BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
----------------
ĐẶNG THỊ TIẾN
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC VỀ CON NGƯỜI TRONG
VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1900 - 1945
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60.22.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Đào Đức Doãn
Hµ Néi - 2015
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Đào Đức Doãn, người thầy
đã nhiệt tình, tận tâm trong quá trình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, tập thể thầy cô giáo khoa
Triết học trường Đại học Sư phạm Hà Nội, phòng sau Đại học đã tận tình
giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Và tôi cũng xin cảm ơn, cha mẹ, anh – chị – em và những người thân
trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn ở bên động viên, khích lệ và giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình học tập.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10 năm 2015
Tác giả luận văn
đại hóa văn học thể hiện phong phú, sâu sắc hiện đại hóa triết học.
Vì thế, nghiên cứu tư tưởng triết học về con người trong văn học giai
đoạn này sẽ có nhiều ý nghĩa không chỉ trong việc nhận diện sự phát triển của
triết học mà cả sự phát triển văn học.
4
1.3. Ở nước ta, sự phát triển triết học nói chung, tư tưởng triết học về
con người nói riêng trong giai đoạn 1900 - 1945 vẫn còn chưa nhận được sự
quan tâm thỏa đáng của các nhà nghiên cứu. Việc nghiên cứu quá trình hiện
đại hóa văn học trong giai đoạn này đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng sự
thể hiện và sự ảnh hưởng của tư tưởng triết học về con người trong văn học
vẫn còn đang là mảnh đất mới. Vì vậy, nghiên cứu tư tưởng triết học về con
người trong văn học ở giai đoạn này sẽ hứa hẹn nhiều đóng góp mới.
Từ những lý do trên, tôi mạnh dạn chọn vấn đề “Tư tưởng triết học về
con người trong văn học Việt Nam giai đoạn 1900 - 1945” làm đề tài luận
văn Thạc sĩ Triết học của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu
2.1. Vấn đề tư tưởng triết học về con người ở Việt Nam
Kể từ 1900 đến nay, do ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, đặc biệt
là văn hóa Pháp, các lĩnh vực nghiên cứu khoa học chuyên biệt ở Việt Nam
bắt đầu hình thành và phát triển. Vấn đề lịch sử, văn hóa và tư tưởng của con
người bắt đầu nhận được sự quan tâm của các học giả. Tiêu biểu nhất trong
giai đoạn này là các công trình nghiên cứu như: Việt Nam văn hóa sử cương
(1938) của Đào Duy Anh (NXB Tp.Hồ Chí Minh, 2005) và Văn minh Việt
Nam (1944) của Nguyễn Văn Huyên (NXB Hội Nhà văn, 2005).
Từ sau Cách mạng tháng Tám (1945), vấn đề văn hóa nói chung và tư
tưởng triết học của người Việt Nam nói riêng ngày càng được các nhà nghiên
cứu quan tâm hơn. Tiêu biểu nhất là các tác giả như: Trần Văn Giàu với Sự
(1944) của Vũ Ngọc Phan (NXB Vĩnh Thịnh, 1951); Nghiên cứu và phê bình
văn học (1944) của Lê Thanh (NXB Hội Nhà văn, H.2002); Thi nhân Việt
Nam (1942) của Hoài Thanh – Hoài Chân (NXB Văn học, H.1988)…
Từ 1945 trở lại đây, các công trình nghiên cứu về văn học Việt Nam
ngày càng phong phú hơn. Vấn đề tư tưởng triết học về con người trong văn
học Việt Nam vì thế cũng ngày càng được chú trọng xem xét hơn.
