LUẬN văn HOẠT ĐỘNG MARKETING – MIX CHO sản PHẨM bất ĐỘNG sản tại CÔNG TY cổ PHẦN TASCO - Pdf 34

Học viện tài chính
Luận văn tốt nghiệp
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG MARKETING –
MIX NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH SẢN PHẨM
BẤT ĐỘNG SẢN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TASCO.
1.1 Những vấn đề cơ bản của hoạt động Marketing – mix trong doanh
nghiệp Bất động sản.
1.1.1 Khái quát về Marketing.
1.1.1.1 Marketing là gì?
Ngày nay, đối với mỗi doanh nghiệp Marketing là một công cụ quan
trọng giúp cho họ hoạch định được chiến lược phát triển kinh doanh. Cụ thể
nói, Marketing đóng vai trò rất quan trọng trong sự thành bại của một doanh
nghiệp. Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu được tầm quan trọng của
Marketing cũng như ý nghĩa thực sự của nó. Đã có rất nhiều các quan điểm
khác nhau về Marketing được đưa ra.
- Theo viện nghiên cứu Marketing Anh : “ Marketing là chức năng
quản lý công ty về mặt tổ chức quản lý toàn bộ các hoạt động kinh doanh, từ
việc phát hiện ra và biến sức mua của người tiêu dùng thành nhu cầu thực sự
của một mặt hàng cụ thể đến việc đưa hàng hóa đó tới người tiêu dùng cuối
cùng nhằm đảm bảo cho công ty thu được lợi nhuận như dự kiến”.
- Theo Philip Kotler "Marketing là hoạt động của con người hướng tới
sự thoả mãn nhu cầu và ước muốn thông qua các tiến trình trao đổi".
Thực chất, sự khác nhau về quan điểm là do cách nhìn nhận và góc độ
nhìn nhận của mối người. Tuy nhiên, từ tất cả các định nghĩa về nhu cầu,
mong muốn, trao đổi, thị trường chúng ta định nghĩa về Marketing như sau:
“Marketing là một dạng hoạt động của con người nhằm thoả mãn những nhu
cầu và mong muốn thông qua trao đổi”.
1.1.1.2 Chức năng của Marketing.
SV: Đỗ Thị Sao Mai

1

và kích thích tiêu thụ mạnh mẽ nhất, là việc tổ chức và hoàn thiện hệ thống
SV: Đỗ Thị Sao Mai

2

Lớp: CQ45/32.02


Học viện tài chính
Luận văn tốt nghiệp
phân phối, xây dựng và thực hiện các kỹ thuật kích thích tiêu thụ như quảng
cáo, xúc tiến bán hàng.
- Chức năng tăng cường hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Toàn bộ các hoạt động của Marketing luôn hướng tới mục tiêu hiệu quả
của sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên khi giải quyết bài toán hiệu quả kinh
doanh, Marketing hiện đại luôn đảm bảo sự hài hoà giữa các mối quan hệ lợi
ích. Đó chính là mối quan hệ giữa lợi ích của xã hội, lợi ích của doanh nghiệp
và lợi ích của thị trường.
1.1.1.3 Vai trò của Marketing.
- Nhờ có hoạt động nghiên cứu nhu cầu thị trường, Marketing đảm bảo
cho kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân mang tính hiện thực và khả thi, giúp
Nhà nước định hướng được sự phát triển của các ngành và cả nền kinh tế
quốc dân một cách có hiệu quả.
- Đối với các doanh nghiệp, Marketing là công cụ quan trọng nhất giúp
họ hoạch định chiến lược phát triển kinh doanh, chiến lược thị trường và
chiến lược cạnh tranh. Hoạt động Marketing trong doanh nghiệp luôn luôn chỉ
cho doanh nghiệp biết rõ : Khách hàng của doanh nghiệp là ai? Họ mua hàng
ở đâu? Họ mua bao nhiêu? Họ mua như thế nào? Vì sao họ mua... Đó là các
vấn đề mà ngoài chức năng Marketing không có chức năng nào có thể trả lời
được. Với hệ thống các chính sách của mình, Marketing không chỉ giúp các


