Ngoại khoa, ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI - Pdf 34


Ngoại khoa
Phương

pháp chữa bệnh: dùng phẫu thuật để sửa chữa các

thương tổn, các khuyết tật của các bộ phận, các tạng trong cơ
thể.
Phẫu

thuật: người thầy thuốc phải bộc lộ và phơi bày các

tạng ra ngoài để mắt nhìn thấy. Vì phải để lộ các tạng ra
ngoài nên được gọi là Ngoại khoa.
Để

xử lý các thương tổn người ta thường dùng các dụng cụ

như dao, kéo, kềm, cặp, cưa, búa, đục, kim chỉ … để xử lý
thương tổn.


Phẫu thuật viên


Người thầy thuốc ngoại khoa
hiểu biết toàn diện về bệnh tật: cơ bản của bệnh, tiền sử, bệnh sử,

cách thăm khám lâm sàng, nhận đònh các triệu chứng cận lâm sàng,
cách chẩn đoán bệnh, cách tìm nguyên nhân sinh bệnh, phương hướng
xử trí, nguyên tắc điều trò cũng như tiên lượng bệnh...


bướu cổ, sỏi thận, sỏi niệu quản…


Phải có thời gian chuẩn bò vài ngày để nâng cao thể trạng bệnh

nhân, để làm dòu bớt tình trạng nhiễm trùng tại chỗ, để bệnh nhân
được mổ trong những hoàn cảnh thuận lợi hơn như hẹp môn vò… cấp
cứu trì hoãn.


Phải mổ khẩn cấp sau khi nhận bệnh nhân 1-2 giờ như viêm phúc

mạc, tắc ruột, thoát vò bẹn nghẹt,


Có khi phải mổ tối khẩn ngay sau khi tiếp nhận bệnh nhân do mất

máu nhiều và cấp tính vì vết thương tim, vết thương mạch máu lớn …


NK thời bình & NK thời chiến


Ngoại khoa thời bình là công tác ngoại khoa chữa trò các bệnh tật

xảy ra trong đời sống thường ngày như các bệnh sỏi mật, sỏi niệu,
ung thư đường tiêu hóa, viêm ruột thừa…





Ngoại khoa & Nội khoa


Có những bệnh hoàn toàn chữa bằng nội khoa



Có những bệnh chữa hoàn toàn bằng ngoại khoa



Có những bệnh chữa bằng nội khoa nhưng khi có biến chứng thì phải

chữa bằng ngoại khoa


Có những bệnh chủ yếu điều trò bằng nội khoa nhưng khi nội khoa thất

bại thì phải dùng phẫu thuật


Ngoài ra cùng một bệnh, cùng một tình huống nhưng theo thời gian

phương pháp điều trò thay đổi do có những hiểu biết mới, những phương
tiện mới, như bệnh hẹp động mạch vành tim trùc kia là mổ bắc cầu qua
chỗ hẹp hiện nay chuyển dần sang nong động mạch hẹp ...




đẻ của nền Y học phương tây. Ông được sinh ra, lớn lên,

giáo dục ở trong nhà thờ của Hy Lạp. Ông cho rằng bệnh tật là
do những thay đổi vật chất trong cơ thể chứ không phải là ý
muốn của Thượng đế, thần linh ma quái. Quan điểm trên đây
khác với luận thuyết duy tâm thời đó. Ông đã mô tả nhiều bệnh
sản khoa, ngoại khoa, nhi khoa. Những quan điểm về bệnh tật
duy vật của ông đã giải phóng người thầy thuốc ra khỏi cách suy
nghó mang tính chất tôn giáo thần bí của nhiều thế kỷ trước.
Lời

thề của Hippocrate.


