Khoa Tài Chính Công
Luận văn cuối khóa
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi.
Các số liệu kết quả nêu trong luận văn là trung thực xuất phát từ tình hình thực tế
của đơn vị thực tập.
Tác giả luận văn cuối khóa
( Ký và ghi rõ họ tên)
SV: Đàm Thị Bích Ngọc
i
Lớp CQ47/01.01
Khoa Tài Chính Công
Luận văn cuối khóa
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1. NSNN: ngân sách nhà nước
2. GD: giáo dục
3. UBND: ủy ban nhân dân
4. HĐND: hội đồng nhân dân
5. TSCĐ: tài sản cố định
6. CNH-HĐH: công nghiệp hóa-hiện đại hóa
7. KT-XH: kinh tế-xã hội
8. NSTW: ngân sách trung ương
Bảng 2.9: Chi mua sắm, sửa chữa tài sản thuộc sự nghiệp GD huyện Hòa An
Bảng 2.10: Chi khác thuộc sự nghiệp giáo dục huyện Hòa An
Hình 2.1: Mô hình quản lý ngân sách GD trên địa bàn huyện Hòa An
Hình 2.2: Mô hình cấp phát vốn cho sự nghiệp GD huyện Hòa An
SV: Đàm Thị Bích Ngọc
iii
Lớp CQ47/01.01
Khoa Tài Chính Công
Luận văn cuối khóa
MỤC LỤC
Danh mục các chữ viết tắt……………………………………………………...
Danh mục các bảng biểu, mô hình……………………………………………..
Lời mở đầu……………………………………………………………………..
Chương 1: Những vấn đề chung về quản lý chi thường xuyên NSNN cho
sự nghiệp Giáo dục………………………………………………………….
1.1 Sự cần thiết, khái niệm, phân loại và vai trò của chi thường xuyên cho
sự nghiệp GD…………………………………………………………
1.1.1. Sự cần thiết quản lý chi thường xuyên cho GD………………..
1.1.2. Khái niệm về chi thường xuyên NSNN cho GD……………….
1.1.3. Phân loại về chi thường xuyên NSNN cho GD………………...
1.1.4. Vai trò của chi thường xuyên cho GD……………….…………
1.2. Nội dung chi NSNN cho GD
1.2.1. Nguồn vốn chi cho GD
Thực trạng chi và quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp GD
huyện Hòa An
2.2.1. Tình hình chi cho sự nghiệp GD huyện Hòa An
2.2.1.1. Chi từ nguồn vốn NSNN
2.2.1.2. Chi từ nguồn vốn khác
2.2.2. Mô hình quản lý chi thường xuyên cho GD
2.2.2.1. Mô hình quản lý chi thường xuyên cho GD
2.2.2.2. Mô hình cấp phát vốn
2.2.3. Quản lý chu trình NSNN cho GD ở huyện Hòa An
2.2.3.1. Khâu lập dự toán
2.2.3.2. Khâu chấp hành dự toán
2.2.3.3. Khâu quyết toán
2.3. Đánh giá thực trạng chi và quản lý chi thường xuyên NSNN cho GD
huyện Hòa An
2.3.1. Ưu điểm
2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân
Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý chi thường xuyên NSNN cho
GD trên địa bàn huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng
3.1. Phương hướng phát triển sự nghiệp GD ở huyện Hòa An
3.2. Giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự
nghiệp GD ở huyện Hòa An
3.2.1. Giải pháp kế hoạch hóa nguồn vốn chi cho GD huyện Hòa An
3.2.2. Giải pháp về quản lý sử dụng các khoản chi thường xuyên NSNN
cho GD huyện Hòa An
3.2.2.1. Thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp
thực hiện chế độ tự chủ
3.2.2.2. Bố trí hợp lý cơ cấu chi tiêu cho GD
3.2.2.3. Quản lý đồng bộ chi thường xuyên NSNN cho GD
3.2.3. Giải pháp khác
quyền lực và sức mạnh của một quốc gia. Vì vậy các nước trên thế giới đều ý
thức được rằng giáo dục không chỉ là phúc lợi xã hội, mà thực sự là đòn bẩy
quan trọng để phát triển kinh tế, phát triển xã hội.