Marketing-mix

Phân phối

Thị trường
mục tiêu
Giá cả
Giá quy định
Chiết khấu
Bớt giá
Kỳ hạn thanh toán
Điều kiện trả
chậm

SV: Đỗ Thị Sao Mai

Kênh phân phối
Phạm vi bao
phủ Trung gian
Địa điểm
Dự trữ
Vận chuyển

Xúc tiến hỗn
hợp
Quảng cáo
Khuyến mãi
Quan hệ công
chúng

- Sản phẩm hiện thực: Là những yếu tố phản ánh sự có mặt trên thực tế
của sản phẩm. Những yếu tố đó bao gồm: Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng,
đặc tính, bố cục bề ngoài, tên nhãn hiệu và đặc trưng của bao gói.
- Sản phẩm bổ sung: Là những yếu tố như tính tiện lợi cho việc lắp đặt,
những dịch vụ bổ sung sau khi bán, các điều kiện bảo hành và điều kiện hình
thức tín dụng.
SV: Đỗ Thị Sao Mai

5

Lớp: CQ45/32.02


Học viện tài chính
Luận văn tốt nghiệp
Chiến lược sản phẩm là định hướng và quyết định liên quan đến sản
xuất và kinh doanh sản phẩm dựa trên cơ sở đảm bảo thỏa mãn nhu cầu của
khách hàng trong từng thời kỳ hoạt động kinh doanh và các mục tiêu
Marketing của doanh nghiệp.
Trong hệ thống Marketing- mix, chính sách sản phẩm là bộ phận giữ vị
trí xương sống, trụ cột quyết định trực tiếp đến hiệu quả và uy tín của nhà
kinh doanh. Chính sách sản phẩm sẽ quyết định những vấn đề chủ yếu nhất
trong hoạt động kinh doanh: phương hướng sản xuất, quy mô và tốc độ phát
triển của hoạt động sản xuất kinh doanh. Đồng thời chính sách sản phẩm cũng
có ảnh hưởng to lớn đến việc triển khai và thực hiện các chính sách khác. Bởi
vì nếu đã tạo ra được sản phẩm hoàn hảo với chất lượng cao, có uy tín và phù
hợp với tâm lý, thị hiếu tiêu dùng thì doanh nghiệp sẽ có điều kiện thuận lợi
để hình thành chính sách giá cả, lôi kéo các phần tử trung gian và khuyến
khích họ tiêu thụ hành hóa, đồng thời có thể giảm bớt các chi phí xúc tiến
yểm trợ.

Nội dung của chiến lược giá bao gồm 3 nội dung căn bản: phân tích,
đánh giá các yếu tố có tác động ảnh hưởng tới quyết định giá sản phẩm của
doanh nghiệp trong từng thời kỳ, ra các quyết định về giá bán sản phẩm và
phương pháp tính giá trong từng thời kì kinh doanh, chủ động lựa chọn các
phương thức ứng xử về giá bán sản phẩm.
Khi xác lập chiến lược, cũng như quyết định những vấn đề chính sách
giá bán sản phẩm của mình, các nhà kinh doanh cần phải phân tích và hiểu
biết về các nhân tố có ảnh hưởng và tác động chi phối đến giá sản phẩm đó là:
- Các nhân tố bên trong doanh nghiệp: Mục tiêu của chiến lược
Marketing trong từng thời kỳ, chi phí sản xuất kinh doanh, uy tín chất lượng
sản phẩm và các nhân tố khác…
- Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp: Đặc điểm của thị trường và cầu
về sản phẩm, khả năng chấp nhận và tâm lý của khách hàng, đặc điểm thị
trường cạnh tranh và các nhân tố khác.
SV: Đỗ Thị Sao Mai

