triết học phật giáo ấn độ và ảnh hưởng của nó đối với văn hoá xã hội việt nam - Pdf 34

Tiểu luận Triết học

Trng HSPHN2

Trờng đại học s phạm hà nội 2
PHòNG SAU ĐạI HọC
************

tiểu luận triết học
đề tài:

TRIếT HọC PHậT GIáO ấN Độ Và
ảNH HƯởng của nó đối với văn
hoá xã hội việt nam
Giảng viên

: T.S Vi Thái Lang

Học viên
: Trn Xuõn Trng
Chuyên ngành: Toán giải tích -K16

Hà Nội - 2013
LI CM N
Tụi xin chõn thnh cm n s ch bo, ging dy tn tỡnh ca thy giỏo
T.S Vi Thỏi Lang trong sut quỏ trỡnh hc tp mụn Trit hc Mỏc Lờnin
tụi cú th hon thnh tiu lun ny. Tuy nhiờn, õy l bc u lm quen vi
nghiờn cu khoa hc nờn ti khụng trỏnh khi nhng thiu sút. Vỡ vy, tụi

Trn Xuõn Trng



1. Lí do chọn đề tài
......................................................................................................
1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
......................................................................................................
2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
......................................................................................................
3
4. Phương pháp nghiên cứu
......................................................................................................
3
5. Kết cấu của tiểu luận
......................................................................................................
3
NỘI DUNG
4
Chương 1: Khái quát về triết học Phật giáo Ấn Độ
4
1.1. Nguồn gốc ra đời
4
1.1.1. Điều kiện tự nhiên – văn hóa – xã hội
4
1.1.2. Sự ra đời của Phật giáo
4
1.2. Nội dung chủ yếu của tư tưởng triết học Phật giáo
8
Chương 2: Sự truyền bá và ảnh hưởng của Phật giáo đến văn hóa
xã hội Việt Nam

TÀI LIỆU THAM KHẢO
26

Trần Xuân Trường

4

K16 - TGT


TiÓu luËn TriÕt häc

Trường ĐHSPHN2

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Đạo Phật là một trong những học thuyết Triết học - tôn giáo lớn nhất
trên thế giới. Nó được khai sinh từ chiếc nôi thành Ca Tỳ La Vệ ( thuộc nước
Ấn Độ ), trải qua 2.500 năm lịch sử đầy những thăng trầm, có lúc tưởng
chừng đã biến mất hẳn ngay trên bản địa, phật giáo vẫn phát triển rộng khắp
năm châu. Hiện nay, sự thành tựu vượt bậc của khoa học cùng với tư tưởng
tiến hóa của nhân loại đòi hỏi thẩm định lại giá trị của nhiều tư tưởng triết học
xưa nay. Đương nhiên, những tư tưởng mang tính phi lý, lạc hậu, phản khoa
học đều phải tự đào thải trước những văn minh tiến bộ của loài người. Thế
nhưng tòa nhà cổ 25 thế kỉ của Phật giáo vẫn tồn tại cùng với lớp bụi thời
gian, sừng sững như cây đại thọ giữa núi rừng trùng điệp. Điều đó đã minh
chứng rằng Phật giáo đã toát ra được một sức sống mãnh liệt bắt nguồn từ
một giá trị tinh thần phong phú.
Đạo phật được truyền bá vào nước ta khoảng thế kỷ thứ II sau CN và
đã nhanh chóng trở thành một tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống

của quần chúng nhân dân…
Lĩnh vực nghiên cứu Phật giáo hiện nay tương đối được mở rộng, ngoài
việc nghiên cứu giáo lý, kinh điển, lịch sử ... của Phật giáo ra còn đề cập đến
các lĩnh vực Triết học, Sử học, Tâm lý học, Khảo cổ học, Xã hội học, Dân tộc
học, Văn học, Nghệ thuật ... Phật học đã trở thành một trong những khoa học
tương đối quan trọng trong khoa học xã hội, trước mắt có quan hệ mật thiết
với xã hội học.
Hơn nữa quá trình, Phật giáo phát triển, truyền bá ở Việt Nam gắn liền
với quá trình hình thành, phát triển tư tưởng, đạo đức của con người. Cho nên,
khi nghiên cứu lịch sử, tư tưởng, đạo đức Việt Nam không thể không đề cập
đến Phật giáo và những mối quan hệ, tác động qua lại giữa chúng. Vì