Giáo dục ngày nay không đơn thuần là quá trình giáo dục văn hóa tư tưởng,
đạo đức, lối sống mà phải coi đấy là nguồn lực nội sinh, coi chiến lược phát triển
con người là một bộ phận không thể tách rời trong chiến lược phát triển kinh tế
đảm bảo thực hiện thành công tiến trình CNH-HĐH cũng như sự phát triển
chung của đất nước. Chỉ khi được giáo dục, con người mới được phát triển toàn
diện cả về nhân cách và trình độ, được trang bị đầy dủ những kiến thức cần thiết
để đáp ứng nhu cầu phát triển về mọi mặt.
Nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười cũng đã nói nhân dịp khai giảng năm học
1995 - 1996: “Con người là nguồn lực quý báu nhất, đồng thời là mục tiêu cao
cả nhất. Tất cả do con người và vì hạnh phúc của con người, trong đó trí tuệ là
nguồn tài nguyên lớn nhất của quốc gia. Vì vậy, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng và
trọng dụng nhân tài là vấn đề có tầm chiến lược, là yếu tố quyết định tương lai
của đất nước”. Do vậy, giáo dục, đào tạo giữ vai trò cốt tử đối với mỗi quốc gia.
Nhận thức rõ được tầm quan trọng của sự nghiệp giáo dục đối với
quá trình phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã luôn coi giáo dục là
quốc sách hàng đầu, dành mọi sự ưu tiên về nguồn lực để đầu tư cho giáo dục.
Nhưng Sự nghiệp Giáo dục ngày hôm nay đang đứng trước những vận hội và
những thử thách lớn lao trong khi NSNN còn eo hẹp, nhu cầu chi cho giáo dục
lại cực kỳ lớn và tăng lên theo thời gian, bỏ xa điểm cân bằng giữa cung và cầu
trong giáo dục.
SV: Đàm Thị Bích Ngọc
vii
Lớp CQ47/01.01
NSNN cho GD trên địa bàn huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, được sự hướng dẫn trực tiếp của thầy
PGS.TS. Phạm Văn Đăng cùng với sự giúp đỡ của các cô chú, anh chị trong
SV: Đàm Thị Bích Ngọc
viii
Lớp CQ47/01.01
Khoa Tài Chính Công
Luận văn cuối khóa
Phòng Tài chính-Kế hoạch, phòng Giáo dục-Đào tạo huyện Hòa An đã tạo điều
kiện cho việc nghiên cứu đề tài.
Đề tài này được hoàn thành trong thời gian thực tập khá hạn hẹp, trình độ
chuyên môn còn hạn chế, khả năng nhận thức lý luận và thực tiễn còn chưa sắc
bén, xuất phát từ sự thiếu kinh nghiệm của một sinh viên sắp ra trường, cho nên
chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế. Vì vậy, tôi rất mong
nhận được sự phê bình, góp ý của các thầy cô giáo cùng toàn thể những ai quan
tâm đến đề tài này để chuyên đề được hoàn chỉnh hơn.
Tôi xin chân thành biết ơn sự giúp đỡ của thầy cô, đặc biệt là thầy PGS.TS.
Phạm Văn Đăng - người trực tiếp hướng dẫn tôi và các cô chú, anh chị trong
Phòng Tài chính-Kế hoạch, phòng GD-ĐT huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng.
SV: Đàm Thị Bích Ngọc
ix
đơn nhất, cổ xưa nhất, con người đã có ý thức phải tích lũy và truyền dạy kinh
nghiệm lao động, nghĩa là đã nảy sinh những nhu cầu về hoạt động GD. Còn
trong xã hội ngày nay, khi thời đại công nghệ thông tin phát triển, tri thức tràn
ngập toàn cầu thì nhu cầu giáo dục càng trở nên quan trọng hơn nữa, hoạt động
giáo dục được diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi trong nhà trường cũng như toàn xã hội.