7

Lớp: CQ45/32.02


Học viện tài chính
Luận văn tốt nghiệp
Nội dung và quy trình xác định giá sản phẩm của doanh nghiệp được
khái quát theo sơ đồ:

Xác
định
mục
tiêu và

giá

Các
mức
giá cụ
thể

Trong những trường hợp cụ thể khác nhau, để đảm bảo cho quá trình
kinh doanh được ổn định, doanh nghiệp cần chủ động và phản ứng đối với sự
thay đổi giá: chủ động giảm giá, chủ động tăng giá. Đồng thời công ty cũng
cần phân tích những ảnh hưởng của việc thay đối giá đến suy nghĩ và tâm lý
của khách hàng cũng như sự phản ứng của đối thủ cạnh tranh tìm ra những
giải pháp thích hợp nhất nhằm tránh những rủi ro xảy ra trong kinh doanh.
Cùng với đó, doanh nghiệp cũng cần đối phó với sự thay đổi giá của đối thủ
cạnh tranh.
1.1.2.3. Chính sách phân phối
Phân phối là một biến số quan trọng của Marketing hỗn hợp. Hoạt động
phân phối giải quyết vấn đề hàng hóa dịch vụ được đua như thế nào đến
người tiêu dùng. Trong Marketing, phân phối được hiểu là các quá trình tổ
chức kinh tế, kỹ thuật nhằm điều hành và vận chuyển hàng hóa từ nơi sản
xuất đến người tiêu dùng đạt hiệu quả kinh tế cao.
SV: Đỗ Thị Sao Mai

8

Lớp: CQ45/32.02


Học viện tài chính
Luận văn tốt nghiệp

Lớp: CQ45/32.02


Học viện tài chính
Luận văn tốt nghiệp
1.1.2.4 Chính sách xúc tiến hỗn hợp
Xúc tiến hỗn hợp trong Marketing bao gồm các hoạt động và giải pháp để
đề ra và thực hiện chiến lược, chiến thuật nhằm thúc đẩy bán hàng, nâng cao uy
tín và vị thế, tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
Xúc tiến hỗn hợp có vai trò quan trọng không chỉ đối với các doanh
nghiệp mà còn giúp người tiêu dùng và xã hội nhiều lợi ích. Đối với doanh
nghiệp là công cụ cạnh tranh giúp xâm nhập thị trường, cải thiện doanh số, xây
dựng hình ảnh của doanh nghiệp, hỗ trợ cho chiến lược định vị. Đối với người
tiêu dùng là cung cấp thông tin, giúp tiết kiệm thời gian, công sức khi mua sắm,
cung cấp kiến thức và các lợi ích kinh tế. Đối với xã hội là công cụ xúc tiến hỗ
trợ cho các phương tiện truyền thông nâng cao chất lượng, giảm chi phí và đa
dạng hóa sản phẩm, phục vụ xã hội tốt hơn, tạo động lực cạnh tranh…
Một hỗn hợp xúc tiến của doanh nghiệp bao gồm năm công cụ chủ yếu
sau: quảng cáo, quan hệ công chúng, bán hàng cá nhân, khuyến mãi và
Marketing trực tiếp. Vậy để thiết kế được một chiến lược xúc tiến hỗn hợp
hiệu quả doanh nghiệp cần chú ý tới các quyết định chủ yếu của các công cụ
như sau:
- Các quyết định trong việc thiết kế chương trình quảng cáo hiệu quả là:
quyết định về mục tiêu quảng cáo, ngân sách dành cho quảng cáo, thông điệp
quảng cáo, phương tiện thông tin quảng cáo, đánh giá hiệu quả chương trình
quảng cáo.
- Các quyết định chủ yếu trong Quan hệ công chúng: xác định mục tiêu,
lựa chọn thông điệp và phương tiện Quan hệ công chúng, thực hiện kế hoạch,
đánh giá kết quả của Quan hệ công chúng.
SV: Đỗ Thị Sao Mai