vậy

nghiên cứu Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến xã hội và con người Việt Nam
là một nội dung quan trọng nhằm tìm hiểu lịch sử cũng như định hướng cho
sự phát triển nhân cách, tư duy con người Việt Nam trong tương lai.
Từ những lí do trên tôi đã chọn đề tài “ Triết học Phật giáo Ấn Độ và
ảnh hưởng của nó đối với văn hóa xã hội Việt Nam” cho tiểu luận của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích: Nghiên cứu về Phật giáo, tiểu luận tìm hiểu về triết học
Phật giáo ở Ấn Độ và ảnh hưởng của nó đến văn hóa xã hội Việt Nam. Trên
cơ sở đó đề xuất một số giải pháp có tính định hướng cho việc phát huy
những ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của Phật giáo đối
với xã hội Việt Nam hiện nay.

Trần Xuân Trường

6


7

K16 - TGT


TiÓu luËn TriÕt häc

Trường ĐHSPHN2

NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ẤN ĐỘ
1.1. Nguồn gốc ra đời
1.1.1. Điều kiện tự nhiên – văn hóa – xã hội
Điều kiện tự nhiên: Ấn Độ cổ có địa hình rất phức tạp, có nhiều núi
non trùng điệp, có nhiều sông ngòi với những đồng bằng trù phú, khí hậu có
vùng nóng, ẩm, mưa nhiều, lại có vùng lạnh gía quanh năm tuyết phủ, lại có
những sa mạc khô khan.
Điều kiện kinh tế - xã hội Ấn Độ là sự tồn tại sớm và kéo dài kết cấu
kinh tế xã hội theo mô hình “công xã nông thôn”. Nên xã hội Ấn Độ đã tồn tại
rất dai dẳng sự phân chia đẳng cấp, sự phân biệt chủng tộc, dòng dõi, nghề
nghiệp, tôn giáo làm cho kết cấu xã hội rất phức tạp.
Nền văn hóa Ấn Độ cổ rất phát triển. người Ấn Độ đã biết quả đất tròn
quay xung quanh một trục, đã biết sáng tạo ra lịch pháp, đã có hệ thống số
đếm thập phân, đã biết đến số không, đã có những thành tựu trong đại số,
hình học, khai căn, … y học và hóa học phát triển. Đây cũng là thời kì phát
triển tư duy trừu tượng, thời kì ra đời của các hệ thống tôn giáo, triết học.
Những điều kiện trên luôn tác động mạnh đến con người, để lại dấu ấn
tâm linh đậm nét, tạo nên cơ sở ra đời và quy định nội dung tính chất của nền
triết học Ấn Độ đặc biệt là Phật giáo.
1.1.2. Sự ra đời của Phật giáo

cho rằng giấc mơ là điềm Hoàng hậu đang có mang và sẽ sinh hạ được một
Hoàng tử tuyệt vời, người sau này sẽ trở thành vị chúa tể của thế giới hoặc
người thầy của thế giới. Đến ngày, đến tháng, Hoàng hậu Mahamaia trở về
nhà cha mình để sinh con. Thế nhưng vừa đến khu vườn Lumbini, cách thủ đô
Capilavastu của người Sakia không xa, Hoàng hậu trở dạ và vị Hoàng tử đã ra
đời. Vừa ra đời, vị Hoàng tử tí hon đã đứng ngay dậy, đi bảy bước và nói: “
Đây là kiếp cuối cùng của ta, từ nay ta không phải luôn hồi một kiếp nào
nữa!”.
Đến ngày thứ năm một nghi thức trọng thể được tổ chức và Hoàng tử
được đặt tên là Siđhartha. Để ngăn cản Hoàng tử không nghĩ tới việc tu hành,
đức vua cha đã tìm mọi cách tạo ra quanh người con trai mình một cuộc sống
vương giả. Hoàng tử được học mọi kiến thức để sau này trở thành một vị vua
tài ba anh minh trị vì một đất nước ấn Độ bao la. Thế rồi, nhà vua và quần
thần đã kén cho Hoàng tử một người vợ kiều diễm. Nhưng cuộc đời vương
giả không cán dỗ được Hoàng tử trẻ tuổi. Bốn sự việc do các thần tạo ra đã
làm thay đổi hẳn cuộc đời Hoàng tử Siddhartha. Đó là một lần khi đang dạo