Tiêu biểu là các công trình nghiên cứu như: Lời giới thiệu “Tuyển tập
Tản Đà” (NXB Văn học, H.1982) của Xuân Diệu; Văn học Việt Nam từ đầu
thế kỷ XX đến 1930 in trong Lịch sử văn học Việt Nam, tập 4B (NXB Giáo
6
dục, H.1978) của Lê Trí Viễn; Văn học Việt Nam những năm 20 của thế kỷ
XX in trong Hợp tuyển văn thơ Việt Nam, tập V (NXB Văn học, H.1987) của
Nguyễn Hà Thu; (Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (NXB ĐH&THCN, H.1974,
1975) và Văn học Việt Nam thế kỷ XX (NXB Giáo dục, H.2005) của Phan Cự
Đệ; Khảo luận văn chương (NXB KHXH, H.1998) của Hà Minh Đức; Văn
học Việt Nam 1900 - 1930 (NXB Giáo dục, H. 1996) của Trần Đình Huợu và
Lê Chí Dũng; Văn học Việt Nam thế kỷ XX (NXB Đại học Sư phạm, H.2008)
của Trần Đăng Suyền (chủ biên); Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt
Nam (NXB Giáo dục, H.1997) của Nguyễn Hữu Sơn, Trần Đình Sử, Huyền
Giang, Trần Ngọc Vương, Trần Nho Thìn, Đoàn Thị Thu Vân; Con người cá
nhân – nhân tố nội tại chi phối sự ra đời của tiểu thuyết tâm lý Việt Nam đầu
thế kỷ XX (Tạp chí Khoa học trường ĐHSP Hà Nội, số 2 năm 2006) của Đào
Đức Doãn; Nhân vật tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng (NXB KHXH, H.2005) của
Đinh Trí Dũng…
Nhìn chung, không thể kể hết các công trình, bài viết về văn học Việt
Nam trong cả một giai đoạn dài từ 1945 đến nay. Điều chúng tôi muốn nói ở
đây là: từ nguồn tài liệu đồ sộ, phong phú đó, bên cạnh những đóng góp trong
nghiên cứu về lịch sử và thể loại văn học, những khám phá về giá trị nội dung
- Đề tài Tư tưởng triết học về con người trong văn học Việt Nam giai
đoạn 1900- 1945 chí giới hạn trong phạm vi là: chỉ nghiên cứu tư tưởng triết
học về con người trong văn học Việt Nam giai đoạn từ 1900 – 1945. Tư tưởng
triết học về con người trong các lĩnh vực khoa học và nghệ thuật khác (đạo
đức học, xã hội học, tôn giáo học, âm nhạc, mỹ thuật...) và tư tưởng triết học
về con người trong văn học Việt Nam ở các giai đoạn lịch sử khác (trước
1900 hoặc sau 1945) đều không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài này. Các
lĩnh vực khoa học và nghệ thuật khác, các tác phẩm văn học thuộc các giai
đoạn lịch sử khác, nếu có được nói đến trong luận văn thì chỉ là để so sánh.
- Đề tài Tư tưởng triết học về con người trong văn học Việt Nam giai
đoạn 1900 - 1945 cũng chỉ tập trung nghiên cứu tư tưởng triết học về con
người trong văn học viết Việt Nam với hai thể loại là văn xuôi nghệ thuật và
8
thơ. Các sáng tác văn học thuộc các thể loại văn học khác, nếu có được nói
đến thì chỉ là để đối chiếu.
4. Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của đề tài
- Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu tập trung và có hệ thống tư
tưởng triết học về con người trong văn học Việt Nam giai đoạn từ 1900
-1945, chỉ ra những nội dung chủ yếu của những tư tưởng đó và sự phát triển
của nó qua hai thời kỳ phát triển của văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX:
thời kỳ từ 1900 đến 1930 và từ 1930 đến 1945.
