kiểm tra với chất lượng tốt,
nếu GV và HS sử dụng một cách triệt để, thường xuyên và tự giác thì sẽ góp phần
tăng cường và phát triển một số năng lực của học sinh trong đó có năng lực phát
hiện và giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực hợp tác, năng lực tự học...Sử
dụng bộ công cụ đánh giá một số năng lực của học sinh THPT bước đầu đánh giá
được sự phát triển một số năng lực của học sinh THPT.
7. Phương pháp nghiên cứu.
Để tiến hành làm đề tài này, chúng tôi đã sử dụng các nhóm phương pháp
nghiên cứu sau đây
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu các vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài: như các phương pháp kiểm
tra, đánh giá, đi sâu về phương pháp kiểm tra tự luận; phát triển một số năng lực
như năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực hợp tác,
năng lực tự học...của học sinh trong dạy học hóa học (biểu hiện của NL, biện pháp
rèn luyện và phương pháp kiểm tra, công cụ đo các NL đó của HS).
- Nghiên cứu nội dung, cấu trúc chương trình, phân phối chương trình, chuẩn kiến
thức, kĩ năng Hóa học, sách giáo khoa, sách giáo viên Hóa học 10 – THPT cơ bản
và nâng cao; đi sâu vào phần hóa học vô cơ.
7.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra cơ bản: Tìm hiểu thực tiễn dạy và học môn Hóa học lớp 10 nhằm phát
hiện những khó khăn của việc kiểm tra đánh giá nói chung và đánh giá năng lực HS
nói riêng. Trao đổi kinh nghiệm với các thầy cô có nhiều kinh nghiệm trong dạy
học Hóa học.
• Chương 3. Thực nghiệm sư phạm
5
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KIỂM TRA
ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH
Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
1.1. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ TRONG DẠY
HỌC HOÁ HỌC
1.1.1. Mục đích, chức năng, nhiệm vụ của việc kiểm tra đánh giá kiến thức, kĩ
năng và năng lực của HS
Kiểm tra, đánh giá là giai đoạn kết thúc của một quá trình dạy học, nhằm xác
định khi kết thúc một giai đoạn trọn vẹn của một quá trình dạy học, mục đích dạy
học đã đạt được đến một mức độ nào, kết quả học sinh đạt đến đâu so với mong
muốn. Qua kiểm tra đánh giá, người giáo viên nhận biết được mình đã thành công
hay chưa thành công ở chỗ nào; người học cũng nhận biết được mình đã thu hoạch
được gì, mức thu hoạch trong quá trình học tập ra sao (từ nhận biết, thông hiểu đến
vận dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá, kĩ năng biết làm và làm một cách thành
thạo những điều đã học).
Kiểm tra: Là theo dõi sự tác động của người kiểm tra đối với người học nhằm thu
được những thông tin cần thiết cho việc đánh giá.
Đánh giá: Là đo lường mức độ đạt được của người học về các mục tiêu và nhiệm
vụ của quá trình dạy học. Mô tả một cách định tính và định lượng: tính đúng đắn,
tính chính xác, tính vững chắc của kiến thức, tính đầy đủ, mối liên hệ của kiến thức
với đời sống, khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, mức độ thông hiểu, khả
năng diễn đạt bằng lời nói, bằng văn viết, bằng chính ngôn ngữ chuyên môn của
người học,…và thái độ của người học trên cơ sở phân tích các thông tin phản hồi từ
việc quan sát, kiểm tra, đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao, đối chiếu
với các chỉ tiêu, yêu cầu dự kiến, mong muốn đạt được của môn học.
1.1.1.1. Mục đích, chức năng
chặt chẽ và phục vụ trực tiếp cho việc học bài mới. Trước hết điều đó liên quan tới
nhiều HS được kiểm tra, bởi khi chuẩn bị và trả lời, HS cần phải sắp xếp hệ thống
kiến thức của mình và làm cho chúng chính xác thêm. Sự nhắc lại kiến thức cũ, sửa
7
những kiến thức thiếu chính xác của HS có tác dụng hoàn thiện kiến thức không
phải chỉ cho HS đang trả lời những câu hỏi của GV mà còn cho tất cả các HS khác
khi nghe những câu trả lời ấy của bạn mình.
Phát hiện ra thiếu sót, lệch lạc trong kiến thức, kĩ năng của HS, tìm ra nguyên
nhân của những thiếu sót ấy là rất quan trọng.
