một số phạm trù cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử - Pdf 34

Mục lục
mở đầu
1. Lí do chọn đề tài

1

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2

3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

2

4. Cơ sở lí luận và phơng pháp nghiên cứu

2

5. ý nghĩa lí luận và thực tiễn
6. Kết cấu của tiểu luận

3

Nội dung
Chơng 1: Sản xuất vật chất là nền tảng của đời sống xã hội và Ph-

5

1

3

3.2. Vấn đề quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ t bản chủ nghĩa

11

3.3. Đề xuất nhiệm vụ, giải pháp cho tơng lai

14

kết luận

16

Tài liệu tham khảo

17

mở đầu
1. Lí do chọn đề tài

8


2
Học thuyết hình thái xã hội của chủ nghĩa Mác Lênin vạch ra kết
cấu cơ bản, phổ biến của mọi xã hội, quy luật vận động và phát triển tất yếu
của xã hội.
Trớc khi chủ nghĩa duy vật lịch sử macxit ra đời đã có nhiều học thuyết
nghiên cứu về xã hội, tìm cách lý giải về bản chất và quy luật vận động của xã
hội loài ngời. Song, nhìn chung không có học thuyết nào giải quyết đợc một
cách đúng đắn, khoa học về đời sống xã hội. T tởng về triết học xã hội trớc

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, nâng cao nhận thức
chuyên ngành. Đồng thời làm sáng tỏ một số vấn đề của lý luận và vai trò của
lý luận trong việc vận dụng một cách chủ động, sáng tạo các kiến thức tổng
quát của nhiều môn khoa học khác vào các công việc hàng ngày của mỗi ngời,
ở mỗi địa phơng, phải nhìn nhận các vấn đề trong dòng chảy liên tục của nó.
Từ đó đóng góp cơ sở khoa học cho việc hoạch định đờng lối chính sách của
Đảng và Nhà nớc ta về vấn đề phát triển lý luận và phát triển nền kinh tế tri
thức.
3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tợng nghiên cứu
Một số phạm trù cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Tiểu luận chỉ đề cập đến Một số phạm trù cơ bản của chủ nghĩa duy vật
lịch sử ; Một số đề xuất nhiệm vụ, giải pháp cho tơng lai.
4. Cơ sở lí luận và phơng pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lí luận
V.I.Lênin viết: Chỉ có đem quy những quan hệ xã hội vào những quan
hệ sản xuất, và đem quy những quan hệ sản xuất vào trình độ của những lực lợng sản xuất thì ngời ta mới có đợc một cơ sở vững chắc để quan niệm sự phát
triển của những hình thái xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên. T tởng


4
coi sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử
tự nhiên càng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nớc hiện nay, nhất là việc chúng ta phải đẩy nhanh tiến
trình hội nhập vào khu vực và quốc tế, thì việc tham khảo, học hỏi, kế thừa
những thành tựu nào có ích về khoa học, công nghệ, quản lý của bạn bè là hết
sức cần thiết đối với sự phát triển đất nớc.
Theo C.Mác, chủ nghĩa xã hội với t cách là một xã hội ở giai đoạn thấp

