Lợi nhuận và các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao lợi nhuận tại công ty cổ phần hải sản thái bình - Pdf 34

Chuyên đề cuối khóa

LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng cá
nhân em dưới sự hướng dẫn của Thạc sĩ :Nguyễn Tuấn Dương. Các số liệu,
kết quả trong chuyên đề là trung thực xuất phát từ tình hình thực tế của Công
ty cổ phần hải sản Thái Bình
Tác giả luận văn
Nguyễn Duy Tiến

SV: Nguyễn Duy Tiến

1

Lớp CQ45/11.04


Chuyên đề cuối khóa

LỜI MỞ ĐẦU
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế hoạt động sống động nhất trong xã hội.
Hoạt động của doanh nghiệp tạo ra của cải vật chất nuôi sống, tạo tích lũy làm
giàu cho xã hội, nó đóng góp vai trò quan trọng trong việc ổn định và phát
triển của nền kinh tế mỗi quốc gia.
Lợi nhuận là một chỉ tiêu chất lượng tổng quát có ý nghĩa vô cùng quan
trọng trong việc đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của một
doanh nghiệp. Nâng cao lợi nhuận là mục tiêu kinh tế hàng đầu của các doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Bởi trong điều kiện hạch toán kinh doanh
theo cơ chế thị trường, lợi nhuận là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển
của một doanh nghiệp. Lợi nhuận tác động đến tất cả mọi mặt của doanh
nghiệp như đảm bảo tình hình tài chính vững chắc, tạo điều kiện nâng cao đời

Chương III: Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao lợi nhuận tại công
ty cổ phần hải sản Thái Bình
Do thời gian thực tập có hạn và kiến thức còn nhiều hạn chế nên những
vấn đề trình bày trong bài chuyên đề này không thể tránh khỏi những sai sót.
Em rất mong nhận được sự quan tâm, góp ý của các thầy cô giáo trong trường
và các cô chú phòng tài chính kế toán của Công ty cổ phần hải sản Thái bình
để bài viết của em hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, các cô chú phòng tài chính
kế toán, đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến ThS Nguyễn Tuấn Dương
đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tạo điều kiện cho em hoàn thành bài chuyên
đề tốt nghiệp của mình.
Hà nội, ngày 26 tháng 4 năm 2010
Sinh viên:
Nguyễn Duy Tiến

SV: Nguyễn Duy Tiến

3

Lớp CQ45/11.04


Chuyên đề cuối khóa

CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1 Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận.
1.1.1 Lợi nhuận của doanh nghiệp.
1.1.1.1 Khái niệm và phương pháp xác định



Chuyên đề cuối khóa

của doanh nghiệp đưa lại. Từ khái niệm trên, xác định lợi nhuận cho một thời
kỳ nhất định, người ta căn cứ vào hai yếu tố:
Thứ nhất: Thu nhập phát sinh trong một thời kỳ nhất định.
Thứ hai : Chi phí phát sinh nhằm đem lại thu nhập trong thời kỳ đó
hay nói cách khác chỉ những chi phí phân bổ cho các hoạt động, các nghiệp
vụ kinh doanh đã thực hiện được trong kỳ.
Công thức chung để xác định lợi nhuận như sau:
Lợi nhuận = Doanh thu - Chi phí
Doanh thu là toàn bộ giá trị toàn bộ hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp
bán ra trong thời kỳ nhất định. Doanh thu của doanh nghiệp bao gồm: doanh
thu tiêu thụ sản phẩm và doanh thu hoạt động tài chính.
Chi phí là những khoản chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có được
doanh thu đó. Những khoản chi phí đó bao gồm:
• Chi phí vật liệu đã tiêu hao trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm như chi phí nguyên vật liệu, khấu hao máy móc thiết bị.
• Chi phí để trả lương cho người lao động nhằm bù đắp chi phí lao
động sống cần thiết mà họ bỏ ra trong quá trình sản xuất.
• Các khoản để làm nghĩa vụ với Nhà nước, đó là thuế và các khoản
phải nộp khác cho nhà nước như thuế tài nguyên, thuế tiêu thu đặc biệt…các
khoản này Nhà nước sẽ sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế xã hội như
xây dựng cơ sở hạ tầng, bệnh viện, trường học…
Lợi nhuận của doanh nghiệp là phần doanh thu còn lại sau khi bù đắp
các chi phí nói trên.
1.1.1.2. Kết cấu lợi nhuận của doanh nghiệp
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị
trường rất đa dạng và phong phú nhưng bao gồm ba hoạt động chính như sau:

sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ như chi phí tiền lương, các khoản phụ cấp trả
cho nhân viên bán hàng, chi phí hoa hồng đại lý, hoa hồng môi giới, tiếp thị,
đóng gói, vận chuyển, bảo quản, chi phí khấu hao phương tiện vận tải, chi phí
vật liệu, bao bì, dụng cụ, đồ dùng, các chi phí bảo hành sản phẩm, chi phí
quảng cáo ...
* Chi phí quản lý doanh nghiệp: Là những chi phí liên quan đến quản
lý kinh doanh, quản lý hành chính và các chi phí chung khác liên quan đến
hoạt động của toàn doanh nghiệp như: tiền lương và các khoản phụ cấp trả
cho hội đồng quản trị, ban giám đốc và các nhân viên quản lý ở các phòng
ban, các khoản chi phí vật liệu, đồ dùng văn phòng, khấu hao TSCĐ chung
cho toàn doanh nghiệp, công tác phí, chi thưởng sáng kiến...
Từ đó ta có thể khái quát lợi nhuận hoạt động SXKD của doanh nghiệp
theo công thức:
Lợi nhuận từ
hoạt động

Doanh

Giá trị

thu

- vốn hàng -

thuần

bán

=



giảm giá

Giá trị
-

hàng bán

Thuế gián thu
-

trong giá bán

thuần
bán hàng
hàng bán
bị trả lại
(nếu có)
1.1.1.2.2. Lợi nhuận hoạt động tài chính
Lợi nhuận hoạt động tài chính: Là số chênh lệch giữa doanh thu hoạt
động tài chính và chi phí hoạt động tài chính của doanh nghiệp trong thời kỳ
xác định.
Công thức xác định:
Lợi nhuận từ
hoạt động tài

=

Doanh thu hoạt



Thu nhập

-

Khác

Chi phí
khác

-

Thuế gián
thu (nếu có)

Trong đó:

SV: Nguyễn Duy Tiến

7

Lớp CQ45/11.04


Chuyên đề cuối khóa

Thu nhập khác: Là các khoản thu được trong kỳ do các hoạt động không
thường xuyên ngoài các hoạt động tạo ra doanh thu gồm: tiền thu do nhượng
bán, thanh lý TSCĐ, khoản thu từ tiền bảo hiểm được các tổ chức bồi thường
khi doanh nghiệp có tham gia bảo hiểm, khoản thu về tiền phạt từ khách hàng

Lợi nhuận sau
thuế TNDN

Lợi nhuận
=

trước thuế

-

Thuế TNDN

TNDN

Tóm lại: Lợi nhuận là kết quả cuối cùng và cũng là một chỉ tiêu chất
lượng tổng hợp phán ánh kết quả của toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh
của một doanh nghiệp. Tuy nhiên ta không thể dùng lợi nhuận để đánh giá
doanh nghiệp đó kinh doanh tốt hay không tốt cũng như để so sánh giữa các
doanh nghiệp với nhau bởi:
• Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng, nó chịu ảnh hưởng của
nhiều nhân tố, có thể là nhân tố chủ quản, có thể là nhân tố khách quan, sự
ảnh hưởng đó có thể là cùng chiều hay ngược chiều. Chỉ nhìn vào lợi nhuận ta
không thể thấy được lợi nhuận tạo ra là do đâu cũng như mức độ ảnh hưởng
của các nhân tố tới lợi nhuận như thế nào.
• Các doanh nghiệp khác nhau sẽ có đặc điểm hoạt động kinh
doanh, các điều kiện vật chất, thị trường đầu vào, đầu ra khác nhau, quy mô