Nhận thức rõ được tầm quan trọng của sự nghiệp GD đối với quá trình
phát triển KT-XH, Đảng và nước ta đã luôn coi GD là quốc sách hàng đầu, giành
SV: Đàm Thị Bích Ngọc
1
Lớp CQ47/01.01
Khoa Tài Chính Công
Luận văn cuối khóa
mọi sự ưu tiên về nguồn lực để đầu tư cho GD. Nguồn kinh phí đầu tư cho GD
hiện nay bao gồm nguồn kinh phí do NSNN cấp và nguồn kinh phí khác, nhưng
nguồn vốn từ NSNN phải giữ vị trí quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn so với tổng
kinh phí đầu tư cho GD. Hàng năm, nguồn kinh phí đầu tư cho GD là rất lớn và
tăng mỗi năm cùng với sự tăng trưởng kinh tế.
Vì vậy, công tác quản lý chi thường xuyên cho GD là rất cần thiết để nâng
cao hiệu quả sử dụng kinh phí NS cũng như chất lượng GD.
1.1.2. Khái niệm về chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp GD
Chi thường xuyên NSNN diễn ra trên phạm vi rộng và đa dạng. Căn cứ vào
tính chất và phương thức quản lý NSNN, chi NSNN được chia ra thành: chi
thường xuyên, chi đầu tư, chi trả nợ, chi dự trữ.
Chi thường xuyên NSNN là quá trình phân phối, sử dụng vốn từ quỹ NSNN
•
Chi sự nghiệp y tế
Chi sự nghiệp Văn hóa-Thể thao
Chi sự nghiệp thông tấn-Báo chí, phát thanh-Truyền hình
Các khoản chi sự nghiệp khác: chi cho các trung tâm bảo trợ xã hội để
nuôi dưỡng người già yếu, chi cho các trang trại 05,06…
Nếu căn cứ theo nội dung kính tế và tính chất phát sinh, chi thường xuyên
NSNN cho các hoạt động sự nghiệp bao gồm:
• Chi thanh toán cá nhân
• Chi nghiệp vụ chuyên môn
• Chi mua sắm, sửa chữa và xây dựng nhỏ
• Chi thường xuyên khác
Nếu căn cứ theo cấp ngân sách, chi thường xuyên NSNN cho các hoạt
động sự nghiệp bao gồm:
• Đơn vị dự toán cấp I
• Đơn vị dự toán cấp II
• Đơn vị dự toán cấp III
Chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp GD là tập hợp các khoản chi nhằm
đảm bảo cho hoạt động của các cơ sở GD công lập thực hiện các nhiệm vụ giảng
dạy, học tập, thí nghiệm, thực hành theo sự phân công của nhà nước. Vì vậy,
phân loại chi thường xuyên NSNN cho GD bao gồm 4 nhóm sau:
- Khoản chi thanh toán cá nhân
- Khoản chi nghiệp vụ giảng dạy
- Khoản chi cho mua sắm, sửa chữa
- Khoản chi khác
1.1.4. Vai trò của chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp GD
Giáo dục hết sức cần thiết đối với sự phát triển của xã hội và tăng trưởng
kinh tế. Không có một xã hội văn minh hay nền kinh tế phát triển nếu không có
một nguồn nhân lực phát triển cả về thể lực lẫn trí lực.
hiện việc cung cấp các phương tiện vật chất cần thiết nhằm đảm bảo cho quá
trình học tập và giảng dạy, đảm bảo đời sống vật chất cho đội ngũ cán bộ viên
chức như: chi trả lương, phụ cấp lương, các khoản phúc lợi tập thể, khen
thưởng…phù hợp với từng đối tượng nhằm khuyến khích họ nâng cao tinh thần,
trách nhiệm trong công việc. Ngoài ra, hàng năm do quy mô GD được mở rộng,
do nhu cầu hoạt động cùng với sự xuống cấp tất yếu của TSCĐ, NSNN còn chi
một khoản khá lớn cho việc cải tạo,nâng cấp trang thiết bị giảng dạy đã bị xuống
cấp, hư hỏng; mua sắm đổi mới trang thiết bị giảng dạy hiện đại, tu sửa xây mới
các trường học nhằm đáp ứng tốt hơn điều kiện học tập. Đây là khoản chi hết sức
cần thiết góp phần nâng cao chất lượng GD.