- Để giải thích, cắt nghĩa cho tư tưởng triết học về con người trong văn
học, luận văn nghiên cứu và làm sáng tỏ những tiền đề kinh tế, xã hội và văn
hóa của sự xuất hiện những tư tưởng đó, đồng thời bước đầu nhận diện sự thể
hiện và ảnh hưởng của tư tưởng triết học về con người trong văn học Việt
Nam giai đoạn từ 1900 - 1945.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
Kể từ sau cái chết của Phan Ðình Phùng (1896), phong trào chống Pháp
theo ngọn cờ Cần Vương xem như đã thất bại hoàn toàn. Thôn xóm, làng mạc
Việt Nam tiêu điều xơ xác do kẻ thù tàn phá, nhân dân lưu lạc khắp nơi.
Rường cột của chế độ phong kiến bị sụp đổ. Hàng ngũ giai cấp thống trị
phong kiến tan rã. Cả bộ máy thống trị của nhà nước phong kiến từ triều đình
đến tỉnh, huyện, làng, xã đều trở thành tay sai cho bọn xâm lược. Mọi quyền
hành đều nằm trong tay thực dân Pháp. Tầng lớp trí thức thời phong kiến lâm
vào tình trạng sống dở, chết dở. Những người đã từng tham gia vào phong
trào chống Pháp kẻ thì bị giết chết, người bị tù đày hoặc trốn tránh, có khi
phải chạy ra nước ngoài. Có người không chịu được thử thách cuối cùng phải
ra đầu thú, sống nơm nớp trong cảnh tù treo của thực dân. Có người không
tham gia chống Pháp nhưng còn chút liêm sĩ thì lui về sống ẩn dật, bất đắc
chí. Họ thường phải cam chịu, bất lực và đành phải an phận. Cá biệt có một số
người ham cuộc sống giàu sang phú quý nên đã cởi bỏ lớp nho phong, sĩ khí
để ra phục vụ cho ông chủ mới... Bộ máy cai trị của Pháp được tổ chức lại
theo lối hiện đại hơn, chặt chẽ hơn, có quyền lực hơn. Ðể che giấu bộ mặt thật
cướp nước, để tuyên truyền văn minh nước Pháp, bọn thực dân đã đưa ra Hội
10
đồng tư vấn, bày trò dân chủ giả hiệu. Chúng còn lập Viện Hàn lâm Bắc Kì để
dựng lên cái gọi là “bảo vệ và phát triển văn hoá”
Trong bối cảnh chính trị phức tạp và đen tối như thế, thanh niên Việt
Nam cảm thấy bi quan tuyệt vọng vô cùng. Họ hết sức chán nản lối học cũ,
bởi vì ai cũng nhận ra một điều rất rõ ràng :
Ông nghè ông cống cũng nằm co
Sao bằng đi học làm ông phán
Sáng rượu sâm banh, tối sữa bò
(Chữ Nho - Trần Tế Xương)
Họ quyết định bỏ lối học từ chương, đi tìm đến những tri thức hiện đại
đã đến lúc phải bước vào phạm trù cách mạng dân chủ mới. Ngày 03- 021930, Ðảng Cộng sản Ðông Dương chính thức được thành lập, mở ra một kỉ
nguyên mới, kỉ nguyên cách mạng vô sản do giai cấp công nhân lãnh đạo.
Về kinh tế
Ðầu thế kỉ XX, kinh tế nước ta vẫn là kinh tế nông nghiệp lạc hậu.
Thực dân Pháp thực hiện chính sách kinh tế thực dân: bán hàng hoá, khai thác
nguyên liệu, cho vay nặng lãi, công nghiệp chỉ phát triển trong giới hạn không
hại đến công nghiệp chính quốc, đóng khung trong phạm vi cung cấp cho chính
quốc những nguyên liệu hay những sản vật mà chúng thiếu, tăng cường bóc lột ,
sưu thuế,.v.v.. từ đó làm phá sản nông dân và thợ thủ công, tạo ra nguồn nhân
công rẻ mạt , phục vụ cho các công trình khai thác của chúng. Kết quả của chính
sách nói trên đã kéo nước ta vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản nhưng không
được công nghiệp hoá mà lại biến thành thị trường tiêu thụ cho Pháp.