Trần Xuân Trường

9

K16 - TGT


TiÓu luËn TriÕt häc

Trường ĐHSPHN2

chơi trong vườn, Hoàng tử thấy một ông già gày còm, ốm yếu rồi nhận ra một
điều rằng mọi người rồi ai cũng phải già yếu như thế. Ít lâu sau Hoàng tử lại


K16 - TGT


TiÓu luËn TriÕt häc

Trường ĐHSPHN2

Khi Hoàng tử Sidhartha 35 tuổi, một hôm ngài đến ngồi dưới gốc cây
bồ đề ở ngoại vi thành phố Gaia thuộc vùng đất của vua Bimbisura, vua nước
Magadha. Cho đến một hôm có nàng Sudjata, con gái của một nông dân trong
vùng đem cho ngài một bát cơm to nấu bằng sữa. Ăn xong, ngài xuống sông
tắm rửa, rồi trở lại gốc cây bồ đề. Ngài ngồi thiền định và nguyện sẽ không
đứng dậy nếu không tìm ra sự giải thoát về điều bí ẩn của sự đau khổ. Và
Hoàng tử đã ngồi dưới gốc cây bồ đề suốt 49 ngày đêm. Bảy tuần lễ đó là cả
một chuỗi ngày đầy thử thách. Để phá sự thiền định của Hoàng tử, con quỹ dữ
Mara tìm mọi cách làm chàng nản chí. Thoạt đầu, quỷ Mara biến thành một
sứ giả đến báo cho Hoàng tử một tin bịa đặt là em trai Hoàng tử là Đevađatta
nổi loạn, bắt nhốt đức vua cha vào ngục và chiếm nàng Yashodrara làm vợ.
Thế nhưng tin dữ đó không làm cho Hoàng tử bận tâm. Mara bèn cho gọi các
quỷ dữ tới làm ra mưa to, gió lớn gây ra động đất, lụt lội nhưng Hoàng tử vẫn
ngồi bình thản dưới gốc cây bồ đề, cảm phục trước ý chí kiên định của Hoàng
tử, rắn thần Naga dùng thân làm tán che mưa gió cho Hoàng tử ngồi. Thấy thế
quỷ dữ Mara bèn dùng biện pháp quyết liệt và tinh tế hơn để công phá vào
thành trì kiên định của Hoàng tử Sidhartha. Nó cho gọi ba cô con gái xinh đẹp
của mình là các nàng Khát vọng, khoái lạc và Dục vọng tới múa nhảy mê
hoặc nhà tu hành trẻ tuổi. Thế nhưng biện pháp cuối cùng của quỷ Mara cũng
thất bại và lũ quỷ phải dời khỏi gốc cây bồ đề. Rạng sáng ngày 49, Siddhartha
đã tìm ra bí mật của sự đau khổ, đã tìm ra được vì sao thế giới lại tràn đầy khổ
đau và đã tìm ra được cách để chiến thắng sự đau khổ. Siddhartha đã hoàn

nói cuối cùng của Phật là: “ Hỡi các tì kheo tất cả những gì đang tồn tại rồi sẽ
qua đi. Vậy các người càng không nên ngừng gắng sức!”
1.2. Nội dung chủ yếu của tư tưởng triết học Phật giáo
Tư tưởng triết học Phật giáo được tập trung trong một khối lượng kinh
điển rất lớn, được tổ chức thành ba bộ kinh lớn gọi là Tam Tạng ( Tripitaka )
gồm:
- Kinh Tạng ( Sùtra): Được coi là ghi lại lời phật Buddha thuyết pháp,
trong thời kỳ đầu Kinh gồm nhiều tập dưới dạng các tiền đề, mỗi tập được gọi
là một Ahàm.
- Luật Tạng (Vinaya): Gồm toàn bộ những giới luật của Phật giáo qui
định cho cả năm bộ phái Phật giáo như: “ Tứ phần luật” của thượng toạ bộ,
Maha tăng kỷ luật của “Đại chúng bộ”, căn bản nhất thiết hữu bộ luật” ... Sau
này còn thêm các Bộ luật của Đại Thừa như An lạc, Phạm Võng.
- Luận Tạng ( Sastra): Gồm những bài bình chú, giải thích về giáo
pháp của Phật giáo. Luận gồm bảy bộ thể hiện một cách toàn diện các quan
điểm về giáo pháp của Phật giáo của các học giả - cao tăng về sau.