• Chi NSNN có vái trò điều chỉnh cơ cấu GD theo cấp học, theo vùng miền
khác nhau: Trong mỗi thời kỳ phát triển KT-XH, Đảng và nhà nước lại có các
đường lối, chủ trương khác nhau trong việc phát triển sự nghiệp GD theo từng
cấp học và từng vùng miền. Nhà nước có thể sử dụng các định mức chi, mạng
lưới trường học để phát triển cấp học này hay hỗ trợ cho các vùng miền có điều
SV: Đàm Thị Bích Ngọc
4
Lớp CQ47/01.01
Khoa Tài Chính Công
Luận văn cuối khóa
kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, trình độ dân trí còn thấp nhằm
điều chỉnh sự phát triển GD thep định hướng phát triển của mình.
• Chi NSNN góp phần quan trọng, quyết định tới sự phát triển của toàn
5
Lớp CQ47/01.01
Khoa Tài Chính Công
Luận văn cuối khóa
được chi NS tối thiểu cho GD, cả trong thời kỳ khó khăn Nhà nước vẫn giành
một tỷ lệ NS đáng kể để duy trì, củng cố, ổn định và phát triển GD.
Theo khoản 1, điều 89 Luật GD ghi rõ:” Nhà nước giành sự ưu tiên hàng
đầu cho việc bố trí ngân sách GD, đảm bảo tỷ lệ NSNN chi cho GD tăng dần
theo yêu cầu phát triển của GD”. Đây là nguồn chi chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
chi NSNN. Chi cho GD từ NSNN bao gồm các khoản chi sau:
- Chi đầu tư phát triển: đây là những khoản chi mang tính chất không ổn định
từ NSNN nhằm xây dựng mới, cải tạo và mở rộng, trang bị lại kỹ thuật tại các cơ
sở thuộc toàn ngành GD.
Chi xây dựng mới bao gồm các khoản chi để xây dựng mới trường học, các
cơ sở GD, kết quả là làm tăng thêm TSCĐ, năng lực hoạt động cho toàn ngành
GD.
Chi đầu tư cải tạo mở rộng, trang bị lại kỹ thuật bao gồm các khoản chi để
mở rộng cải tạo lại những TSCĐ hiện có nhằm tăng thêm công suất và hiện đại
hóa TSCĐ
- Chi thường xuyên: Đây là khoản chi mang tính chất thường xuyên, ổn định
nhằm mục đích duy trì sự hoạt động bình thường của toàn hệ thống GD. Chi
thường xuyên cho sự nghiệp GD bao gồm: Chi thanh toán cá nhân, chi nghiệp vụ
giảng dạy, chi mua sắm sửa chữa TSCĐ, chi khác. Đây là khoản chi mang tính
chất tiêu dùng vì nó không tạo ra cơ sở vật chất mới và là một khoản chi khá lớn
hàng năm từ NSNN cho sự nghiệp GD.
Nếu phân chia nội dung chi theo nhóm mục chi thì chi thường xuyên NSNN
cho sự nghiệp GD bao gồm:
• Chi thanh toán cá nhân: Bao gồm chi lương, phụ cấp, BHXH, BHYT, kinh
phí công đoàn, phúc lợi tập thể…chủ yếu là khoản chi nhằm đảm bảo đời sống
sinh hoạt của cán bộ giáo viên, công nhân viên trong toàn ngành GD.