Giao thông buôn bán mở mang, kinh tế hàng hoá phát triển đã tạo ra
một thị trường thống nhất từ Nam đến Bắc. Khách quan đã tạo cơ sở để củng
cố sự thống nhất của dân tộc đã hình thành từ lâu nhưng chưa thật vững. Sự
phát triển của giao thông và buôn bán làm mọc lên nhiều thành thị, các hải
cảng được xây dựng, nhiều người từ nông thôn kéo ra thành thị. Nhưng thành
thị chủ yếu là trung tâm thương nghiệp và tiêu thụ, không có tác dụng tích cực
đẩy mạnh kinh tế nước ta theo hướng tư sản hoá.
Về xã hội
Xã hội nước ta trước khi Pháp xâm lược là một xã hội phong kiến.
Nông dân giữ vai trò quan trọng về kinh tế nhưng bị khinh rẻ, bị áp bức bóc
12
lột. Kẻ sĩ được xem như một đẳng cấp đặc biệt, tự nhận và được xã hội thừa
nhận như người cầm chính đạo truyền bá giáo hoá triều đình cho nông dân
nhất là giai đoạn đầu thế kỉ XX .
Khi có mặt thực dân Pháp trên đất nước ta thì mọi cái đã thay đổi. Kinh
tế hàng hoá kích thích sự phát triển của công thương nghiệp làm cho thành thị
dân ta. Tuy nhiên, trong số họ cũng còn có những người yêu nước, tự tách
mình ra khỏi hàng ngũ đó để đi làm cách mạng theo xu hướng dân chủ tư sản.
Nhìn chung, xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX có nhiều biến động. Cơ
cấu xã hội thay đổi hoàn toàn.
1.1.2. Tiền đề văn hóa
Nhà Nguyễn khi lên ngôi đã duy trì Nho giáo, xem Nho giáo như là
quốc giáo, dùng tư tưởng Nho giáo để thống trị xã hội. Nho giáo đã ràng buộc
con người vào tư tưởng mệnh trời. Nho giáo dùng luân thường đạo lí để giáo
dục xã hội, lấy bổn phận tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ làm kim chỉ
nam cho mọi hành động của người quân tử. Mục đích của Nho giáo muốn
biến con người trở thành những phần tử đắc lực phụng sự cho nhà nước
phong kiến. Ðến khi có sự hiện diện của thực dân Pháp, tình hình chính trị xã
hội đã có nhiều biến đổi nhưng mọi vấn đề nêu trên vẫn được tồn tại. Kẻ thù
muốn duy trì tư tưởng phong kiến lạc hậu để kìm hãm sự phát triển của ta,
nhằm tạo thuận lợi cho việc cai trị của chúng.
Ðến đầu thế kỉ XX, giai cấp phong kiến đã tỏ ra bạc nhược, ươn hèn,
cúi đầu làm tay sai cho giặc. Hàng ngũ giai cấp thống trị tan rã hoàn toàn. Ý
thức phong kiến cũng ngày càng thể hiện tính chất lạc hậu, cổ hủ. Với cách
nhìn của các nhà nho tiến bộ thời này, nó là sức mạnh cản trở sự phát triển
của xã hội. Cho nên, các nhà chí sĩ Ðông Kinh Nghia Thục đã chủ trương
chống lại tư tưởng phục cổ, sùng bái cổ nhân, giáo điều, có tác hại kìm hãm
sự phát triển của trí tuệ. Họ chủ trương làm cho con người phải từ bỏ tư tưởng
sống định mệnh, trở nên can đảm, làm chủ cuộc đời mình, có khả năng hiểu
biết vũ trụ, phất cao ngọn cờ khoa học .