Trần Xuân Trường

12

K16 - TGT


TiÓu luËn TriÕt häc

Trường ĐHSPHN2

Tư tưởng triết học Phật giáo được xem xét trên hai phương diện, về bản
thể luận và nhân sinh quan, chứa đựng những tư tưởng duy vật và biện chứng


K16 - TGT


TiÓu luËn TriÕt häc

Trường ĐHSPHN2

thế giới tồn tại khách quan và không do vị thần nào sáng tạo ra cả. Cái bản thể
ấy chính là sự thường hằng trong vận động của vũ trụ, là muôn ngàn hình
thức của vạn vật trong vận động, nó có mặt trong vạn vật nhưng nó không
dừng lại ở bất kỳ hình thức nào. Nó muôn hình vạn trạng nhưng lại tuân hành
nghiêm ngặt theo luật nhân quả.
Thế giới sự vật và hiện tượng luôn luôn biến hiện theo chu trình: Sinh trụ - dị - diệt ( sinh thành, biến đổi, tồn tại, tan rã và diệt vong) theo luật nhân
quả. Quá trình đó phổ biến khắp vạn vật, trong vũ trụ, nó là phương thức thay
đổi chất lượng của sự vật và hiện tượng.
Phật giáo trong quá trình giải thích sự biến hoá vô thường của vạn vật,
đã xây dựng nền thuyết “ nhân duyên”. Trong thuyết “nhân duyên” có ba khái
niệm chủ yếu là Nhân, Quả và Duyên.
- Cái gì phát động ra ở vật gây ra một hay nhiều kết quả nào đó, được
gọi là Nhân.
- Cái gì tập lại từ Nhân được gọi là Quả.
- Duyên: Là điều kiện, mối liên hệ, giúp Nhân tạo ra Quả. Duyên không
phải là một cái gì đó cụ thể, xác định mà nó là sự tương hợp, điều kiện để
giúp cho sự biến chuyển của vạn Pháp.
Ví dụ hạt lúa là cái quả của cây lúa đã thành, mà lại là cái nhân của cây
lúa sắp thành. Lúa muốn thành cây lúa có bông lại phải nhờ có điều kiện và
những mối liên hệ thích hợp như đất, nước, không khí, ánh sáng. Những yếu
tố đó chính là Duyên.
- Mối quan hệ Nhân - Duyên là mối quan hệ biện chứng trong không

- Cái tôi sinh lý tức là thể xác, hình chất với yếu tố “ sắc” ( địa, thuỷ,
hoả, phong, không ) tức là cái cảm giác được.
- Cái tôi tâm lý ( tinh thần ) linh hồn tức là “tâm” với 4 yếu tố chỉ có
tên gọi mà không có hình chất gọi là “ Danh”.
Trong “Sắc’’ gồm những cái nhìn thấy được cũng như những thứ
không nhìn thấy được nếu nó nằm trong quá trình biến đổi của “sắc” gọi là
“vô biến sắc” như vật chất chuyển hoá thành năng lượng chẳng hạn.
Bốn yếu tố do nhân duyên tạo thành phần tâm lý ( tinh thần ) của con
người là:
+ Thụ: Những cảm giác, cảm thụ về khổ hay sướng, đưa đến sự xúc
chạm lĩnh hội thân hay tâm.
+ Tưởng: Suy nghĩ, tư tưởng.
+ Hành: ý muốn thúc đẩy hành động.
+ Thức: Nhận thức, phân biệt đối tượng tâm lý ta là ta.