• Chi nghiệp vụ giảng dạy: Bao gồm những khoản chi để đảm bảo cho công
tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học như: mua sắm trang thiết bị, sách
giáo khoa, văn phòng phẩm…Những khoản này nhằm đào tạo, nâng cao chất
lượng dạy và học của đội ngũ giáo viên và học sinh, nhằm duy trì hoạt động bình
thường của bộ máy quản lý tại mỗi cơ quan đơn vị trong toàn ngành GD.
• Chi mua sắm sửa chữa: Là khoản chi NSNN nhằm sữa chữa nâng cấp
trang thiết bị, cơ sở vật chất nhằm phục hồi giá trị sử dụng của tài sản đó, hoặc
mua sắm thêm các tài sản phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập của cán bộ
giáo viên, học sinh.
• Chi khác: Bao gồm các khoản mục chi phí chung và chi khác cho hoạt
động của mỗi đơn vị sử dụng NS.
Các khoản mục thuộc về chi phí chung của mỗi đơn vị nhằm đáp ứng nhu
cầu duy trì sự hoạt động quản lý điều hành của mỗi đơn vị. Nó thường bao gồm
các mục chi như: thanh toán dịch vụ công cộng, vật tư văn phòng, thông tin,
truyền thông, liên lác, công tác phí,…
Ngoài những chi phí chung, ở một số đơn vị còn phát sinh các khoản chi
khác vẫn tính vào nội dung chi của đơn vị như: chi xử lý các hành vi vi phạm
SV: Đàm Thị Bích Ngọc
7
Lớp CQ47/01.01
Khoa Tài Chính Công
• Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả
Tiết kiệm, hiệu quả là một trong những nguyên tắc quan trọng hàng đầu
của quản lý kinh tế-tài chính vì nguồn lực luôn có giới hạn mà nhu cầu thì vô
hạn. Do vậy, trong quá trình phân bổ và sử dụng các nguồn lực khan hiếm đó
SV: Đàm Thị Bích Ngọc
8
Lớp CQ47/01.01
Khoa Tài Chính Công
Luận văn cuối khóa
luôn phải tính sao cho chi phí ít nhất nhưng hiệu quả đạt được là cao nhất. Hàng
năm, nhu cầu chi NSNN luôn tăng nhanh so với khả năng huy động nguồn thu
NS. Vì thế, tôn trọng nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả là cần thiết trong quản lý chi
NSNN.
Chi NSNN cho GD thực hiện được nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả chỉ khi
xây dựng được các định mức, tiêu chuẩn phù hợp với tình hình thực tế của sự
phát triển kinh tế nói chung và định hướng phát triển của ngành GD nói riêng.
Đồng thời phải thiết lập được các hình thức cấp phát phù hợp với yêu cầu quản
lý đối với ngành GD.
• Nguyên tắc chi trực tiếp qua Kho bạc nhà nước
Một trong những chức năng quan trọng của KBNN là quản lý quỹ NSNN,
vì vậy KBNN vừa có quyền, vừa có trách nhiệm kiểm soát chặt chẽ mọi khoản
chi thường xuyên NSNN. Hiện nay, ở nước ta đã và đang thực hiện “chi trực tiếp
qua KBNN”.
Chi trực tiếp qua KBNN là phương thức thanh toán chi trả có sự tham gia
Quản lý chi thường xuyên NSNN nói chung và chi cho sự nghiệp GD nói
riêng là quản lý theo chu trình NS, được thực hiện bằng công vụ kế hoạch thông
qua ba khâu chủ yếu là:
1.3.2.1. Lập dự toán chi thường xuyên NSNN cho GD
Đây là khâu mở đầu một chu trình NS, nhằm mục đích phân tích, đánh giá
giữa khả năng và nhu cầu các nguồn tài chính của nhà nước nhằm xác lập các chỉ
tiêu thu, chi NSNN hàng năm một cách đúng đắn, có căn cứ khoa học và thực
tiễn.