Mặc dù ý thức phong kiến đã tỏ ra thoái hoá, nhưng trong thực tế, ở
giai đoạn 1900 - 1930, nó vẫn còn cơ sở tồn tại. Ở nông thôn, gốc rễ của nó
vẫn còn rất sâu. Ở thành thị thì nó bắt đầu va chạm với ý thức tư sản vừa mới
14
tố thúc đẩy cho sự đổi mới hoàn toàn ở giai đoạn sau, giai đoạn 1930 - 1945.
15
Vào những thập niên 20, 30 của thế kỷ XX, ý thức vô sản đã bắt đầu
xuất hiện do hai điều kiện: ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga và
cách mạng Trung Quốc thông qua sách báo, đặc biệt là vai trò của Nguyễn Ái
Quốc và một số trí thức tiến bộ đương thời; và sự ra đời của giai cấp vô sản
Việt Nam. Nhưng ảnh hưởng của ý thức hệ vô sản chủ yếu mới chỉ là trên đời
sống tư tưởng chính trị. Ðối với văn học, nhất là văn học giai đoạn này, dĩ
nhiên nó có ảnh hưởng, hơn nữa còn tạo ra những thành tựu đáng kể nhưng
chưa có điều kiện để phát triển.
Trước thế kỉ XX, nền văn hoá nước ta là nền văn hoá phong kiến mang
đậm bản sắc Ðông Nam Á. Về đời sống vật chất, Việt Nam có nghề trồng lúa
nước cho nên thức ăn là cơm, thức uống thì có rượu cũng được chế tạo từ gạo.
Khí hậu ở Việt Nam nóng cho nên cách ăn mặc của người Việt thường giản
dị, thoáng mát, làm từ chất liệu thực vật (tơ tằm, bông vải, đay gai). Việc ở
cũng rất cẩn thận, người Việt có thói quen chọn hướng làm nhà, chú ý vai trò
phong thủy. Ðất Việt là vùng sông nước, cho nên phương tiện đi lại cần phải
dùng thuyền. Trồng lúa nước thì có tính thời vụ cao, vì thế người Việt cần
phải sống có sự liên kết chặt chẽ với nhau, hình thành tính cộng đồng và tính
tự trị trong tổ chức xã hội. Lối tổ chức này tạo nên tính dân chủ và tính tôn ti,
tinh thần đoàn kết và tính tập thể. Khi tiếp thu những luồng tư tưởng nước
ngoài, người Việt Nam đã có sự tiếp biến chứ không có tình trạng xung đột
hoặc độc tôn .
Nhìn chung, nền văn hoá Việt Nam được thai nghén và trưởng thành
trong cái nôi văn hoá Ðông Nam Á. Tư tưởng phương Ðông đã ăn sâu vào
phong tục, tập quán và tâm khảm của con người. Lối sống theo làng xã, họ tộc
đã tạo nên thế tự trị lâu đời cho người Việt Nam. Con người Việt Nam có nếp
sống chuẩn mực từ trong cách ăn mặc cho đến việc ứng xử. Thế mà đến đầu
nhà trường ngày càng phổ biến rộng hơn. Từ năm thứ hai, thứ ba học sinh
phải học tiếng Pháp.
Mục đích của Pháp là hướng tới việc đào tạo lớp người làm tay sai cho
chúng. Pháp không hề đặt ra nhiệm vụ phát triển trình độ dân trí. Và, những
đổi thay về giáo dục ấy đã dẫn đến kết quả là tỉ lệ người đi học so với dân số
còn rất ít. Hầu hết học sinh là con em của tầng lớp giàu có hoặc con em của
người dân thành thị có điều kiện thuận lợi trong việc học tập.
17
Chữ quốc ngữ ra đời từ thế kỉ XVII, là thành quả tập thể của nhiều giáo
sĩ Bồ Ðào Nha, Ý, Pháp ... trong đó công lao lớn nhất thuộc về linh mục
Alexandre de Rhodes. Cuối thế kỉ XIX, chữ quốc ngữ đã được người Pháp
mang ra phổ biến nhưng bị sự phản ứng quyết liệt của các nhà nho, cũng như
những người yêu nước Việt Nam. Nó bị xem là thứ chữ của quân xâm lược.
