CÂU HỎI ÔN TẬP HIẾN PHÁP II
1. Cơ cấu tổ chức của Quốc hội?
Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao
nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.Các cơ quan của Quốc hội gồm có:.
Ủy ban thường vụ Quốc hội: là cơ quan thường trực của Quốc hội, gồm có Chủ tịch,
các Phó Chủ tịch và các Ủy viên.
Hội đồng dân tộc và 9 Uỷ ban, gồm Uỷ ban pháp luật; Uỷ ban tư pháp; Uỷ ban kinh tế;
Uỷ ban tài chính, ngân sách; Uỷ ban quốc phòng và an ninh; Uỷ ban văn hoá, giáo dục,
thanh niên, thiếu niên và nhi đồng; Uỷ ban về các vấn đề xã hội; Uỷ ban khoa học, công
nghệ và môi trường; Uỷ ban đối ngoại;
Đại biểu Quốc hội: Quốc hội có không quá 500 đại biểu đại diện cho ý chí, nguyện vọng
của cử tri cả nước, trong đó có những đại biểu hoạt động chuyên trách và những đại biểu
hoạt động không chuyên trách. Số lượng đại biểu chuyên trách chiếm ít nhất 25% tổng số
đại biểu Quốc hội;
Đoàn đại biểu Quốc hội gồm các đại biểu Quốc hội được bầu trong một tỉnh hoặc thành
phố trực thuộc trung ương hợp thành;
Ủy ban Thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội. Ủy ban Thường trực
Quốc hội gồm có: Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội và các Ủy viên do Chủ
tịch Quốc hội làm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Quốc hội làm Phó Chủ tịch. Số Phó Chủ
tịch Quốc hội và số Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội do Quốc hội quyết định.
Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội là những cơ quan của Quốc hội, làm việc
theo chế độ tập thể và quyết định theo đa số. Nhiệm kỳ của Hội đồng dân tộc và các Ủy
ban của Quốc hội theo nhiệm kỳ của Quốc hội.
Quốc hội thành lập Hội đồng dân tộc và các Ủy ban sau đây:
- Ủy ban pháp luật;
- Ủy ban kinh tế và ngân sách;
- Ủy ban quốc phòng và an ninh;
1
2
Trong bộ máy nhà nước ta, Quốc hội chiếm vị trí đặc biệt quan trọng. Theo hiến
pháp năm 1992, ở nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tất cả quyền lực nhà nước
thuộc về nhân dân (điều 2). Quyền lực nhà nước được xác định là thuộc về nhân dân
nhưng nhân dân không trực tiếp sử dụng quyền lực đó mà trao cho Quốc hội để thay mặt
mình sử dụng quyền lực nhà nước, chính vì vậy Quốc hội là cơ quan có quyền lực cao
nhất. Quyền lực của Quốc hội là quyền lực của nhân dân - những người làm chủ đất nước
trao cho, Quốc hội nhận quyền lực trực tiếp từ nhân dân. Hơn nữa, nhà nước cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là tập trung
thống nhất, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, do đó Quốc hội chính là cơ
quan đại biểu cao nhất của nhân dân quyền lực nhà nước cao nhất của nước cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam. Quyền lực tập trung vào quốc hội, quốc hội giao quyền cho các
cơ quan khác như chính phủ, tòa án nhân dân tối cao, viện kiểm sát nhân dân tối cao,…
Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội được Hiến pháp quy định. Trong
Hiến pháp năm 1946, điều 22 quy định “Nghị viện nhân dân là cơ quan có quyền cao
nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”, thẩm quyền của Quốc hội được quy định
chung tại Điều 23 là “Nghị viện nhân dân giải quyết mọi vấn đề chung cho toàn quốc,
đặt ra các pháp luật, biểu quyết ngân sách, chuẩn y các hiệp ước mà Chính phủ ký với
nước ngoài”. Ngoài quy định chung tại Điều 23, nhiệm vụ và quyền hạn của Nghị viện
còn được thể hiện tại Điều 25 “Nghị viện không chỉ thay mặt cho địa phương mình mà
còn thay mặt cho toàn thể nhân dân”; Nghị viện nhân dân có quyền bỏ phiếu bầu Chủ
tịch nước tại Điều 45; bầu cử Thủ tướng và các bộ trưởng tại Điều 47 và chế độ trách
nhiệm của Thủ trưởng, bộ trưởng trước Nghị viện nhân dân tại Điều 54.