6

1.1. Sản xuất vật chất là nền tảng của đời sống xã hội
Sản xuất vật chất là nhu cầu khách quan của lịch sử, bởi vì bất cứ chế
độ xã hội nào cũng không thể tồn tại và phát triển nếu không có quá trình thờng xuyên sản xuất và tái sản xuất xã hội. Sản xuất xã hội bao gồm sản xuất
vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất ra chính bản thân con ngời. Trong sự
sản xuất toàn bộ đời sống xã hội, sản xuất vật chất giữ vai trò nền tảng. Để
tiến hành sản xuất vật chất, con ngời vừa phải quan hệ với giới tự nhiên nhằm
biến đổi giới tự nhiên (quan hệ đó đợc biểu hiện ở lực lợng sản xuất), vừa phải
quan hệ với nhau trong quá trình sản xuất (biểu hiện ở quan hệ sản xuất). Đây
là quan hệ kép khách quan, phổ biến trong lịch sử sản xuất vật chất của
nhân loại. Lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt thống nhất trong
một phơng thức sản xuất.
1.2. Phơng thức sản xuất của cải vật chất
- Phơng thức sản xuất là cách thức con ngời thực hiện quá trình sản
xuất vật chất ở một giai đoạn lịch sử nhất định. Mỗi hình thái kinh tế - xã hội
có một phơng thức sản xuất riêng. Các cuộc cách mạng xã hội đều gắn với sự
thay đổi phơng thức sản xuất này bằng phơng thức sản xuất mới, tiến bộ hơn.
Khi xuất hiện một phơng thức sản xuất mới, thì đời sống xã hội cũng thay đổi
căn bản, từ đời sống kinh tế đến chính trị, xã hội và tinh thần. Nói một cách
khác, phơng thức sản xuất là sự thống nhất biện chứng giữa lực lợng sản xuất
và quan hệ sản xuất.
- Lực lợng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con ngời với tự nhiên.
Lực lợng sản xuất là sự kết hợp giữa ngời lao động với t liệu sản xuất, trớc hết
là công cụ lao động. V.I.Lênin cho rằng, lực lợng sản xuất hàng đầu của toàn
thể nhân loại là công nhân, là ngời lao động. Tuy ngời lao động là lực lợng sản
xuất hàng đầu và đóng vai trò quyết định, nhng công cụ là yếu tố động nhất
trong lực lợng sản xuất, nó có vị trí quyết định trong t liệu sản xuất. Trình độ
phát triển của công cụ vừa là thớc đo trình độ chinh phục tự nhiên của con ngời, vừa là tiêu chuẩn phân biệt sự khác nhau giữa các thời đại kinh tế, kỹ thuật


phát triển của quan hệ lợi ích.


8
Hai là, quan hệ sản xuất tạo ra một hệ thống những yếu tố thúc đẩy
hoặc kìm hãm lực lợng sản xuất. Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối
với lực lợng sản xuất chủ yếu ở hai khuynh hớng:
+ Quan hệ sản xuất phù hợp với lực lợng sản xuất sẽ thúc đẩy lực lợng
sản xuất phát triển.
+ Quan hệ sản xuất không phù hợp với lực lợng sản xuất sẽ kìm hãm sự
phát triển của lực lợng sản xuất.
Trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội, sự tác động trở lại của quan hệ sản
xuất đối với lực lợng sản xuất bao giờ cũng thông qua các quy luật kinh tế - xã
hội khác, đặc biệt là quy luật kinh tế cơ bản. Quy luật quan hệ sản xuất phù
hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất là quy luật phổ biến tác
động trong toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại. Sự phát triển đi lên của xã hội
loài ngời qua các hình thái kinh tế - xã hội, trong đó quy luật về sự phù hợp
của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất là quy luật
cơ bản nhất. C.Mác rút ra kết luận, sản xuất xã hội có quy luật khách quan
vốn có của nó, đó là quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính
chất và trình độ của lực lợng sản xuất.
Trong chủ nghĩa xã hội, mâu thuẫn giữa lực lợng sản xuất và quan hệ
sản xuất là khách quan. Trong thời đại ngày nay lực lợng sản xuất đã mang
tính chất quốc tế hoá, đòi hỏi chúng ta phải biết vận dụng sáng tạo quy luật về
sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lợng sản
xuất, chống chủ quan duy ý chí trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh
tế.