Sang đầu thế kỉ XX, những sĩ phu yêu nước trong phong trào Duy Tân nhận thấy
những ưu điểm của chữ quốc ngữ đã cổ động sử dụng chữ quốc ngữ. Tác giả
Văn minh tân đọc sách viết: Phàm người trong nước đi học nên lấy chữ quốc
ngữ làm phương tiện đầu tiên, để cho trong thời gian vài ba tháng đàn bà, trẻ
con đều biết chữ... Ðó thực là là bước đầu tiên trong việc mở mang trí khôn vậy.
Nhưng đến sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, khi Hán học mất địa vị
chính thống và trong xã hội đã hình thành những yêu cầu mới, những thành
phần công chúng mới thì chữ quốc ngữ mới được xem là thứ chữ của dân tộc.
Việc đổi mới chữ viết đã mang nhiều ý nghĩa lớn, nó không chỉ tạo điều
kiện dễ dàng trong việc học, viết, đọc mà còn cung cấp phương tiện hiện đại
cho nền văn học mới.
Việc phổ biến sử dụng chữ quốc ngữ cũng góp phần thúc đẩy việc xây
dựng và phát triển nền văn xuôi Việt Nam. Nền văn học trung đại Việt Nam
chưa chú ý phát triển văn xuôi. Ở giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX đã có xuất
hiện những sáng tác văn xuôi bằng chữ quốc ngữ của Trương Vĩnh Kí và
số tác phẩm của Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, Hồ Biểu Chánh, Vũ Ðình
Long,... Các tác giả đã phanh phui những xấu xa của xã hội thực dân nửa
phong kiến, phơi bày cảnh khổ của nhân dân.
Xu hướng lãng mạn được khơi nguồn từ các tác phẩm của Ðông Hồ,
Tương Phố, Tản Ðà, Hoàng Ngọc Phách. Ðấy là những sáng tác đã gợi lên
tiếng lòng sâu kín, những nỗi buồn đau và những mơ ước của lớp người đang
bi quan, chán nản trước cuộc sống. Sự xung đột giữa lễ giáo phong kiến cũ và
chủ nghĩa cá nhân bắt đầu xuất hiện.
Văn chương hiện thực và lãng mạn giai đoạn này như khúc nhạc dạo
đầu chuẩn bị cho buổi hoà tấu sẽ được diễn ra vào giai đoạn 1930 - 1945. Vào
thập niên thứ ba của thế kỉ đã xuất hiện các sáng tác của Nguyễn Ái Quốc
được gửi từ nước ngoài về như: Con rồng tre, Nhật kí chìm tàu, Bản án chế
19
độ thực dân Pháp, Ðường Cách mạng ... Nguyễn Ái Quốc đã khai sinh
cho dòng văn học của giai cấp vô sản của nước ta.
Ý thức thẩm mỹ cũng có nhiều thay đổi. Cũng như mọi dân tộc khác,
người Việt Nam ta có ý thức thẩm mĩ riêng của mình. Ý thức thẩm mĩ của
người Việt Nam cũng vận động và phát triển qua các chặng đường lịch sử từ
thời dựng nước đến nay. Ý thức ấy nói chung là phát sinh từ cuộc sống. Nó
luôn luôn nằm trong sự biến đổi, gạn lọc để đi lên nhưng nó lại có chất bền
vững để chịu đựng với thử thách của thời gian và không gian. Những nhân tố
nào đã tạo nên môi trường thẩm mĩ để cho con người nảy sinh ý thức thẩm
mĩ? Ðó chính là thiên nhiên là vị trí địa lí, vị trí văn hoá, là cộng đồng làng
xã, là vận mệnh đất nước, vận mệnh nhân dân.
