SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP KIỂM
TRA ĐÁNH GIÁ
*****************
I. PHẦN MỞ ĐẦU
Do yêu cầu của sự phát triển kinh tế- xã hội đối với việc đào tạo nguồn nhân
lực trong giai đoạn mới. Đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp
hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) với mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam sẽ từ
một nước công nghiệp về cơ bản trở thành nước công nghiệp, hội nhập với
cộng đồng quốc tế. Nhân tố quyết định thắng lợi cho công cuộc CNH,HĐH
và hội nhập quốc tế là con người, là nguồn lực người Việt Nam được phát
triển về số lượng và chất lượng trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng cao.
Việc này cần được bắt đầu từ giáo dục phổ thông mà trước hết phải bắt đầu
từ mục tiêu đào tạo như là xác định những gì cần đạt được (đối với người
học) sau một quá trình đào tạo. Nói chung phẩm chất và năng lực được hình
thành trên một nền tảng kiến thức, kĩ năng đủ và chắc chắn.
Do có sự thay đổi trong đối tượng giáo dục, cùng với xu thế hội nhập trên
thế giới hiện nay. Hoà chung với xu thế đổi mới tiến bộ trên thế giới trong
lĩnh vực chương trình, SGK cũng là một trong những yêu cầu cần thiết…
phương pháp kiểm tra khác không làm được.
* Kích thích và phát triển năng lực suy nghĩ và khả năng giải quyết
vấn đề cho học sinh. Tạo điều kiện cho học sinh kết hợp và áp dụng các
năng lực cấp cao đó vào quá trình giải quyết vấn đề.
* Tạo cơ hội cho học sinh áp dụng các ý tưởng sáng tạo vào việc giải
quyết vấn đề.
Nhưng đồng thời cũng có nhiều nhược điểm:
* Bài kiểm tra, bài thi chỉ đo được những kiến thức học sinh nhớ
trong sách giáo khoa, tài liệu, chưa quan tâm đến các kết quả học tập
quan trọng khác.
* Bài kiểm tra, thi chưa thể hiện được tất cả các kiến thức mà các em
đã được học trong nhà trường. Đánh giá chỉ dựa trên chỉ tiêu điểm số
của học sinh có thể làm lệch lạc mục tiêu đào tạo con người toàn diện.
* Học sinh không phải lo lắng về những kết quả học tập quan trọng
khác vì hnững kết quả này không được kiểm tra.
* Giáo viên chấm điểm không thống nhất và các giáo viên khác
nhau chấm điểm khác nhau.
* Trong nhiều trường hợp, học sinh phải làm quá nhiều bài kiểm tra
và các em ít có cơ hội học tập và phát triển toàn diện. Việc đánh giá
bằng điểm số này được thực hiện thường xuyên và công khai. HS
được hệ thống giáo dục và gia đình theo dõi liên tục cả ngày, không
có thời gian và không gian riêng tư.
* Học sinh chỉ học những gì sẽ kiểm tra, thi. Nếu các em biết chỉ
kiểm tra một lượng kiến thức nhất định thì các em sẽ không quan tâm
đến những nội dung khác mà chúng ta mong muốn các em học. HS
được đánh giá về năng lực học tập theo điểm so GV cho. Vì vậy
không thấy được tầm nhìn về hành vi tương lai. Điểm số chỉ là công
cụ để đánh giá mức thuộc bài, không đánh giá được tìm năng, năng
lực con người.
- Đánh giá có hai chức năng cơ bản la xác nhận và điều khiển. Xác nhận
1. Các hình thức kiểm tra, đánh giá định kì:
Hình thức ra đề kiểm tra:
Việc thu thập thông tin về kết quả học tập của HS thông qua các bài kiểm tra định
kì ( 1 tiết, trên 1 tiết) được tiến hành thường thông qua dưới hình thức viết mà
dụng cụ đánh giá có thể là :
* Trắc nghiệm tự luận
* Trắc nghiệm khách quan
* Phối hợp TNKQ và tự luận.
- Đối với lớp 10 và lớp 11 thường được kiểm tra dưới dạng phối hợp TNKQ và tự
luận.