Hiến pháp năm 1959 khẳng định “Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất
của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”. Như vậy, so với Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp
năm 1959 đã có bước phát triển mới qua việc khẳng định “Quốc hội là cơ quan quyền lực
nhà nước cao nhất; là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp của nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa”.
Đến năm 2001, Hiến pháp 1992 được sửa đổi, bổ sung, trong đó có một số quy định
mới điều chỉnh nhiệm vụ quyền hạn của Quốc hội nhằm khẳng định vai trò của Quốc hội
trong việc quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Cụ thể là ở Điều 84 của Hiến
pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 quy định Quốc
4
hội: “phân bổ ngân sách trung ương”; “quyết định chính sách tôn giáo của Nhà nước”;
“phê chuẩn đề nghị của Chủ tịch nước về danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng và
an ninh; bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc
phê chuẩn” và “phê chuẩn hoặc bãi bỏ điều ước quốc tế do Chủ tịch nước trực tiếp ký”.
Vai trò của Quốc hội còn được tăng cường trong việc xem xét và quyết định các vấn
đề về nhân sự cấp cao. Trước năm 2001, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992
đều giao cho cơ quan thường trực của Quốc hội là Hội đồng Nhà nước, Uỷ ban thường vụ
Quốc hội có quyền phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm, miễn
nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ và
báo cáo với Quốc hội tại kỳ họp gần nhất của Quốc hội. Điều khoản sửa đổi của Hiến
pháp năm 1992 đã bãi bỏ thẩm quyền này của Uỷ ban thường vụ Quốc hội để bảo đảm
Quốc hội là chủ thể duy nhất có quyền quyết định nhân sự cấp cao của nhà nước. Trong
Báo cáo trình Quốc hội về vấn đề này, Uỷ ban dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của
Hiến pháp năm 1992 cho rằng đây là vấn đề quan trọng, phải thuộc thẩm quyền của Quốc
hội, không nên giao cho cơ quan khác thực hiện. Về mặt thời gian, mỗi năm Quốc hội
họp hai kỳ, thời gian giữa hai kỳ họp không dài. Do đó, việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách
chức những người giữ các chức danh này không nhất thiết phải tiến hành trong thời gian
Quốc hội không họp. Như vậy, việc bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ
tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội và các ủy viên Uỷ ban thường
vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao; phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm,
miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ;
phê chuẩn đề nghị của Chủ tịch nước về danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng và
Hiến pháp và Luật thể hiện đường lối cơ bản và những chủ trương lớn của Đảng đã được
Nhà nước thể chế hoá và có hiệu lực thi hành trên toàn lãnh thổ nước ta. Luật là văn bản
có hiệu lực pháp lý cao sau Hiến pháp. Các văn bản qui phạm pháp luật khác do các cơ
quan nhà nước ban hành phải căn cứ vào Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội và
không được trái với tinh thần, nội dung của Hiến pháp, Luật và Nghị quyết của Quốc hội.
1.2. Trong lĩnh vực quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước
Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, qui định những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức
6
và hoạt động của bộ máy Nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân. Những
vấn đề quan trọng của đất nước do Quốc hội quyết định gồm có:
Về tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước ở trung ương: Quốc hội bầu, miễn
nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Quốc hội, thành
lập Chính phủ, bầu Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao; quyết định thành lập, bãi bỏ các bộ và các cơ quan ngang bộ; thành lập mới,
nhập, chia, điều chỉnh địa giới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương...
Về lĩnh vực kinh tế- ngân sách: Quốc hội quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước, chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; quyết định dự toán ngân sách nhà
nước và phân bổ ngân sách trung ương; chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, quyết
định đại xá;
Vấn đề chiến tranh và hoà bình, Quốc hội quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp
đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia;
Về đối ngoại, Quốc hội phê chuẩn hoặc bãi bỏ các điều ước quốc tế mà nước ta là thành
viên theo tờ trình của Chủ tịch nước.
1.3. Trong lĩnh vực giám sát tối cao của Quốc hội
Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước
nhất hai mươi phần trăm (20%) tổng số đại biểu Quốc hội hoặc kiến nghị của Hội đồng
dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội về việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức
vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.
2.
Quốc hội với chủ tịch nước, chính phủ, các cơ quan quyền lực nhà nước ở địa
phương.