SV: Nguyễn Duy Tiến

8

doanh nghiệp cũng như xem xét một cách toàn diện hiệu quả hoạt động của
doanh nghiệp từ những góc độ khác nhau, chủ doanh nghiệp khi đầu tư vốn
vào kinh doanh hoặc lựa chọn dự án đầu tư có hiệu quả, họ thường quan tâm
tới các tỷ suất lợi nhuận hay còn gọi là doanh lợi và những biến động của nó
trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp.
Tỷ suất lợi nhuận là một chỉ tiêu tương đối phản ánh mối quan hệ so
sánh giữa lợi nhuận thu được trong kỳ với các yếu tố có liên quan đến việc
tạo ra lợi nhuận.

SV: Nguyễn Duy Tiến

9

Lớp CQ45/11.04


Chuyên đề cuối khóa

Dưới đây là một số chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận thường được sử dụng:
1.1.2.1 Tỷ suất lợi nhuận trước thuế và lãi vay trên vốn kinh
doanh(ROAe)
ROAe =

Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Vốn kinh doanh bình quân

*100%

Chỉ tiêu cho biết một đồng vốn tham gia vào quá trình hoạt động SXKD
tạo ra bao nhiêu lợi nhuận trước thuế và lãi vay qua đó phản ánh khả năng

Từ đó giúp doanh nghiệp định hướng sản xuất loại mặt hàng có mức doanh
lợi cao, đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả tối đa.

SV: Nguyễn Duy Tiến

10

Lớp CQ45/11.04


Chuyên đề cuối khóa

1.1.2.4. Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu bán hàng
Tỷ suất lợi nhuận doanh thu bán hàng là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận
tiêu thụ sản phẩm với doanh thu bán hàng trong kỳ.
Công thức xác định:
Ts=

Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu bán hàng

*100%

Tỷ suất lợi nhuận doanh thu bán hàng chỉ ra rằng: Cứ trong 100 đồng
doanh thu tiêu thụ trong kỳ thì đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Thực tế trong công tác quản lý, chỉ tiêu này còn để đánh giá chất lượng
từng hoạt động công tác khác nhau. Nếu tỷ suất này thấp hơn tỷ suất chung
của toàn ngành chứng tỏ doanh nghiệp bán hàng với giá thấp hoặc giá thành
sản phẩm của doanh nghiệp cao hơn các ngành khác.
Tóm lại: thông qua các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên đây, có thể đánh giá

doanh nghiệp
Lợi nhuận là mục đích cuối cùng của mọi doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh và có một vai trò quan trọng không thể phủ nhận đối với sự tồn tại,
phát triển của doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế như hiện nay. Cụ thể như
sau:
Thứ nhất: Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng quát phản ánh kết quả hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp. Bởi vì, dựa vào đó doanh nghiệp có thể biết
được hoạt động kinh doanh của mình có hiệu quả hay không, khoản thu về có
đủ bù đắp những chi phí đã bỏ ra để có được khoản thu đó hay không.
Thứ hai: Lợi nhuận là mục tiêu, là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp
nâng cao năng suất, là một trong những đòn bẩy kinh tế quan trọng tác động
đến việc hoàn thiện các mặt hoạt động của doanh nghiệp.
Thứ ba: Lợi nhuận là nguồn tài chính quan trọng để doanh nghiệp mở
rộng quy mô sản xuất kinh doanh, đổi mới máy móc thiết bị, công nghệ sản
xuất nhằm tiết kiệm chi phí nguyên nhiên vật liệu, tạo ra những sản phẩm chất
lượng cao, giá thành hạ. Từ đó giúp doanh nghiệp có điều kiện tạo dựng và
nâng cao uy tín trên thị trường, thu hút vốn đầu tư, bổ sung vốn kinh doanh,
tăng thêm vốn chủ hở hữu và trả các khoản nợ, tạo sự vững chắc về tài chính
cho doanh nghiệp
Thư tư: Lợi nhuận cao cho thấy được triển vọng phát triển của doanh
nghiệp đó trong tương lai đó là doanh nghiệp sẽ rất thuận lợi trong các mối
quan hệ kinh tế như có thể huy động thêm vốn dễ dàng, mua chịu hàng hoá
với khối lượng lớn... Doanh nghiệp còn có điều kiện trích lập các quỹ(quỹ đầu
tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, quỹ khen thưởng phúc lợi...) để phục vụ
cho việc tái sản xuất giản đơn, tái sản xuất mở rộng, phục vụ cho công tác
phúc lợi.
Thứ năm: Lợi nhuận còn là thước đo trình độ tổ chức quản lý kinh doanh
của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp đạt được lợi nhuận cao khi tăng đựơc
doanh thu và đảm bảo tốc độ tăng của doanh thu lớn hơn tốc độ tăng của chi
SV: Nguyễn Duy Tiến