Chơng 2
Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thợng tầng

tiễn, đa lại phơng án phát triển tối u cho kinh tế - xã hội.
Công cuộc đổi mới ngày nay ở nớc ta và các nớc xã hội chủ nghĩa khác
trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội chính trị và tinh thần nhằm tạo lập


10
dần dần từng bớc chắc chắn cơ sở hạ tầng xã hội chủ nghĩa với một kiến trúc
thợng tầng tơng ứng. Quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thợng tầng thực
chất là mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị.
Phép biện chứng giữa kinh tế và chính trị khẳng định rằng, chính trị là
sự biểu hiện tập trung của kinh tế. Vì vậy, khi nhận thức, vận dụng quan điểm
biện chứng này, phải xuất phát từ kinh tế, coi trọng yếu tố chính trị. Nếu tuyệt
đối hoá mặt kinh tế, coi nhẹ yếu tố chính trị sẽ dẫn đến sai lầm của chủ nghĩa
duy vật kinh tế. Ngợc lại, tuyệt đối hoá yếu tố chính trị, coi nhẹ mặt kinh tế sẽ
dẫn đến sai lầm của chủ nghĩa chủ quan, duy ý chí, và sẽ phải trả giá đắt.

Chơng 3
Phạm trù hình thái kinh tế xã hội
và vấn đề quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ
t bản chủ nghĩa


11

3.1. Phạm trù hình thái kinh tế - xã hội
C. Mác đã nghiên cứu những vấn đề bản chất của xã hội bằng nhãn
quan của mình, Ông đã tìm ra đằng sau những sự kiện ẩn dấu trên bề mặt của
những hiện tợng xã hội là một dòng chảy tất yếu của các quá trình và quy luật
chi phối sự phát triển của tiến bộ xã hội, mà cốt lõi là sự phát triển liên tục của
các hình thái kinh tế - xã hội. C. Mác đã đa ra hình thái kinh tế - xã hội bằng

tựu nào có ích về khoa học, công nghệ, quản lý của bạn bè là hết sức cần thiết
đối với sự phát triển đất nớc.
Trong thời đại ngày nay, lực lợng sản xuất đã quốc tế hoá kéo theo sự
quốc tế hoá quan hệ sản xuất dới nhiều hình thức (Ví dụ: Việt Nam tham gia
ASEAN, tham gia hiệp ớc AFTA, ) thì khả năng một dân tộc lạc hậu về
kinh tế, kỹ thuật có thể bỏ qua những chế độ xã hội nhất định để tiến lên một
hình thái kinh tế - xã hội cao hơn. Sự bỏ qua dới hình thức rút gọn đó vẫn là
quá trình tự nhiên của sự phát triển lịch sử.
Khi nói thời đại ngày nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa t bản lên chủ
nghĩa xã hội tức là muốn nói nội dung cơ bản của thời đại chính là sự chuyển
biến cách mạng từ chủ nghĩa t bản lên chủ nghĩa xã hội với những con đờng,
bớc đi và hình thức khác nhau đối với từng quốc gia, dân tộc trong dòng chảy
chung của sự phát triển lịch sử.
3.2. Vấn đề quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ t bản chủ nghĩa
Từ hình thái kinh tế - xã hội này chuyển sang hình thái kinh tế - xã hội
khác có một giai đoạn lịch sử đặc biệt với độ dài ngắn khác nhau, kết cấu và
hình thức biểu hiện khác nhau, đó là thời kỳ quá độ.
Nhân loại đã chứng kiến nhiều nớc, nhiều dân tộc do điều kiện lịch sử
riêng của mình đã bỏ qua một, hai chế độ nào đó tiến thẳng lên chế độ xã
hội cao hơn dới hình thức này hay hình thức khác.
Tuỳ theo điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của mình mà các nớc, các
dân tộc sẽ thực hiện sự quá độ lên chủ nghĩa xã hội dới những hình thức, bớc
đi khác nhau, do trình độ xuất phát khác nhau. Có thể khái quát thành ba loại
nớc ứng với ba kiểu quá độ:
Một là: Những nớc t bản chủ nghĩa phát triển cao.
Hai là: Những nớc đạt trình độ phát triển t bản chủ nghĩa ở mức trung
bình thấp.