Trần Xuân Trường

15

K16 - TGT


TiÓu luËn TriÕt häc

Trường ĐHSPHN2

Hai thành phần tạo nên từ ngũ uẩn do Nhân - Duyên tạo thành mỗi sinh
vật cụ thể có danh và có sắc. Duyên hợp ngũ uẩn thì là ta. Duyên tan ngũ uẩn
thì là diệt. Quá trình hợp tan ngũ uẩn do Nhân - Duyên là vô cùng tận.
- Các yếu tố của ngũ uẩn cũng luôn luôn biến hoá theo qui luật nhân



TiÓu luËn TriÕt häc

Trường ĐHSPHN2

tham dục vì ta chưa hiểu đươc chân bản vốn có của ta cũng như vạn vật là
luôn luôn biến đổi không có gì là thường định và vĩnh viễn cả.
Cuộc đời con người là sự ghánh chịu hậu quả của nghiệp đương thời và
các kiếp sống trước rồi nó tiếp tục chi phối cả đời sau.
Nghiệp báo trong một đời là sự tổng hợp của các nghiệp gây ra trong
hiện tại cộng với các nghiệp gây ra trong quá khứ, nó quyết định đời sau xấu
hay tốt, thiện hay ác.
Luân hồi: Chữ phạn là Samsara. Có nghĩa là bánh xe quay tròn. Đạo
phật cho rằng, sau khi một thể xác sinh vật nào đó chết thì linh hồn sẽ tách ra
khỏi thể xác và đầu thai vào một sinh vật khác nhập vào một thể xác khác (có
thể là con người, loài vật thậm chí cỏ cây). Cứ thế mãi do kết quả, quả báo
hành động của những kiếp trước gây ra. Đó cũng là cách lý giải căn nguyên
nỗi khổ ở đời con người.
Để đi tới giải thoát. Phật nêu lên:” Tứ diệu đế” nghĩa là Bốn chân lý
tuyệt diệu thiêng liêng mà mọi người phải nhận được. Con đường giải thoát
đó không những đòi hỏi ta nhận thức được nó mà cao hơn ta phải hành động,
phải thấm nhuần Tứ diệu đế, bao gồm:
1. Khổ đế ( Duhkha - satya): Phật giáo cho rằng cuộc đời là bể khổ. Cái
khổ của cuộc đời được tóm trong 8 thứ khổ, gọi là “ Bát khổ”, ngoài bốn nỗi
khổ: “sinh, lão, bệnh, tử”, còn thêm bốn nỗi khổ: Thụ biệt ly ( yêu thương
nhau phải xa nhau ), Oán tăng hội ( ghét nhau phải tụ hội với nhau ), Sở cầu
bất đắc ( muốn mà không được ), Thủ ngũ uẩn (khổ vì có sự tồn tại thân
xác)... Những nỗi khổ ấy từ đâu? chúng ta tiếp tục tìm hiểu Tập đế.
2. Tập đế ( samudaya – satya ): Tập là tập hợp, tụ tập lại mà thành. Vậy

trở nên ô nhiễm, mất cân bằng. Cái tâm thức đó tùy theo nghiệp lực mà tìm
đến các nhân duyên để hiện hình, thành ra một đời khác.
+ Duyên Danh - Sắc ( Nafmaarupa): Là sự hội họp của các yếu tố của
vật chất và tinh thần. Đối với loài hữu tình, sự hội họp của Danh và Sắc sinh
ra lục căn, tức cơ quan cảm giác ( Nhẵn căn, Nhĩ căn, Tỵ căn, Thiện căn,
Thân căn và Ý căn = mắt, tai, mũi, lưỡi, than thể và ý thức).
+ Duyên lục nhập ( Sadayatana): Là quá trình tiếp xúc với thế giới
khách quan xung quanh. Lục căn tiếp xúc với Lục trần ( Lục trần: Sắc, Thanh,
Hương, Vị, Xúc, Pháp ).
+ Duyên Xúc ( Sparsa): Là sự tiếp xúc, phối hợp giữa Lục căn, Lục trần
và Thức.
+ Duyên Thụ (Vedana): Thụ là cảm giác. Do tiếp xúc mà nảy sinh ra
yêu, ghét, buồn, vui…
+ Duyên Ái (Trsna): Ái là yêu thích, ở đây chỉ sự nảy sinh dục vọng

Trần Xuân Trường

18

K16 - TGT


TiÓu luËn TriÕt häc

Trường ĐHSPHN2

+ Duyên Thủ (Upadana): Có “Ái” rồi thì có “Thủ”, tức đã yêu rồi thì
muốn chiếm lấy, giữ lấy.
+ Duyên Hữu ( Bhava): Tiến tới xác định chủ thể chiếm hữu ( cái ta )
thì phải tồn tại( Hữu ) tức là đã có hành động tạo nghiệp.