* Phân đoạn thị trường, xác định thị trường mục tiêu và định vị sản
phẩm
SV: Đỗ Thị Sao Mai

11

Lớp: CQ45/32.02


Học viện tài chính
Luận văn tốt nghiệp
Tiếp theo đó, doanh nghiệp phải tiến hành phân đoạn thị trường, lựa
chọn thị trường mục tiêu và định vị sản phẩm. Muốn làm được điều đó, doanh
nghiệp cần phải biết đo lường và dự báo mức độ hấp dẫn của một thị trường
nhất định. Việc này đòi hỏi phải ước tính quy mô chung của thị trường, mức
tăng trưởng, khả năng sinh lời và rủi ro. Các nhà nghiên cứu thị trường phải
nắm được các phương pháp chính để định hướng tiềm năng của thị trường và
dự báo nhu cầu có khả năng thanh toán trong tương lai.
* Xây dựng chiến lược Marketing hỗn hợp
Sau khi lựa chọn được thị trường mục tiêu các doanh nghiệp cần thiết
kế được chiến lược Marketing cần theo đuổi. Nội dung của xây dựng chiến
lược Marketing bao gồm: Tạo đặc điểm khác biệt và xây dựng chiến lược
định vị sản phẩm, Phát triển sản phẩm và dịch vụ mới, Quản trị chiến lược và
chu kỳ sống của sản phẩm, Thiết kế chiến lược Marketing đối với các doanh
nghiệp có các vị thế khác nhau.
Chiến lược Marketing phải được thể hiện thành các chương trình
Marketing. Công việc này được thực hiện bằng cách thông qua các quyết định
cơ bản về: chi phí cho Marketing, Marketing – Mix, phân bổ chi phí cho
Marketing.
* Tổ chức thực hiện

làm ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động Marketing của doanh nghiệp, đồng
thời sự phân bố lại dân cư kéo theo sự phân bố lại lực lượng sản xuất , phân
vùng lãnh thổ, các đặc khu kinh tế cũng là cơ hội thị trường hấp dẫn cho các
nhà đầu tư…
- Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế đóng vai trò quan trọng nhất trong sự vận động và
phát triển của thị trường. Môi trường kinh tế được phản ánh thông qua tốc độ
tăng trưởng của nền kinh tế, xu hướng của GDP, tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất
nghiệp, thu nhập của khách hàng…
Khi nghiên cứu môi trường kinh tế người làm Marketing cần phải theo
dõi chặt chẽ các xu hướng chủ yếu trong thu nhập và cơ cấu chi tiêu của
13
SV: Đỗ Thị Sao Mai

Lớp: CQ45/32.02


Học viện tài chính
Luận văn tốt nghiệp
người tiêu dùng. Ngoài ra cần phải theo dõi kỹ mọi biến động lớn trong thu
nhập, giá sinh hoạt, lãi xuất tiết kiệm, các kiểu tiết kiệm và vay tiền của người
tiêu dùng.
- Môi trường tự nhiên
Bao gồm các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng trực tiếp tới các yếu tố đầu vào
của các doanh nghiệp và từ đó tác động không nhỏ tới quá trình sản xuất kinh
doanh của họ. Để đảm bảo quá trình kinh doanh bền vững người làm
Marketing phải tính đến những đe dọa và các cơ hội liên quan đến môi trường
tự nhiên như: Tình trạnh khan hiếm về tài nguyên, khoáng sản sắp xảy ra; chi
phí về năng lượng gia tăng; ô nhiễm môi trường và việc can thiệp của Chính
phủ vào việc quản lý quá trình sử dụng cũng như việc tái sản xuất các nguồn