- Đối với lớp 12 thường được kiểm tra dưới dạng TNKQ
1.2- Qui trình xây dựng đề kiểm tra:
Thiết kế đề kiểm tra để đánh giá HS, theo định hướng đổi mới đánh giá, thông
thường được thực hiện theo qui trình sau:
a) Xác định mục đích, yêu cầu của đề kiểm tra
Đề kiểm tra là phương tiện chủ yếu đánh giá kết quả học tập của HS sau khi học
xong một nội dung, một chủ đề, một chương, một học kì hay toàn bộ chương trình
một lớp học,…
b) Xác định mục tiêu dạy học
Xác định đầy đủ, chi tiết các mục tiêu giảng dạy thể hiện ở năng lực hành vi hay
năng lực cần phát triển ở HS như là kết quả của việc dạy học ( xác định rõ chuẩn
kiến thức, kĩ năng và yêu cầu thái độ trong chương trình môn học, cấp học của
chương trình giáo dục phổ thông)
c) Thiết lập một ma trận hai chiều
+ Thiết lập một ma trận hai chiều, một chiều thông thường là nội dung hay mạch
kiến thức cần đánh giá, một chiều là các mức độ nhận thức của HS. Thông thường
ở ba mức độ :
- Mức độ nhận biết (B): Đây là yêu cầu nắm kiến thức và kĩ năng ở trình
độ thấp, HS chỉ cần nhớ và nhận ra.
- Mức độ thông hiểu (H): ): Đây là yêu cầu nắm kiến thức và kĩ năng ở
cẩn thận về đề kiểm tra, các bước tiến hành, cách thức chấm điểm, công bố kết
quả,…Kì kiểm tra được chuẩn bị công phu, theo một qui trình chặt chẽ:
2.1- Tổ chức kiểm tra:
a) Họp tổ xác định lĩnh vực cần trắc nghiệm,thống nhất ma trận hai chiều.
- Tiến hành viết trắc nghiệm: Tổ trưởng phân công cho từng cá nhân tập trung,
đầu tư viết trắc nghiệm , các câu trắc nghiệm cần tuân thủ những yêu cầu về nội
dung cũng như kĩ thuật viết trắc nghiệm . Sau khi viết xong sẽ được trao đổi, sửa
chữa và góp ý thống nhất ở tổ. Sau đó, đưa vào ngân hàng câu trắc nghiệm được
quản lí bằng ngân hàng câu trắc nghiệm và lưu trong máy tính.
- Căn cứ vào bảng đặc trưng. Chọn ngẫu nhiên các câu hỏi đưa vào đề thi từ ngân
hàng câu trắc nghiệm bằng sử dụng phần mềm tin học có thể tạo ra các đề thi
tương đương có cùng nội dung nhưng khác nhau về hình thức bằng cách đảo thứ
tự các câu hỏi và các phương án trả lời
- Tổ chức thi: đề kiểm tra và phiếu trả lời được in và nhân bản theo số lượng thí
sinh của các lớp
- Chọn thời điểm thích hợp để tổ chức gần như hàng loạt cho các lớp. Thu phiếu
làm bài của học sinh để chấm.
b) Chấm và phân tích kết quả thi:
- GV soạn ra các bài kiểm tra theo từng loại, chấm bài theo đáp án của từng loại.
Khi chấm, GV có đánh dấu các đáp án đúng trong phiếu trả lời của HS.
- Khi chấm xong, GV vào điểm và thống kê, phân tích tỉ mỉ về chất lượng các câu
trắc nghiệm cũng như các yếu tố có liên quan đến bài làm của thí sinh
c) Trả bài kiểm tra: Đây là bước cuối cùng của kì kiểm tra. Khi trả bài kiểm tra
cho HS, GV yêu cầu HS về xem lại bài kiểm tra của mình, so sánh với đáp án mà
GV đã sửa,HS rút kinh nghiệm.