- Căn cứ để lập dự toán chi NSNN cho GD hàng năm:
• Căn cứ vào số kiểm tra được giao;
• Căn cứ vào các chỉ tiêu của kế hoạch phát triển KT-XH nói chung và kế
hoạch phát triển GD-ĐT nói riêng của nhà nước;
• Chế độ, tiêu chuẩn định mức chi NSNN cho GD và khả năng nguồn kinh
phí có thể đáp ứng được;
• Căn cứ vào chỉ thị của Thủ tướng chính phủ về việc xây dựng kế hoạch
phát triển GD-ĐT và dự toán NS năm sau. Thông tư hướng dẫn của Bộ tài
chính về việc lập dự toán NS và văn bản hướng dẫn của Bộ ngành liên
quan;
• Căn cứ vào tình hình thực hiện dự toán năm trước.
- Quy trình lập dự toán:
Theo phương pháp lập từ cơ sở lên. Các cơ sở của ngành GD là đơn vị trực
tiếp sử dụng NS có trách nhiệm tổng hợp, xác định nhu cầu chi để lập dự toán
chi năm kế hoạch cho đơn vị mình, sau đó gửi lên CQTC cùng cấp xem xét,
duyệt theo những căn cứ đã nêu ở trên. Trong quá trình tổng hợp, lập dự toán
NS, CQTC có trách nhiệm làm việc cới các đơn vị trực thuộc để điều chỉnh dự
toán kinh phí mà các đơn vị lập.
CQTC xem xét tính hợp lệ, đúng đắn của dự toán cho các đơn vị trực thuộc
và trình UBND cùng cấp phê duyệt, sau đó trình lên CQTC cấp trên. CQTC địa
phương có trách nhiệm xem xét dự toán kinh phí cho các cơ quan cùng cấp, Bộ
SV: Đàm Thị Bích Ngọc
phương là quyết định giao dự toán của Chủ tịch UBND các cấp hoặc cơ quan
chủ quản ở địa phương được Chủ tịch UBND các cấp ủy quyền.
- Về hình thức dự toán: dự toán giao cho các đơn vị sự nghiệp thực hiện chế
độ tự chủ phải tách riêng thành hai phần: phần chi thường xuyên được phân bổ
chung vào nhóm mục chi khác và phần chi không thường xuyên phân bổ theo 4
nhóm mục chi. Trong cả hai phần trên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đều
phải giao riêng nguồn tiết kiệm 10% để thực hiện cải cách tiền lương,
- Trường hợp đầu năm NS, dự toán NS và phương án phân bổ dự toán NS
chưa được cơ quan có thẩm quyền quyết định hoặc phải điều chỉnh dự toán NS
theo quy định, KBNN tạm cấp kinh phí cho đơn vị.
• Đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cấp có thẩm quyền quy định
SV: Đàm Thị Bích Ngọc
11
Lớp CQ47/01.01
Khoa Tài Chính Công
Luận văn cuối khóa
- Đối với các khoản chi thường xuyên của đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo chi phí
hoạt động và đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động, thủ
trưởng đơn vị được quyết định một số mức chi quản lý hành chính, chi nghiệp vụ
chuyên môn cao hơn hoặc thấp hơn mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm
quyền.
- Đối với các khoản chi thường xuyên của đơn vị sự nghiệp do NS đảm bảo
toàn bộ chi phí hoạt động, thủ trưởng đơn vị được quyết định một số mức chi
quản lý, chi hoạt động chuyên môn song không được vượt quá mức chi do cơ
Khoa Tài Chính Công
Luận văn cuối khóa
• Đã được Thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người được ủy quyền
quyết định chi.