mặc dù nó luôn tồn tại và tác động thường xuyên tới hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Các nhân tố văn hóa mà doanh nghiệp cần chú ý tới
bao gồm: Các giá trị văn hóa cốt lõi rất bền vững, các nhánh văn hóa và
những giá trị văn hóa thứ yếu dễ biến đổi theo thời gian.
* Môi trường Marketing vi mô
- Những người cung ứng
Các nhà cung ứng là những người cung cấp cho doanh nghiệp và các
đối thủ cạnh tranh những yếu tố cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh
như: máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, nhiên liệu, lao động, tài chính…Vì
vậy các doanh nghiệp nên chọn những nhà cung ứng có uy tín và chọ một số
nhà cung ứng khác để hạn chế đến mức thấp nhất những rủi ro do cung ứng
gây ra. Đồng thời doanh nghiệp cần chú ý xây dựng môí quan hệ lâu dài với
các nhà cung ứng lớn, uy tín, vừa đảm bảo duy trì quá trình sản xuất kinh
doanh liên tục vừa giảm thiểu được rủi ro trong kinh doanh do các nhà cung
ứng gây ra.
- Các trung gian Marketing
Trung gian Marketing bao gồm các tổ chức dịch vụ, các doanh ngiệp
khác và các cá nhân hỗ trợ cho doanh nghiệp tổ chức tốt việc đưa sản phẩm,
hàng hóa, dịch vụ của mình tới tay người tiêu thụ cuối cùng. Giới trung gian
15
SV: Đỗ Thị Sao Mai

Lớp: CQ45/32.02


Học viện tài chính
Luận văn tốt nghiệp
có thể là nhà môi giới Marketing, người giúp công ty tìm thị trường, tìm
khách hàng, giới thiệu cách thức đi vào thị trường… Ngoài ra trung gian
Marketing cũng bao gồm các đơn vị vận chuyển, các trung gian tài chính, các

Luận văn tốt nghiệp
những khả năng đạt tới những mục tiêu đã đề ra”. Các tầng lớp công chúng
trực tiếp có thể hoặc là ủng hộ hoặc là chống lại những nỗ lực của doanh
nghiệp nhằm phục vụ thị trường. Vì vậy doanh nghiệp cần quan tâm đúng
mực tới các tầng lớp công chúng bên ngoài để tranh thủ được sự ủng hộ của
họ nhằm nâng cao danh tiếng và uy tín của doanh nghiệp đối với đông đảo
người tiêu dùng trong xã hội.
- Doanh nghiệp
Nhiệm vụ quan trọng của hệ thống Marketing là phải giúp doanh
nghiệp tạo ra được những sản phẩm, dịch vụ nhằm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu
của khách hàng trên thị trường mục tiêu của mình. Các nhà quản trị
Marketing cần biết phối hợp chặt chẽ với các bộ phận chức năng khác trong
công ty như: Tài chính – kế toán, bộ phận cung ứng vật tư, nghiên cưú triển
khai, những người thiết kế, bộ phận nhân sự và bộ phận sản xuất…
1.1.4. Đặc trưng của hoạt động Marketing đối với doanh nghiệp kinh
doanh Bất động sản.
1.1.4.1. Bất động sản và thị trường bất động sản.
* Bất động sản.
Theo Bộ luật Dân sự năm 2005 của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam,
tại Điều 174 có quy định: “Bất động sản là các tài sản bao gồm: Đất đai; Nhà,
công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà,
công trình xây dựng đó; Các tài sản khác gắn liền với đất đai; Các tài sản khác
do pháp luật quy định”.
Sản phẩm Bất động sản có những đặc điểm khác biệt so với những sản
phẩm hàng hóa thông thường:
- Tính cá biệt và khan hiếm: Đặc điểm này của Bất động sản xuất phát
từ tính cá biệt và tính khan hiếm của đất đai. Tính khan hiếm cụ thể của đất
17
SV: Đỗ Thị Sao Mai