TiÓu luËn TriÕt häc

Trường ĐHSPHN2

- Chính kiến: Phải nhận thức đúng đắn, nhất là Tứ diệu đế, phân biệt
được phải trái, không để cho những cái sai che lấp sự sáng suốt.
- Chính tư duy: Suy nghĩ phải, phải chính, phải đúng đắn.
- Chính nghiệp: Nghiệp có tà nghiệp và chính nghiệp. Nếu là tà nghiệp
( sát hại, trộm cướp)thì phải tu sửa cải tạo, nếu là chính nghiệp thì phải giữ
cho vững.
- Chính ngữ: Giữ lời nói chân chính
- Chính mệnh: Phải tiết chết dục vọng, trì giới ( giữ các điều răn)
- Chính tịnh tiến: ( Phải hăng hái tích cực trong việc tìm kiếm và
truyền bá chân lý của Phật)
- Chính niệm: Phải thường hằng nhờ Phật, niệm Phật.
- Chính định: Phải tĩnh lặng, tập trung tư tưởng mà suy nghi Tứ diệu
đế, về vô ngã, vô thường, khổ.
Muốn thực hiện được “ Bát chính đạo” thì phải có phương pháp để thực
hiện nhằm ngăn ngừa những điều gian ác gây thiệt hại cho mình và những
người làm điều thiện có lợi ích cho mình và cho người. Nội dung của các
phương pháp đó là thực hiện “ Ngũ giới” ( năm điều răn ) và “Lục độ” (Sáu
phép tu ).
- “Ngũ giới” gồm:
+ Bất sát:

Không sát sinh

+ Bất đạo: Không làm điều phi nghĩa.
+ Bất dâm: Không dâm dục.

thời cũng là ưu điểm nửa vời của Đạo phật. Đứng trước bể khổ của chúng
sinh Phật giáo chủ trương cải tạo tâm linh chứ không phải cải tạo thế giới hiện
thực. Như vậy Phật giáo nguyên thuỷ có tư tưởng vô thần, phủ nhận đấng
sáng tạo ( vô ngã, vô tạo giả) và có tư tưởng biện chứng ( vô thường, lý thuyết
Duyên khởi ). Tuy nhiên, Triết học Phật giáo cũng thể hiện tính duy tâm chủ
quan khi coi thế giới hiện thực là ảo giả và do cái tâm vô minh của con người
tạo ra.

Trần Xuân Trường

21

K16 - TGT


TiÓu luËn TriÕt häc

Trường ĐHSPHN2

CHƯƠNG 2: SỰ TRUYỀN BÁ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO
ĐẾN XÃ HỘI VÀ CON NGƯỜI VIỆT NAM.
2.1. Sự truyền bá của Phật giáo vào Việt Nam
Phật giáo do Thích Ca Mâu Ni sáng lập vào thế kỉ VI TCN. Đến thời
Asoka ( A Dục) khoảng thế kỉ II trước TCN thì Phật giáo đã lan truyền đến
nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, Phật
giáo vào nước ta khoảng cuối thế kỉ thứ I đầu thế kỉ thứ II. Trung tâm Phật
giáo đầu tiên là Luy Lâu ( chùa Pháp Vân tức chùa Dâu – Bắc Ninh ). Du
nhập vào Việt Nam với nhiều tông phái ( Thiền Tông, Tịnh Độ Tông, Mật
Tông…), Phật giáo vừa tồn tại hòa quyện với tín ngưỡng dân gian vừa thống
nhất tư tưởng đạo đức truyền thống. Bởi vậy, ngay từ đầu Phật giáo đã ăn sâu