Galen

(129-199 sau công nguyên, Hy Lạp)


Ông nghiên cứu nhiều về cơ thể học súc vật. Ông viết khá

nhiều sách về Y học. Ông là tác giả của trên 300 công trình
nghiên cứu Y học về giải phẫu học, sinh lý học, bệnh học, dược
học … Các công trình của ông xuất phát từ những nghiên cứu
mang tính duy vật, xác đònh mối liên quan giữa cấu trúc giải
phẫu và hoạt động chức năng. Nhưng ông chòu nhiều ảnh hưởng
của triết học duy tâm nên có nhiều cách giải thích sai lệch.
Chính vì vậy Y học thời cổ đại đã bò kìm hãm hàng chục thế kỷ.




Ở Anh, những người làm công việc mổ xẻ bò các thầy thuốc

nội khoa coi thường. Họ không được coi là Bác só.


Y học thời phục hưng


Cùng với những thay đổi trong xã hội, ngành ngoại khoa có những thay đổi

theo chiều hướng tiến bộ. Y học được phép mổ xác. Nhiều họa só chuyển vẽ
gôtic sang vẽ giải phẫu học như nhà danh họa hàng đầu người Italia là
Leonard de Vinci (1452-1519).


Giải phẫu học



Andreas Vesalius (1514-1564, Pháp) nhận học vò Tiến só Y khoa, trở thành

giáo sư ngoại khoa năm 23 tuổi. 5 năm liền sau đó ông mổ xác để nghiên
cứu. Năm 1543, lúc 29 tuổi ông viết quyển giải phẫu học De humani corporis
fabrica, gồm 7 tập, được coi là có giá trò nhất trong các sách Y học.


Velasius được coi là cha đẻ của ngành giải phẫu học.


quan trực tiếp hay gián tiếp đến ngành ngoại khoa.


NHỮNG PHÁT MINH Y HỌC
LIÊN QUAN ĐẾN
NGOẠI KHOA


Gây mê – Hồi sức


Vô cảm tốt để bệnh nhân không lo lắng, không sợ hãi, mất cảm

giác đau đớn và nằm im. Nằm im không cử động rất cần thiết để
thực hiện các động tác kỹ thuật chính xác.


Trong thời kỳ khởi đầu của phẫu thuật, vô cảm bằng cách đánh

mạnh vào cơ thể người bệnh gây choáng váng, bằng bóp cổ, bằng
uống nhiều rượu cho say … Với phương pháp vô cảm này, chỉ dám
làm các phẫu thuật nhỏ và phải làm thật nhanh.


Gây mê – Hồi sức


Ete đã được biết từ thế kỷ16, 1842 mới được Grawford

Long nghiên cứu về tính chất. Ngày16 tháng 10 năm

○ Trong phẫu thuật công tác hồi sức và nuôi dưỡng người bệnh rất quan

trọng. Alfred Blalock (1889-1964) một phẫu thuật viên có nhiều đóng
góp cho những hiểu biết về bệnh sinh của sốc. Francis D. More là một
phẫu thuật viên có nhiều khảo cứu về chuyển hóa ở bệnh nhân mổ.
Jonathan Rhoads một giáo sư ngoại khoa có nhiều đóng góp cho ngoại
khoa, có công trình nổi tiếng về nuôi dưỡng đặc biệt là nuôi dưỡng bằng
đường tónh mạch.


Truyền máu


James Blundell, một bác só sản khoa người Anh, 1818 lần đầu tiên

truyền máu cho một sản phụ bò băng huyết.


1900 Karl Landsteiner (1868-1943) nhà bệnh học và miễn dòch học

người o phát hiện các nhóm máu người, được giải thưởng Nobel năm
1930. Từ lúc ấy truyền máu mới thực sự bắt đầu.


Nhiều bệnh nhân đến bệnh viện trong tình trạng mất máu trầm trọng vì

nôn máu dữ dội như do bệnh lý vỡ tónh mạch thực quản dãn,vỡ gan …


Mất máu nhiều làm tụt huyết áp. Nếu bệnh nhân không được truyền


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status