hoá và tài chính hoá.
SV: Đỗ Thị Sao Mai

18

Lớp: CQ45/32.02


Học viện tài chính
Luận văn tốt nghiệp
- Thị trường Bất động sản mang tính vùng, tính khu vực sâu sắc và
không tập trung, trải rộng trên khắp các vùng miền của đất nước.
- Thị trường Bất động sản chịu sự chi phối của yếu tố pháp luật.
- Thị trường Bất động sản là một dạng thị trường không hoàn hảo
(thông tin không đầy đủ, thiếu 1 số tổ chức của thị trường).
- Thị trường Bất động sản có mối liên hệ mật thiết với thị trường vốn
và tài chính. Động thái phát triển của thị trường này tác động tới nhiều loại thị
trường trong nền kinh tế.
1.1.3.2 Khách hàng trên thị trường Bất động sản.
Khách hàng trên thị trường Bất động sản có thể chia thành hai loại: giới
đầu tư và người mua nhà để ở. Giới đầu tư thường quyết định nhanh trong
giao dịch, vì họ tập trung vào khả năng bán lại hoặc cho thuê. Trong khi đó,
người mua nhà để ở lại cân nhắc kỹ trước khi quyết định, có khi phải mất mấy
tháng nên cần tiếp cận họ liên tục.
Trên thực tế, cuộc khảo sát nhằm nhận diện khách hàng mục tiêu của
thị trường nhà ở tại Thành Phố Hồ Chí Minh, do Công ty Nghiên cứu thị
trường FTA thực hiện đã đưa ra năm phân khúc khách hàng. Ông Trần Ngọc
Dũng, chuyên viên nghiên cứu của FTA, cho biết cuộc khảo sát được tiến
hành trên 500 người; đối tượng nghiên cứu gồm nam và nữ trong độ tuổi từ
25-55, là người quyết định hoặc có ảnh hưởng đến việc mua nhà; đang tìm

- Ít nhạy cảm về giá nhưng chỉ trả giá cao cho căn nhà lý tưởng gần
sông, giao thông thuận tiện hay có hướng hợp với mình.
* Ngôi nhà mơ ước:
- Vợ chồng trẻ dành dụm mua căn hộ đầu tiên cho cuộc sống riêng.
- Thường chọn nhà có diện tích nhỏ hơn 80 mét vuông, có thể xa trung
tâm, giá khoảng vài trăm triệu đồng.
- Giá và phương thức thanh toán là yếu tố quan tâm hàng đầu.
* Kinh doanh địa ốc:
- Giới chuyên tìm hiểu về khả năng sinh lời của địa ốc.
- Tiềm năng của khu nhà.
SV: Đỗ Thị Sao Mai

20

Lớp: CQ45/32.02


Học viện tài chính
Luận văn tốt nghiệp
- Khả năng bán lại nhanh chóng của sản phẩm đã mua.
1.1.3.3 Đặc trưng của Marketing – mix đối với doanh nghiệp kinh doanh
Bất động sản.
Marketing trong lĩnh vực Bất động sản có sự khác biệt so với các loại
hàng hóa thông thường ở chỗ, nó đòi hỏi người làm Marketing cần có những
hiểu biết tổng thể về nền kinh tế; sự phát triển của cơ sở hạ tầng; đặc điểm của
vị trí, xu hướng của xã hội trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Kế hoạch
Marketing phải là sự kết hợp hài hòa giữa sự hiểu biết mang tính cục bộ địa
phương và những nghiên cứu mang tính chất toàn cầu dẫn đến việc đánh giá
được đúng giá trị của tiền thuê hay giá bán đối với Bất động sản.
*Sản phẩm trên thị trường Bất động sản