Chuyên đề cuối khóa

- Do vai trò của lợi nhuận đối với người lao động
Lao động là một trong ba yếu tố không thể thiếu được của quá trình sản
xuất kinh doanh. để tiến hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả thì doanh
nghiệp phải quan tâm thoả đáng đến lao động, cả về vật chất lẫn tinh thần. nếu
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả, lợi nhuận cao thì sẽ có điều
kiện trích lập các quỹ như quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ dự phòng trợ
cấp mất việc làm... là cơ sở để từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần cho cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp.
Lợi nhuận còn là đòn bẩy kích thích người lao động đẩy mạnh sản xuất,
nâng cao năng suất lao động và hăng say sáng tạo trong công việc. Từ đó góp
phần nâng cao thu nhập cho người lao động trong doanh nghiệp, tăng tích luỹ
để mở rộng sản xuất kinh doanh.
- Từ vai trò của lợi nhuận đối với bên thứ ba
Bên thứ ba là những người có quan hệ với doanh nghiệp như các nhà
cung cấp, ngân hàng, các nhà đầu tư…. nếu doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh có hiệu quả, có lợi nhuận và tăng được lợi nhuận thì doanh nghiệp dễ
dàng vay thêm vốn từ các ngân hàng, thu hút vốn của các nhà đầu tư, tạo lập
tín dụng thương mại với các nhà cung cấp.
- Từ vai trò của lợi nhuận đối với xã hội
Lợi nhuận là nguồn thu quan trọng của ngân sách Nhà nước, lợi nhuận
của doanh nghiệp một phần sẽ được chuyển vào ngân sách Nhà nước thông
qua các sắc thuế và nghĩa vụ đóng góp của mỗi doanh nghiệp với Nhà nước.
Nếu doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, lợi nhuận cao thì ngân sách nhà
nước sẽ có khoản thu lớn từ thuế thu nhập doanh nghiệp. Và ngược lại, nếu
doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả, lợi nhuận giảm thì khoản thu này sẽ
giảm xuống. Với khoản đóng góp ngày càng lớn từ thuế thu nhập doanh
nghiệp vào ngân sách Nhà nước sẽ góp phần thoả mãn nhu cầu chi tiêu của
nền kinh tế quốc dân, củng cố và tăng cường lực lượng quốc phòng, cải thiện

mà vấn đề lãi , lỗ trong kinh doanh không được doanh nghiệp quan tâm hàng
đầu.
Chuyển sang nền kinh tế thị trường, cơ chế quản lý đã có những thay đổi
tích cực. Nhà nước từng bước giao quyền tự chủ về sản xuất kinh doanh, tự
chủ về tài chính cho các doanh nghiệp, doanh nghiệp phải tự hạch toán theo
phương thức “ lời ăn lỗ chịu”. Do đó, các doanh nghiệp không còn đường nào
khác là phải đổi mới, phải vươn lên tự khẳng định mình, để làm được điều đó,
doanh nghiệp phải tự bảo toàn và phát triển vốn kinh doanh. Muốn vậy các
doanh nghiệp phải kinh doanh có lãi, nếu không có lợi nhuận thì doanh
nghiệp không thể đầu tư mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, không có
điều kiện đổi mới công nghệ, ứng dụng những tiến bộ khoa học công nghệ
hiện đại vào sản xuất. Như vậy, doanh nghiệp sẽ khó đứng vững trên thị
trường, nhất là trong điều kiện cạnh tranh quyết liệt như hiện nay và trong
tương lai.
Tóm lại: lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng, quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nói riêng và

SV: Nguyễn Duy Tiến

15

Lớp CQ45/11.04


Chuyên đề cuối khóa

toàn bộ nền kinh tế nói chung. Phấn đấu tăng lợi nhuận là mục tiêu cơ bản và
lâu dài của mọi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên lợi
nhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp chịu sự ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố
khác nhau.