Quy trình kiểm soát chi
• Hồ sơ thanh toán:
Khi có nhu cầu thanh toán, ngoài các hồ sơ gửi một lần vào đầu năm như: dự
toán chi NSNN, quy chế chi tiêu nội bộ( gửi vào năm đầu thực hiện chế độ tự
chủ và gửi khi có bổ sung, sửa đổi); đơn vị sự nghiệp gửi KBNN nơi giao dịch
các hồ sơ, tài liệu, chứng từ có liên qua đến từng lần thanh toán, bao gồm:
- Giấy rút dự toán NSNN ghi rõ nội dung chi thuộc nguồn kinh phí chi
thường xuyên và chi tiết theo đúng quy định của mục lục NSNN làm căn cứ để
KBNN kiểm soát và hạch toán chi NSNN;
- Các hồ sơ, chứng từ khác phù hợp với tính chất của từng khoản chi theo
quy định.
• KBNN kiểm soát hồ sơ thanh toán của đơn vị, bao gồm:
- Kiểm soát, đối chiếu các khoản chi so với dự toán NSNN được giao, đảm
bảo các khoản chi có trong dự toán chi NSNN được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền giao cho đơn vị sự nghiệp để thực hiện chế độ tự chủ;
- Kiểm tra, kiểm soát tính hợp pháp, hợp lệ của các hồ sơ, chứng từ theo
quy định đối với từng khoản chi;
- Kiểm tra, kiểm soát các khoản chi đảm bảo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định
mức chi NSNN do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định hoặc theo quy chế
chi tiêu nội bộ của đơn vị;
- Đối với các khoản chi bằng tiền mặt, ngoài việc kiểm soát theo các quy
định nêu trên, KBNN còn phải thực hiện kiểm soát, thanh toán bằng tiền mặt
theo đúng quy định về quản lý thu, chi bằng tiền mặt qua hệ thống KBNN.
NSNN và đúng niên độ NS;
- Các chứng từ chi phải hợp pháp;
- Sổ sách và báo cáo quyết toán phải khớp với chứng từ và khớp với số liệu
của KBNN.
Trình tự lập, xét duyệt báo cáo quyết toán
Sau khi thực hiện xong công tác khóa sổ cuối ngày 31 tháng 12 hàng năm,
sổ liệu trên sổ sách của mỗi đơn vị phải đảm bảo cân đối và khớp đúng với số
liệu của KBNN cả về tổng số và chi tiết. Khi đó đơn vị mới được tiến hành lập
báo cáo quyết toán năm gửi xét duyệt.
Đơn vị dự toán cấp dưới lập báo cáo quyết toán năm gửi đơn vị dự toán
cấp trên. Trong thời gian tối đa 20 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo quyết
toán của các đơn vị dự toán cấp dưới, đơn vị dự toán cấp trên có trách nhiệm xét
duyệt quyết toán và thông báo kết quả xét duyệt quyết toán cho đơn vị dự toán
cấp dưới. Sau 10 ngày kể từ ngày nhận được thông báo xét duyệt quyết toán của
đơn vị dự toán cấp trên, đơn vị dự toán cấp dưới không có ý kiến gì thì coi như
đã chấp nhận để thi hành.
Đơn vị dự toán cấp I có trách nhiệm tổng hợp và lập báo cáo quyết toán
năm gửi CQTC đồng cấp sau khi đã có sự xác nhận của KBNN và kiểm toán nhà
nước. CQTC có trách nhiệm thẩm định quyết toán năm cho đơn vị dự toán cấp I
thuộc mình quản lý trong thời gian nhất định.
SV: Đàm Thị Bích Ngọc
14
Lớp CQ47/01.01
Khoa Tài Chính Công
Luận văn cuối khóa
*
*
*
Tóm lại: Trong chương 1, luận văn đã hệ thống hóa những nội dung cơ bản về
sự cần thiết, khái niệm, phân loại và vai trò của quản lý chi thường xuyên cho
GD, đồng thời phân tích nội dung chi thường xuyên NSNN cho GD. Bên cạnh
đó, nêu rõ các nguyên tắc quản lý chi thường xuyên và phân tích về chu trình chi
thường xuyên NSNN cho GD.
SV: Đàm Thị Bích Ngọc
15
Lớp CQ47/01.01
Khoa Tài Chính Công
SV: Đàm Thị Bích Ngọc
Luận văn cuối khóa
16
Lớp CQ47/01.01