thông, cấp và thoát nước, cấp điện...), tăng hoặc miễn giảm thuế cho các
doanh nghiệp kinh doanh địa ốc, áp dụng việc bán đấu giá tài sản Bất động
sản thuộc sở hữu Nhà nước, chính sách nhà ở cho người có thu nhập thấp...;
có những yếu tố bắt nguồn từ tâm lý, thói quen của người dân như không
muốn bán nhà đất do cha ông để lại, hoặc không thích ở nhà chung cư, hoặc
ham muốn có nhà nằm trên quốc lộ, tỉnh lộ...
- Các phương pháp định giá Bất động sản:
+ Phương pháp so sánh trực tiếp: so sánh các giao dịch thị trường của
các Bất động sản có đặc điểm tương tự để xác định giá.
+ Phương pháp chi phí thay thế: giá trị Bất động sản = giá trị quyền sử
dụng đất + giá trị còn lại của tài sản trên đất.
+ Phương pháp thặng dư: giá trị Bất động sản = doanh thu phát triển (trừ) chi phí đầu tư phát triển.
+ Phương pháp đầu tư (thu nhập): giá trị bất động sản = thu nhập ròng
chia cho lãi suất vốn.
+ Phương pháp lợi nhuận: dựa vào sự ước tính khả năng sinh lợi.
* Phân phối sản phẩm Bất động sản:
Theo Điều 59 của Luật Kinh doanh bất động sản thì tổ chức, cá nhân
kinh doanh bất động sản khi bán, chuyển nhượng, cho thuê, mua bất động sản
22
SV: Đỗ Thị Sao Mai

Lớp: CQ45/32.02


Học viện tài chính
Luận văn tốt nghiệp
phải thông qua sàn giao dịch. Sàn giao dịch bất động sản là nơi diễn ra các
giao dịch bất động sản và cung cấp các dịch vụ cho kinh doanh bất động sản.
Các giao dịch này phải qua sàn để được cấp chứng thư hay chứng nhận.
Nội dung hoạt động của sàn giao dịch Bất động sản: giao dịch mua bán,

bằng những thông điệp hấp dẫn với các thông tin có tính chất: kích thích được
sự nôn nóng của khách hàng; thông tin về diện tích, vị trí, số phòng, địa chỉ,
phố…; giá cả và phương thức thanh toán; tình trạng pháp lý; sự tiện nghi, giờ
mở cửa cho xem nhà, điện thoại liên lạc…
- Tiến hành các chương trình xúc tiến bán hàng
Các nhà xây dựng lớn và các nhà đầu tư Bất động sản có ngân sách lớn
dành cho tiếp thị thường tiến hành các chương trình xúc tiến bán hàng. Có
nhiều phương thức sáng tạo để các nhà đầu tư có thể tiến hành chương trình
xúc tiến bán hàng hiệu quả. Ví dụ: tổ chức một buổi tiệc ra mắt và mời những
người có thể giúp bán được Bất động sản, đó là các nhà môi giới Bất động sản
và các đại lý bán hàng để họ biết có những gì và số tiền hoa hồng họ có thể
nhận được qua việc tham gia bán hàng và cho thuê.
1.2. Marketing – mix với việc nâng cao hiệu quả kinh doanh trong doanh
nghiệp kinh doanh Bất động sản
1.2.1. Lý luận cơ bản về hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng
các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã đặt ra, nó biểu hiện mối tương quan
giữa kết quả thu được và những chi phí bỏ ra để có được kết quả đó, độ chênh
lệch giữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả càng cao. Trên góc độ này
thì hiệu quả đồng nhất với lợi nhuận của doanh nghiệp và khả năng đáp ứng
về mặt chất lượng của sản phẩm đối với nhu cầu của thị trường.
Thực chất khái niệm hiệu quả kinh doanh là biểu hiện mặt chất lượng
của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực
(nguyên vật liệu, thiết bị máy móc, lao động và đồng vốn) để đạt được mục
SV: Đỗ Thị Sao Mai

24

Lớp: CQ45/32.02


25

Lớp: CQ45/32.02



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status