Ở giai đoạn 1900 - 1930, tình hình chính trị xã hội có nhiều biến động
lớn lao như đã trình bày, cho nên môi trường thẩm mĩ không còn như trước
nữa. Lối sống tư sản đã tấn công quyết liệt vào xã hội phong kiến Việt Nam,
sự mềm mại, uyển chuyển, thướt tha, êm dịu, không khoe khoang mà lộng lẫy
nay phải ở vào thế bị cạnh tranh với chiếc váy đầm, với quần Âu. Lẽ dĩ nhiên,
cái mới vẫn còn ở trong thế bị xem là hợm hĩnh nên không ít người lúc bấy
giờ đã mỉa mai:
Váy lĩnh cô kia quét sạch hè
(Năm mới - Trần Tế Xương )
Bộ đồ Âu phục, đôi giày Tây cũng làm cho người đàn ông phải đắn đo
cân nhắc với Áo hàng Tàu, khăn nhiễu tím, ô lục soạn xanh .
Trong cách ở của người Việt Nam thời này cũng có những thay đổi.
Chen lẫn với kết cấu nhà theo kiểu truyền thống là những hình thức trang trí
mới được học tập từ phương Tây. Cạnh những câu đối, hoành phi, những
hương án bàn thờ, trong gian nhà khách lại xuất hiện thêm những bộ xa lông,
những tủ chè không chạm tùng, hạc, mai, lộc, bát tiên, tứ quý nữa mà chạm
cành nho, con sóc. Cái đồng hồ quả lắc được chiếm một phần ở vách nhà
trên... Cái đẹp lúc bấy giờ không chỉ là sự trang nghiêm cổ kính mà phải có
phần lộng lẫy, mới lạ và có chút gì đó xa hoa. Cuộc sống sôi động, chen
chúc phức tạp đòi hỏi người ta phải nhanh chóng, gọn ghẽ, luôn luôn động.
Cái đẹp cũng phải thích ứng với cuộc sống như thế. Cuộc sống trong xã hội
phong kiến vốn mang tính ổn định, trầm lặng. Con người trong xã hội thời đó
21
thường hướng nội. Cái đẹp cũng được hình thành từ tính cách và đặc điểm đó
của con người và xã hội. Trước kia, người ta chuộng hàm răng đen rưng rức,
người ta quý cái môi trầu cắn chỉ và thấy tất cả sự duyên dáng ở chiếc nón
quai thao. Nhưng bây giờ, để thích nghi với cuộc sống mới, cái đẹp lại được
thể hiện với hàm răng trắng như ngà. Người ta không còn ca ngợi mái tóc dài
mà lại thích rẽ tóc lệch... Nói chung, quan niệm cái đẹp được quy định lại
theo những đổi thay của cuộc sống và trạng thái tâm lí con người.
Ðối với sáng tác văn chương, ngày trước người ta quan niệm cái đẹp toát
tưởng triết học về con người trong các tác phẩm văn học.
Trong các sáng tác văn học, tư tưởng triết học về con người được bộc
lộ thông qua quan niệm nghệ thuật về con người. Và ngược lại, quan niệm
nghệ thuật về con người là sự thể hiện phong phú của tư tưởng triết học về
con người. Vì vậy, nghiên cứu tư tưởng triết học về con người không thể
không dựa trên quan niệm nghệ thuật về con người.
Quan niệm nghệ thuật về con người đóng vai trò quan trọng trong
nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng. Quan niệm nghệ thuật về con
người, chính là thước đo chuẩn mực thành công và đóng góp của văn
học trong việc khám phá thế giới. Khi đánh giá thành tựu của một nền
văn học, một xu hướng, một tác giả hay một giai đoạn… không thể không
đánh giá quan niệm nghệ thuật về con người. Quan niệm con người cũng
là một sản phẩm của lịch sử. Nó chịu sự chi phối của cá tính sáng tạo của
nhà văn, truyền thống văn hoá dân tộc và ảnh hưởng của mối quan hệ giao
lưu văn hoá quốc tế. Ở mỗi thời kỳ, mỗi nơi, mỗi con người khi đưa ra quan
niệm nghệ thuật về con người đều có sự khác nhau. Chính sự khác nhau đó
tạo nên bản sắc nghệ thuật phong phú, đa dạng cho văn học và nghệ thuật.