16

Lớp CQ45/11.04


Chuyên đề cuối khóa

năng suất lao động; có biện pháp kích thích lao động làm việc hăng say, nhiệt
tình với công việc ... từ đó giảm được chi phí nhân công trên sản phẩm. Tổ
chức quản lý vốn chặt chẽ, hợp lý giúp giảm tình trạng ứ đọng vốn, giảm chi
phí dự trữ nguyên vật liệu ... nhưng vẫn đảm bảo hoạt động sản xuất diễn ra
liên tục.

SV: Nguyễn Duy Tiến

17

Lớp CQ45/11.04


Chuyên đề cuối khóa

1.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng tới doanh thu tiêu thụ.
Doanh thu tiêu thụ là biểu hiện của tổng giá trị các loại sản phẩm hàng
hóa dịch vụ mà doanh nghiệp đã bán ra trong một thời kỳ nhất định. Doanh
thu tiêu thụ sản phẩm phụ thuộc vào đặc điểm sản xuất, tiêu thụ của từng
ngành và có ảnh hưởng lớn tới lợi nhuận của doanh nghiệp.
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp phụ thuộc vào
các nhân tố chủ yếu sau:


Chuyên đề cuối khóa

 Trong điều kiện cạnh tranh như hiện nay ngoài yếu tố
chất lượng thì yếu tố chủng loại và mẫu mã cũng cần được quan tâm. Mặt
hàng chất lượng cao nhưng mẫu mã và chủng loại kém sẽ ảnh hưởng đáng kể
đến khả năng tiêu thụ của mặt hàng đó. Cái mà người tiêu dùng cảm nhận
được trước tiên sẽ thu hút người tiêu dùng đến với sản phẩm do vậy khả năng
họ chi tiền ra để mua sản phẩm sẽ cao hơn. Doanh nghiệp phải liên tục thay
đổi cải tiến mẫu mã, chủng loại sản phẩm phù hợp với nhu cầu cũng như đòi
hỏi ngày càng cao của thị trường.
 Giá bán sản phẩm hàng hóa tiêu thụ:
Giá bán sản phẩm tiêu thụ là nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến
doanh thu tiêu thụ sản phẩm hàng hóa. Khi doanh thu không thay đổi, giá bán
sản phẩm tiêu thụ tăng lên thì doanh thu tiêu thụ sẽ tăng và ngược lại. Giá bán
sản phẩm hàng hóa tiêu thụ lại phụ thuộc vào chi phí đầu vào, chi phí sản
xuất, chất lượng sản phẩm, chi phí quảng cáo, tiếp thị, uy tín của doanh
nghiệp... Doanh nghiệp cần có một chính sách giá linh hoạt để vừa thúc đẩy
tiêu thu sản phẩm, vừa gia tăng lợi nhuận trên sản phẩm để đạt mục tiêu tối đa
hóa lợi nhuận cho doanh nghiệp.
 Thị trường tiêu thụ, phương thức tiêu thụ, thanh toán tiền
hàng:
Doanh nghiệp phải có thị trường đầu ra cho sản phẩm thì mới có
cơ hội thu được lợi nhuận. Thị trường tiêu thụ của sản phẩm càng lớn thị khả
năng thu lợi nhuận càng cao. Tuy nhiên trong điều kiện hiện nay cạnh tranh
giữa các doanh nghiệp cùng ngành cũng như với các sản phẩm ngoại nhập
ngày càng trở nên gay gắt. Do vậy mỗi sản phẩm cần có phân đoạn thị trường
phù hợp để tối đa hóa lợi nhuận của sản phẩm đó. Có được phân đoạn thị
trường thích hợp giúp tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm từ đó tăng khả năng
tạo lợi nhuận cho doanh nghiệp.