không nằm ngoài quy luật đó.
2.2.1. Ảnh hưởng tích cực của Phật giáo đến con người xã hội Việt Nam
Hiện nay Phật giáo luôn đi đầu trong các phong trào từ thiện, khơi dậy
những tấm lòng nhân ái của nhân dân Việt Nam. Năm 1996, Tăng ni Phật tử
cả nước đã đóng góp hơn 6,3 tỉ đồng công đức cho công tác cứu trọ thiên tai,
xóa đói giảm nghèo, xây dựng nhà tình nghĩa, bốc thốc miễn phí tại các Tuệ
Tĩnh đường.
Từ thực tiễn xã hội đến giáo lý Phật giáo đã đưa giáo lý vào tâm thức con
người Việt Nam ( khoảng 40% dân số), một nếp sông đầy lòng nhân ái bao
dung.
Phật giáo đề cao tính nhân ái, vị tha khuyên con người sống phải có từ - bi
– hỉ - xả, xem đó là tứ vô lượng tâm, hay tứ đẳng hay tứ phẩm hạnh, tứ thiền.
Tu tập lòng từ bi để biết đem đến cho mọi người niềm vui, tu tập lòng từ bi để
biết giúp đỡ, an ủi chia sẻ với mọi người nội khổ, tu tập lòng hỉ nhằm gạt bỏ
tính đố kị, ghanh ghét để vui với cái vui của mọi người và tu tập lòng xả để
gạt bỏ tính ích kỉ cố chấp.
Phật giáo góp phần bảo tồn và phát triển kiến trúc truyền thống. Khi nước
ta bước vào công nghiệp hóa - hiện đại hóa thì kiến trúc cổ truyền Việt Nam “
cột, xà, kè” phần lớn đã biến mất. Thay thế vào đó là những kiến trúc cao
tầng, bê tông, cốt thép. Số ít những kiến trúc cổ truyền còn lưu giữ được
chính là các trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo. Ngôi chùa đã được bảo
tồn, trùng tu, xây mới cũng là kết quả của sự giao lưu văn hóa nhưng nó vẫn
còn lưu giữ được ít nhiều gương mặt kiến trúc cổ truyền.
Phật giáo luôn chủ trương bình đẳng, bác bỏ sự phân biệt giàu nghèo, đây
cũng là ý tưởng xây dựng một xã hội công bằng.
Làm từ thiện, từ bi, cứu khổ, cứu nạn là tư tưởng hành vi của Phật giáo,
tưởng này là một nét đẹp trong xây dựng xã hội, nó lên án chủ nghĩa cá nhân,

Trần Xuân Trường


trong phạm vi cả nước trong những dịp lễ, tết, hội hè, giỗ chạp…
Tại Việt Nam, tục lệ đốt vàng mã đã và đang phát triển mạnh mẽ không ở
trong phạm vi cúng giỗ ở gia tiên và đền chùa mà còn lan sang các cơ quan
công quyền quốc doanh, trở thành một nghi thức không thể thiếu ở các công ti
xây dựng cầu đường và các công trình thủy điện, trong các buổi lễ động thổ,
khởi công xây dựng các công trình cho Nhà nước giao phó.

Trần Xuân Trường

24

K16 - TGT


TiÓu luËn TriÕt häc

Trường ĐHSPHN2

Theo Bộ Văn hóa Thông tin cho biết khoảng 50.000 nghìn tấn vàng mã
được sử dụng trong một năm và riêng tại Hà Nội đã tiêu thụ trên 400 tỉ đồng
cho việc đôt vàng mã. Không có con số thống kê chính xác nhưng tất cả các
siêu thị ở Việt Nam đều bày bán vàng mã, chứng tỏ nhu cầu tiêu thụ.
Tục coi ngày giờ, đây cũng là một tập tục ăn sâu vào tập quán của người
Việt Nam nói riêng và cả Châu Á nói chung. Mỗi khi sắp làm một việc gì
quan trọng như: Xây nhà cửa, đám cưới, đám ma, xuất hành đầu năm, người
dân thường về chùa để nhờ các thầy coi giúp ngày tốt thì làm, ngày xấu thì
tránh. Theo cái nhìn của Phật giáo thì đây cũng là một hiện tượng mê tín,
người Phật tử không nên chạy theo. Phật giáo răn dạy ta rằng: Với người làm
điều lành thì ngày nào cũng là ngày tốt, với những người làm điều tốt ngày
nào cũng là ngày lành.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status