Nhưng dù có khác nhau thế nào thì đến cái đích cuối cùng vẫn là “khám phá
ngày càng sâu sắc con người như nó tự cảm thấy trong tự nhiên, xã hội và
lịch sử với tất cả sự phong phú và tinh tế” [70, 101].
Quan niệm con người là cách hiểu, cách c ắt nghĩa về con người.
Quan niệm đó quyết định chiều sâu của việc miêu tả cũng như việc giải
quyết chủ đề, đề tài trong sáng tác… Với tầm quan trọng đó , vấn đề
quan n iệm nghệ thuậ t về con người đã trở thành một trong những
trung tâm chú ý của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học.
23
Đối với các nhà nghiên cứu phương Tây thì cho rằng con người
chính là phương tiện tất yếu và quan trọng nhất để thể hiện tư tưởng của
sống của các nhà văn.Theo giáo sư Trần Đình Sử thì vấn đề quan niệm
nghệ thuật về con người thực chất là vấn đề “tính năng động của nghệ
thuật, là gi ới hạn , phạm vi chiếm lĩnh đời sống của một hệ thống nghệ
thuật, là kh ả năng thâm nhập của nó vào các miền khác nhau của cuộc
đời” [72, 90]. Khi nói đến quan niệm nghệ thuật là nói đến tính sáng tạo
về chất tr ong cảm thụ và miêu tả đời sống : “Chừng nào chưa có đ ổi
mới trong quan niệm nghệ thuật về con người thì sự tái hiện các hiện
tượng đời sống khác nhau chỉ có ý nghĩa mở rộng lượng trên cùng m ột
chiều sâu ” [71, 91]. Trong tá c phẩ m M ột số vấn đề về thi pháp văn học
hiện đại tác giả cho biết: Từ trước tới nay, người ta hay phân tích nhân
vật văn học như là sự miêu tả một loại người nào đó trong xã hội, từ đó
người ta thường đối chiếu nhân vật với loại người mà nó miêu tả xem có
giống hay không giông để xác định mức độ chân thật . Thi pháp học có
hướng tiếp cận khác: Xem toàn bộ sự miêu tả về nhân vật như là một cái
biểu đạt, như là sự biểu hiện trình độ cảm nhận về con người, từ đó phân
tích nhân vật, để tìm hiểu quan niệm của con người trong ý thức của tác giả.
Từ quan niệm nghệ thuật về con người dưới cách nhìn của các nhà
nghiên cứu ta có thể thấy rằng con người khi được đưa vào trong tác phẩm
nó trở thành đối tượng nhận thức các vấn đề của cuộc sống. Nhân vật được
khắc hoạ qua cái nhìn của tác giả và được các nhà văn thể hiện qua các
hình thức nghệ thuật. Qua nhân vật, người đọc có thể đánh giá được sự
cảm nhận cũng như quan điểm, tư tưởng của tác giả đối với cuộc sống và
con người. Ở các nhà văn lớn, sự hình thành quan niệm nghệ thuật của họ
vừa có vai trò đặc biệt quyết định của cá tính sáng tạo của thế giới quan và
tư tưởng nghệ thuật của nhà văn. Với một nhà văn có một quá trình sáng
tác trải qua nhiều giai đoạn thì quan niệm nghệ thuật cũng có nhiều biến
đổi. Quá trình này có khi là sự nhảy vọt, nhưng cũng có khi từ từ như một
mạch nước ngầm thấm dần trong tư tưởng, suy nghĩ và được thể
nghiệm trên từng trang viết với tất cả sự tâm huyết với nghề.