thức rõ ràng rằng, thuế là chỉ tiêu thể hiện nghĩa vụ bắt buộc của doanh
nghiệp đối với nhà nước. Thuế là nhân tố khách quan ảnh hưởng nghịch chiều
với lợi nhuận, doanh nghiệp không được tìm cách giảm thuế, trốn thuế để
tăng lợi nhuận.
Còn lại lợi nhuận chịu ảnh hưởng bởi yếu tố doanh thu tiêu thụ và giá
thành toàn bộ sản phẩm tiêu thụ. Nhưng mỗi nhân tố trên lại chịu ảnh hưởng
của các nhân tố khác nhau theo những chiều hướng khác nhau. Vì vậy, những
phương hướng chủ yếu để tăng lợi nhuận đều xoay quanh việc nghiên cứu và
tác động các nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận: doanh thu tiêu thụ và giá thành
sản phẩm.

SV: Nguyễn Duy Tiến

20

Lớp CQ45/11.04


Chuyên đề cuối khóa

1.3.1 Tăng doanh thu tiêu thụ và sản phẩm trong kỳ.
Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, việc tăng doanh thu tiêu thụ
sẽ làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Tuy nhiên việc tăng doanh thu lại
phụ thuộc vào nhiều nhân tố ảnh hướng tới doanh thu theo chiều hướng tích
cực.
Thứ nhất: Cần tăng số lượng và chất lượng của sản phẩm sản xuất
và tiêu thụ trong kỳ.
Ta thấy: nếu các nhân tố giá bán, giá thành toàn bộ , thuế gián thu được
cố định thì lợi nhuận tiêu thụ trong kỳ sẽ tăng đồng hành cùng với sự gia tăng
của sản phẩm tiêu thụ.

Chuyên đề cuối khóa

đơn vị cao, giảm tỉ trọng tiêu thụ những mặt hàng có mức lợi nhuận đơn vị
thấp sẽ làm cho doanh thu và lợi nhuận tăng lên và ngược lại.Để thu được lợi
nhuận cao, doanh nghiệp cần đầu tư nghiên cứu, đa dạng hóa chủng loại sản
phẩm nhằm cung cấp và thỏa mãn tối đa nhu cầu thị trường, đồng thời đảm
bảo kết cấu mặt hàng tối ưu.
Thứ ba: Cần xây dựng một chính sách giá cả hợp lý
Giá cả cũng là một nhân tố không thể không đề cập đến bởi nó liên quan
đến lợi ích kinh tế của cả người bán lẫn người mua. Một sản phẩm sản xuất ra
không những phải phù hợp với nhu cầu mà còn phải phù hợp với khả năng
thanh toán của khách hàng, có như vậy mới có thể mở rộng khả năng và thị
phần tiêu thụ nhờ đó mà nâng cao doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp.
Sản phẩm được tiêu thụ chứng tỏ nó đã được thị trường chấp nhận cả về giá
cả và chất lượng, sản phẩm tiêu thụ được ngày càng nhiều thì lợi nhuận của
doanh nghiệp ngày càng cao.
Chính sách giá cả được coi là hợp lý nếu các mức giá đưa ra giải quyết
hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế giữa người bán và người mua, thực
hiện phân đoạn thị trường một cách hiệu quả và tối đa hóa lợi nhuận cho
doanh nghiệp. Mặt khác chính sách giá cả hợp lý cũng tạo ra lợi thế cạnh
tranh cho doanh nghiệp, đôi khi nó còn là một vũ khí lợi hại đánh bật các đối
thủ cạnh tranh, giúp doanh nghiệp chiếm lĩnh thị trường. Do vậy, xây dựng
chính sách giá cả hợp lý là điều hết sức cần thiết với mỗi doanh nghiệp.
Thứ tư: Cần làm tốt công tác thanh toán.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, khách hàng của mỗi doanh nghiệp
không chỉ giới hạn ở một phạm vi nhỏ mà còn mở rộng đến khắp mọi miền
đất nước , thậm chí còn vượt ra ngoài biên giới của một quốc gia. Do vậy, đa
dạng hóa phương thức thanh toán sẽ là một điều kiện giúp cho doanh nghiệp
mở rộng được mạng lưới tiêu thụ. Những phương thức đó có thể là thanh toán
bằng tiền mặt, bằng séc, chuyển khoản, tín dụng ngân hàng, tín dụng thương