1.1.1.4. Uốn nắn lệch lạc, điều chỉnh kế hoạch dạy học
Dựa vào kết quả kiểm tra kiến thức của HS trong lớp, GV có thể đánh giá
hiệu quả của phương pháp dạy học nào đó và chất lượng công tác nói chung của
bản thân, nhờ đó GV đề ra được những bổ khuyết cần thiết. đồng thời việc kiểm tra
đánh giá cũng sẽ cung cấp cho nhà trường những tài liệu để đánh giá tình hình dạy
học hoá học ở trong nhà trường và kết quả học tập từng thời gian của mỗi HS.
Kết quả kiểm tra đánh giá còn giúp các bậc phụ huynh biết được tình hình học
tập của con em mình và có sự phối hợp cần thiết với nhà trường giúp đỡ con em
mình học tập tốt hơn.
1.1.2. Những yêu cầu sư phạm đối với kiểm tra đánh giá kiến thức, kĩ năng và
năng lực về hoá học [11, trang 232 – 234]
1.1.2.1. Đánh giá xuất phát từ mục tiêu dạy học
Phải kiểm tra đầy đủ tới mức tối đa có thể. Phải cố gắng tạo điều kiện để mỗi
HS trình bày được rõ là họ tiếp thu như thế nào những điều cơ bản nhất của chương
trình. Trong thời gian đầu tiên HS mới học hoá học hoặc đầu năm học, GV phải cố
gắng kiểm tra sớm và nhiều lần để nhanh chóng nắm được trình độ học tập của
từng HS. Việc kiểm tra đó cùng với các biện pháp khác nhằm điều tra cơ bản chất
lượng kiến thức, phương pháp học tập v.v…của HS ngay từ đầu năm học sẽ giúp
các GV đề ra được nhiều biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập của các em.
sinh trong quá trình học tập.
1.1.2.5. Việc kiểm tra phải làm từng cá nhân
Việc kiểm tra phải làm từng cá nhân nghĩa là phải xét đến kiến thức của mỗi
HS và tạo điều kiện để HS biểu lộ thực chất hiểu biết của mình, cho họ thấy trách
nhiệm của bản thân cá nhân họ trong việc tiếp thu kiến thức. vì vậy cần tránh cách
đánh giá chung chung sự tiến bộ của toàn lớp hay cả nhóm HS. Nhưng trong lúc
9
kiểm tra thì phải nghiêm cấm mọi biểu hiện nhìn bài của bạn, “quay cóp” hoặc
nhắc bạn và các biểu hiện thiếu trung thực khác trong khi làm bài.
1.1.2.6. Cần coi trọng hơn và nâng cao dần yêu cầu đánh giá về kĩ năng thực
hành, về kiến thức và phương pháp học tập, về năng lực của người học
Đó là những yêu cầu mới trong mục tiêu đào tạo của nhà trường phổ thông.
Người GV hoá học phải chủ động đóng góp ý kiến, thảo luận chuyên môn, xây
dựng các bài tập, đề thi nhằm hướng đến đánh giá được các kĩ năng thực hành, kiến
thức của học sinh và quan trọng hơn là việc đánh giá năng lực của mỗi học sinh, đó
là điều hết sức khó khăn.
Hiện nay chúng ta chưa có thước đo chuẩn nào về vấn đề đánh giá năng lực
của người học, chúng ta đang tiến hành xây dựng các bộ công cụ đánh giá năng lực
của người học. Điều đó cần phải được làm một cách hết sức gấp rút và khẩn
trương. Trong thời gian tới, việc đánh giá năng lực của học sinh sẽ được chú trọng
và khi đó chắc chắn rằng định hướng dạy và học của mỗi giáo viên trường phổ
thông cũng sẽ hướng vào việc phát triển năng lực cho người học.
1.1.3. Các phương pháp kiểm tra đánh giá
1.1.3.1. Kiểm tra nói
a. Những yêu cầu sư phạm về cách tổ chức kiểm tra nói
a1. Người GV phải hình dung được rõ ràng những nhiệm vụ đối với công tác kiểm
tra đánh giá kiến thức nói chung và những nhiệm vụ đối với hình thức kiểm tra nói.
a2. Sau khi đặt câu hỏi chung cho cả lớp cần cho HS một thời gian cần thiết để
•
Ngoài ra cần tránh tình trạng GV “dạy riêng” cho HS được gọi lên bảng để
kiểm tra kiến thức. Nhờ những câu hỏi gợi ý của GV, một HS nhanh nhẹn, tuy
không học bài cũ, không làm bài, có thể đoán ra câu trả lời đúng và cùng với thầy
cô giáo nhắc lại hoặc học thuộc ngay cả những điều mà lẽ ra họ phải học ở nhà chứ
không phải ở lớp lúc kiểm tra.