13

khai thác mọi tiềm năng sản xuất, phát huy nội lực, tính chủ động sáng tạo


14
của các thành phần kinh tế trong nền kinh tế nhiều thành phần. Kinh tế quốc
doanh phải phát triển mạnh mẽ và có hiệu quả để thực sự đóng vai trò chủ đạo
trong nền kinh tế nớc ta.
Để thực hiện đợc điều đó chúng ta phải khắc phục quan niệm bỏ qua
một cách giản đơn, giáo điều, nóng vội, mà cái chính là phải mạnh dạn khai
thác, sử dụng tối đa những thành tựu về khoa học, công nghệ, quản lý đã đạt
đợc trong xã hội t bản, làm khâu trung gian để chuyển nền sản xuất nhỏ lên
chủ nghĩa xã hội. Chủ trơng phát triển cơ cấu kinh tế nhiều thành phần và việc
sử dụng những hình thức kinh tế trung gian quá độ trong thời ký quá độ lên
chủ nghĩa xã hội ở nớc ta mà Đại hội Đảng lần thứ VI đã vạch ra là đúng đắn.
Đại hội VII của Đảng ta cũng chỉ rõ: Phù hợp với sự phát triển của lực l ợng sản xuất, thiết lập từng bớc quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từ thấp đến
cao với sự đa dạng về hình thức sở hữu. Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần theo định hớng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trờng có
sự quản lý của Nhà nớc, kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể ngày càng trở
thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân. Thực hiện nhiều hình thức phân
phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệ quả kinh tế là chủ yếu. Nghị
quyết 06 NQ/TW của Bộ Chính trị năm 1998 về một số vấn đề phát triển
nông nghiệp nông thôn đã viết: Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, gắn
phát triển nông nghiệp với công nghiệp chế biến, ngành nghề, gắn sản xuất
với thị trờng để hình thành sự liên kết nông công nghiệp dịch vụ và thị
trờng ngay trên địa bàn nông thôn và trên địa bàn cả nớc; gắn phát triển nông
nghiệp với xây dựng nông thôn mới; gắn công nghiệp hoá với thực hiện dân
chủ hoá và nâng cao dân chí, đào tạo nhân lực ở nông thôn; tạo ra sự phân
công lao động mới, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống, xoá đói, giảm
nghèo, thu hẹp dần khoảng cách về mức sống giữa thành thị và nông thôn,
thực hiện có kết quả mục tiêu phát triển dân số.

3.3.3. Là cơ sở lý luận của việc hoạch định các đờng lối cách mạng của
các đảng cộng sản. Là cơ sở lý luận cho việc triển khai các đờng lối, chính
sách ở tầm quốc gia và mỗi địa phơng nhằm thực hiện thành công sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
3.3.4. Giúp chúng ta có một cái nhìn biện chứng về sự phát triển liên
tục của các hình thái kinh tế - xã hội, của các giá trị văn hoá, khoa học, kỹ
thuật và của chính bản thân các thế hệ con ngời. Từ đó sẽ giúp chúng ta


16
không nóng vội, chủ quan, không đốt cháy giai đoạn, biết kế thừa những
thành tựu chung của nền văn minh nhân loại.
3.3.5. Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội đòi hỏi chúng ta phải thấu
triệt nguyên lý đó và vận dụng một cách chủ động, sáng tạo các kiến thức
tổng quát của nhiều môn khoa học khác vào các công việc hàng ngày của mỗi
ngời, ở mỗi địa phơng, phải nhìn nhận các vấn đề trong dòng chảy liên tục
của nó.

kết luận
Dựa trên các phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử chúng ta đã có một
cái nhìn rõ hơn, sâu hơn, xa hơn, rộng hơn về mối liên hệ giữa xây dựng nền
kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế từ đó rút ra đợc tầm quan
trọng của xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế.
Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trên cơ sở phát huy cao độ các
nguồn nội lực là quyết định, đồng thời thu hút và sử dụng có hiệu quả các


17
nguồn lực bên ngoài, kết hợp nội lực với ngoại lực thành sức mạnh tổng hợp là
một nội dung quan trọng của đờng lối kinh tế do Đại hội IX của Đảng đề ra.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status