nghiệp mà còn đối với toàn xã hội bởi nó làm cho lợi nhuận tăng lên mà
không cần phải tăng chi phí. Ví vậy, nó tạo cho doanh nghiệp không chỉ tự bù
đắp chi phí sản xuất, kinh doanh có lãi mà còn giúp doanh nghiệp sử dụng tiết
kiệm vốn để mở rộng quy mô sản xuất, tăng khối lượng sản phẩm sản xuất ra.
Để hạ giá thành sản phẩm, doanh nghiệp có thể áp dụng một số biện pháp chủ
yếu sau:
+ Một là: thường xuyên đổi mới kỹ thuật, công nghệ sản xuất trong
doanh nghiệp, ứng dụng kịp thời các thành tựu tiến bộ khoa học kỹ thuật vào
sản xuất.
+ Hai là: Không ngừng hoàn thiện và nâng cao trình độ tổ chức sản xuất,
tổ chức lao động, tiết kiệm chi phí lao động vật tư , chi phí quản lý, hạn chế
tối đa các thiệt hại tổn thất trong quá trình sản xuất… từ đó có thể tiết kiệm
chi phí và hạ giá thành.
+ Ba là: Tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát tài chính đồi với sử
dụng chi phí và giá thành sản phẩm của doanh nghiệp

SV: Nguyễn Duy Tiến

23

Lớp CQ45/11.04


Chuyên đề cuối khóa

+ Bốn là: Trong khâu cung ứng nguyên vật liệu cần phải chọn nguồn
cung cấp gần, thuận tiện cho việc chuyên chở, giá cả phải chăng, đặc biệt là
phải ổn định hóa nguồn cung cấp cho những vật tư chính. Đây cũng là nhân tố
giúp tiết kiệm chi phí và hạ giá thành. Ngoài ra, doanh nghiệp cần phải chú ý
đến khâu bảo quản, dự trữ vật tư, tránh tình trạng để vật tư bị thất thoát, mất

24

Lớp CQ45/11.04


Chuyên đề cuối khóa

trường tiêu thụ) để lựa chọn được biện pháp phù hợp với chính doanh nghiệp
đó.
Kết luận: Trên đây là phần trình bày những lý luận cơ bản về lợi nhuận
và các phương hướng, biện pháp phấn đấu tăng lợi nhuận của doanh nghiệp,
đó chính là cơ sở để đi sâu phân tích tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh
và đánh giá tình hình thực hiện lợi nhuận của công ty cổ phần hải sản Thái
Bình được trình bày ở chương II, phần tiếp theo sau đây.
CHƯƠNG 2
TÌNH HÌNH THỰC HIỆN LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN HẢI SẢN THÁI BÌNH
2.1. Khái quát về quá trình thành lập, phát triển và đặc điểm kinh doanh
của công ty cổ phần hải sản Thái Bình
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
Công ty CP Hải sản Thái Bình tiền thân là công ty Hải sản được thành lập từ
năm 1959, là một doanh nghiệp nhà nước chủ lực của ngành hải sản Thái
Bình. Tháng 10/2005, thực hiện chủ trương nhà nước, công ty tiến hành Cổ
Phần Hóa theo nghị định 187/CP của Chính phủ.
Công ty Cổ phần Hải sản Thái Bình có :
Tên giao dịch : Công ty cổ phần hải sản Thái Bình
Tên tiếng anh : Thai Binh seaproducts joint-stock Company
Tên viết tắt : Thai Binh seaproducts J.S.C
Trụ sở chính: số 22 – Phố Hai Bà Trưng – Phường Lê Hồng Phong - Thành
Phố Thái Bình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status