3. Tổ chức thực nghiệm:
Được tiến hành ở khối lớp 12, bài kiểm tra định kỳ lần 1 học kỳ II
Loạ
i
%
32,5
%
18,6
%
16,5
%
16,3
%
4,7% 2,3% 0% 0%
12 I 19,0
%
28,6
%
33,3
%
23,8
%
40,5
%
40,5
%
4,8% 7,1% 2,4
%
0%
12
M
7,0% 4,7% 18,6
%
16,3
45,2% Câu
25
45,2%
Câu
02
42,6% Câu
08
46,9% Câu
14
45,2% Câu
20
42,6% Câu
26
53,9%
Câu
03
59,6% Câu
09
50,4% Câu
15
48,6% Câu
21
52,1% Câu
27
52,1%
Câu
04
48,7% Câu
10
60,0% Câu
có thể rút ra một số kết luận sau:
- Đối với câu 03: học sinh khi làm bài tập quang hình học chưa thật sự
lưu ý đến tính chất của ảnh
- Đối với câu 10: học sinh chưa lưu ý đến việc sử dụng từ ngữ" tia tới đi
qua – tia tới có đường kéo dài đi qua"
- Đối với câu 12: học sinh chưa lưu ý đến từ ngữ "góc khúc xạ tỉ lệ
thuận góc tới"
Lớp
Câu
12 H
%
12 I
%
12 M
%
Lớp
Câu
12 H
%
12 I
%
12 M
hiện tượng phản xạ toàn phần, chưa lưu ý đến tính chất của ảnh, đặc biệt hầu như
cả lớp chưa làm được bài tập về lăng kính (Câu 16 tỉ lệ sai 95%)
III. KẾT LUẬN:
1. Những bài học kinh nghiệm:
Trên đây là những quan điểm về vấn đề kiểm tra, đánh giá mà trường chúng
ta đang theo đuổi và thực hiện. Tuy nhiên, việc kiểm tra, đánh giá là một hoạt động
giáo dục có nhiều quan điểm khác nhau. Đó là tình hình chung của của các nền
giáo dục của tất cả các nước. Khó có thể tìm sự giống nhau hoàn toìan về quan
điểm và cách tổ chức kiểm tra, đánh giá ở các nền giáo dục khác nhau. Sau đây là
những bài học kinh nghiệm.
1. Ta đã nói giáo dục có 3 chức năng: chức năng kiểm tra, chức năng dạy
học và chức năng điều kiển.
Cần nhấn mạnh chức năng dạy học cũng là một chức năng không kém phần
quan trọng so với chức năng kiểm tra. Nhưng trong thực tế, ở nơi nào cũng có tình
hình là chức năng dạy học thường bị coi nhẹ hơn chức năng kiểm tra. Thầy giáo ra
bài kiểm tra cho học sinh, chấm bài và trả bài xong là coi như công việc đã hoàn
thành. Rất ít khi và rất ít thầy giáo qua các bài kiểm tra tự đánh giá tính hiệu quả
của các phương pháp sư phạm mình đã sử dụng.
Chức năng điều khiển là một chức năng có vai trò đặc biệt. “Thi thế nào học
thế ấy”, câu nói đó khuôn vào trong phạm vi nhà trường chỉ có mối quan hệ thầy
và trò. Nói vậy vì trong phạm vi một địa phương hay quốc gia thì chức năng này sẽ
dẫn đến là “thi thế nào, thầy dạy thế ấy thì trò thế ấy và cả phụ huynh học sinh
cũng hướng cho con em mình học thế ấy”. Rõ ràng chức năng điều khiển ở đây có
vai trò như một quy luật. Đó là vấn đề rất lớn của người quản lý giáo dục ở tất cả
các cấp.
Vấn đề này có tác giả đã viết đại ý rằng: một bài kiểm tra có tác dụng như
một tuyên ngôn của người kiểm tra về mục học tập, về cái đích mà người bị kiểm
tra phải đạt được, đó là một tuyên ngôn dứt khoát, đanh thép.
2. Những điều vừa trình bày trên đây đã hé mở ra một điều là hoạt động
không có những bài yêu cầu học sinh hệ thống hoá hay phê phán theo nhận định
riêng của mình.
2. Kiến nghị, đề xuất:
- Nhà trường tạo điều kiện thuận lợi khâu in ấn đề (máy in), giấy photo
- Tổ chức kiểm tra đồng loạt để đãm bảo tính khách quan và nghiêm túc.
- Khâu chấm bài cũng phải nghiêm túc khách quan như: rọc phách, lên
điểm…
- Sau mỗi lần kiễm tra phải có đánh giá, rút kinh ngihệm ở tổ chuyên môn
về những sai, sót của đề để điều chỉnh cho lần sau tốt hơn…
Giá Rai, ngày 22 tháng 10 năm 2008
LÝ MINH HÙNG