Những điều trên đây chứng tỏ rằng có thể và cần phải sử dụng kiểm tra nói để
hoàn thiện kiến thức HS. Tuy vậy thời gian dành cho kiểm tra nói cũng phải có
mức độ thích hợp tuỳ theo sự phức tạp của câu trả lời và tuỳ theo khối lớp.
1.1.3.2. Bài kiểm tra viết
a. Ưu điểm và nhược điểm bài kiểm tra viết
a1. Những ưu điểm:
11
• Nhờ bài kiểm tra viết, chỉ trong một tiết học có thể kiểm tra kiến thức của tất cả
các HS trong lớp.
• Kết quả của các bài làm là thước đo khách quan kiến thức của HS về những vấn
đề thuộc phạm vi câu hỏi. Do đó hình thức này giúp GV thấy rõ những vấn đề HS
đã nắm vững hoặc chưa nắm vững.
• Qua bài kiểm tra còn có thể đánh giá sự phát triển ngôn ngữ, trình độ viết và diễn
đạt của HS.
• Nếu đề kiểm tra chuẩn bị một cách chu đáo thì có thể hình dung được tình hình
tiếp thu chung của toàn lớp đối với nội dung cơ bản của những phần (hoặc chương)
vừa học. Những kết quả đó cũng phản ánh chất lượng công tác của người GV.
a2. Một số nhực điểm:
• Mỗi HS sẽ chỉ bộc lộ họ nắm kiến thức như thế nào về một phần rất hạn chế của
giáo trình, bởi vì mỗi HS sẽ chỉ trả lời một số ít câu hỏi mà thôi.
• Qua những bài làm này không thể thấy được những kĩ xảo về kĩ thuật thí nghiệm
hoặc về tổ chức lao động của HS.
(câu hỏi làm đề tài cho việc trình bày ngắn gọn).
b4. Cần có những bài tập có dùng hình vẽ, mô hình thí nghiệm
Thí dụ yêu cầu miêu tả hoạt động của dụng cụ trình bày ở hình vẽ, hoặc từ
các chi tiết đã vẽ sẵn, vẽ lại dụng cụ và nói cách hoạt động của nó. Có thể cho các
em vẽ lại một số bộ dụng cụ hóa học trong quá trình thí nghiệm, yêu cầu cải tiến,
sáng tạo thêm một số quy trình sao cho thí nghiệm đó đạt hiệu quả cao.
b5. Cần giáo dục cho HS biết hoàn thành các bài kiểm tra một cách nghiêm túc
trung thực ngay từ lúc mới học hoá học. Những điều cần thiết GV phải giải thích
ngay từ đầu giờ. Nếu có điều nào chưa rõ, HS chỉ được hỏi GV. HS phải tự lập
hoàn toàn trong việc làm bài kiểm tra.
b6. Các bài làm của HS cần được chấm sớm và trả lại cho các em sau một thời
gian ngắn, những sai lầm chung cần được đưa ra phân tích trong giờ học. Hơn thế,
GV cần thấy rõ nội dung những vấn đề được kiểm tra, chỗ nào HS lĩnh hội tốt, chỗ
nào chưa tốt. Muốn thế cần phân tích chi tiết bài làm của HS, quan sát kĩ những
phần học sinh đã làm, chưa làm…,từ đó thống kê trên khuôn khổ lớp học, khối các
lớp giảng dạy. Từ số liệu đó có thể nhận thấy được kiến thức nào các em đã nắm
được, hiểu được, vận dụng được và những kiến thức nào còn chưa nắm được, cần
bổ sung, giảng giải thêm.
13
c. Bài kiểm tra viết trong 10 – 15 phút
Các bài kiểm tra này có chức năng cơ bản là đánh giá xem HS học bài và làm bài tập
ở nhà như thế nào để chuẩn bị cho bài mới. Dựa vào các bài kiểm tra này cũng có thể biết
HS đã nắm vững như thế nào các khái niệm cơ bản về hoá học.
Khi tiến hành những bài kiểm tra nhanh (15 phút) như vậy, không nên báo trước cho
HS mà nên cho làm bài vào cuối tiết học, sau đó cần chấm bài ngay. Câu hỏi của các bài
kiểm tra này có thể dựa vào những bài tập cho về nhà làm trong giờ học trước. Đôi khi
GV cũng có thể kiểm tra viết 10 phút hay chỉ kiểm tra vấn đáp ở đầu tiết học.
Trong trường hợp này có thể đưa thêm những câu hỏi nhằm làm sáng tỏ các kiến thức
là đại diện cho một sự phán xét của một người nào đó về bài trắc nghiệm. Chỉ có việc
chấm điểm là khách quan.
c. Ưu nhược điểm của trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan
Có thể thấy rõ ưu, nhược điểm của trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách
quan qua bảng 1 dưới đây.
Bảng 1. So sánh ưu nhược điểm của TNTL và TNKQ
Đặc điểm
TNTL
TNKQ
Việc chuẩn bị
câu hỏi
Phạm vi kiến
thức
Hiệu quả đối với
học tập
Ít tốn công ra đề
Tốn nhiều thời gian ra đề (yêu cầu
có chuyên môn cao)
Trả lời ít câu hỏi, câu hỏi bao quát Trong một thời gian nhất định trả
phạm vi kiến thức sâu
lời nhanh nhiều câu hỏi bao quát
phạm vi kiến thức rộng
* HS dễ học tủ, học lệch
* Ghi nhớ, hiểu, áp dụng phân tích,
tổng hợp, phê phán, suy luận, đánh
giá được khả năng diễn đạt, đặc biệt
Nhiều thông tin
Qua bảng so sánh trên ta thấy sự khác nhau rõ rệt giữa hai phương pháp là tính
khách quan công bằng và chính xác, đặc biệt là tính khách quan. Vì vậy phối hợp
cả hai hình thức TNKQ và TNTL với tỉ trọng hợp lí sẽ đem lại hiệu quả tốt trong
đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường.
d. Các chỉ số để đánh giá một câu hỏi hay một bài trắc nghiệm
15
Thường đánh giá một câu hỏi hay một bài trắc nghiệm dựa vào các chỉ số: độ
khó, độ phân biệt, độ giá trị, độ tin cậy [2, trang 239 – 240].
Độ khó của câu hỏi được tính theo công thức sau:
K=
N G +N K
x100
2n
Trong đó:
NG: là số học sinh của nhóm giỏi có câu trả lời đúng.
NK: là số học sinh của nhóm kém có câu trả lời đúng.
n: là tổng số học sinh thuộc nhóm giỏi hay nhóm kém.
Nếu K <10% thì câu hỏi là quá khó; K>90% thì câu hỏi là quá dễ; không nên dùng
nếu độ khó từ 10% - 25% (rất khó) hoặc từ 75% - 95% (quá dễ).
Chỉ số độ phân biệt P được tính theo công thức:
P=
NG - N K
chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề
nghiệp. Chương trình này nhấn mạnh vào vai trò của người học với tư cách là chủ
thể của nhận thức.
Chương trình dạy học định hướng kết quả đầu ra không quy định những nội
dung dạy học chi tiết mà quy định những kết quả đầu ra mong muốn của quá trình
đào tạo, trên cơ sở đó đưa ra những hướng dẫn chung về việc lựa chọn nội dung,
phương pháp tổ chức và đánh giá kết quả dạy học nhằm đảm bảo được mục tiêu
dạy học tức là đạt được kết quả đầu ra mong muốn. Kết quả học tập mong muốn
được mô tả thông qua các thuộc tính nhân cách chung (attributes) và các kết quả
yêu cầu cụ thể (outcomes) hay thông qua hệ thống các năng lực (competency).
Ưu điểm của dạy học định hướng đầu ra là tạo điều kiện quản lý chất lượng
theo kết quả đầu ra đã quy định, nhấn mạnh năng lực vận dụng của học sinh. Tuy
nhiên nếu vận dụng một cách thiên lệch, không chú ý đầy đủ đến nội dung dạy học
thì có thể dẫn đến các lỗ hổng tri thức.
Sau đây là bảng so sánh một số đặc trưng cơ bản của chương trình giáo dục
định hướng nội dung và giáo dục định hướng kết quả đầu ra.
Bảng 2. So sánh một số đặc trưng của giáo dục định hướng nội dung
và giáo dục định hướng kết quả đầu ra
Giáo dục định hướng nội dung
Giáo dục định hướng kết quả
đầu ra
Mục tiêu
Mục tiêu dạy học được mô tả Kết quả học tập cần đạt được mô tả
không chi tiết và không nhất thiết chi tiết và có thể quan sát đánh giá
phải quan sát đánh giá được
được, thể hiện được mức độ tiến bộ