Trong cơ chế tổ chức quyền lực nhà nước, mối quan hệ giữa Quốc hội và các thiết
chế nhà nước khác được xác định ở chỗ Quốc hội có quyền bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm
những người đứng đầu các cơ quan khác của nhà nước; nhiệm kỳ hoạt động của các cơ
quan nhà nước do Quốc hội thành lập là theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Do được Quốc hội
bầu và có thể bị Quốc hội bãi miễn, nên có thể thấy rằng sự tồn tại của chính các cơ quan
khác của nhà nước ở trung ương là phụ thuộc vào sự tín nhiệm của Quốc hội và của nhân
dân. Mặt khác, mỗi cơ quan nhà nước khi được thành lập có phạm vi thẩm quyền nhất
8
định và có tính độc lập trong việc tổ chức thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn được
giao trong phạm vi thẩm quyền đó.
Chủ tịch nước do Quốc hội bầu và phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Chính phủ
là cơ quan chấp hành của quốc hội. Quốc hội có thể miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức vụ
cao nhất của bộ máy nhà nước như chủ tịch nước, phó chủ tịch nước, thủ tướng chính
phủ, phê chuẩn các quyết định bổ nhiệm các chức vụ chánh án tòa án nhân dân tối cao,
viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao,…
Hội đồng nhân dân chính là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Hội đồng
nhân dân cùng với Quốc hội hợp thành hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước, thay mặt
nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước và là gốc của chính quyền nhân dân. Hội đồng
nhân dân nhận quyền lực trực tiếp từ Quốc hội do Quốc hội ủy nhiệm bằng hình thức văn
nhân dân. Bên cạnh những kết quả đã đạt được, Quốc hội cũng không thể tránh khỏi một
số thiếu sót. Trong lĩnh vực xây dựng pháp luật còn một số tồn đọng, hạn chế nhất là về
vấn đề trình độ xây dựng pháp luật của các đại biểu cần phải chú trọng hơn.Trong quyết
định một số vấn đề quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia, chủ quyền lãnh thổ cần
nhanh nhạy, dứt khoát hơn. Trong lĩnh vực giám sát của quốc hội: Luật Hoạt động giám
sát của Quốc hội có hiệu lực đã hơn năm năm, nhưng cho tới nay vẫn còn thiếu văn bản
hướng dẫn thi hành, nhất là về quy trình, thủ tục giám sát đối với từng chủ thể giám sát;
về bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn; hậu quả
pháp lý của giám sát… Hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn của Quốc hội khá sôi nổi,
có nhiều khởi sắc, bước đầu đạt được những kết quả đáng khích lệ, được cử tri đánh giá
cao, nhưng vẫn còn đó những câu hỏi chưa được chuẩn bị nghiêm túc, dài dòng, hỏi để
được cung cấp thông tin và những câu trả lời chung chung, tránh né trách nhiệm. Đại
biểu Quốc hội nước ta phần lớn là kiêm nhiệm và theo cơ cấu thành phần, vùng Miền,
chất lượng không đồng đều; vị trí công tác khác nhau, nên việc tham gia hoạt động Quốc
hội nói chung, hoạt động giám sát nói riêng bị hạn chế, kết quả đạt được chưa cao. Trong
hoạt động giám sát của đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội nơi này, nơi khác còn
có sự nể nang, ngại va chạm với lãnh đạo chủ chốt của chính quyền địa phương; thiếu
kiên quyết trong tranh luận giữa người giám sát và đối tượng chịu sự giám sát.
3. Các hình thức hoạt động của Quốc hội?
10
Từ Quốc hội khoá I năm 1946 đến Quốc hội khoá XI hiện nay quan thực tiễn hoạt động
đã rót ra hình thức hoạt động sau đây.
Thứ nhất: Kỳ họp Quốc hội là hình thức hoạt động quan trọng nhất, nơi biểu hiện trực
tiếp và tập trung nhất quyền lực nhà nước của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, trí
tuệ của tập thể đại biểu Quốc hội và quyền giám sát của Quốc hội đối với hoạt động của
các nhà nước.
So với các hình thức tổ chức hoạt động khác của Quốc hội thì kỳ họp là hình thức hoạt
- Ủy ban đối ngoại.
Thành phần các uỷ ban gồm có: Chủ nhiện các phó chủ nhiệm và các uỷ viên, theo
luật tổ chức Quốc hội cho phép một số chủ nhiệm và phó chủ nhiệm và các uỷ viên hoạt
động chuyên trách. Khi xét thấy cần thiết Quốc hội thành lập ra uỷ ban lâm thời để
nghiên cứu, thẩm tra một dự án, điều tra về một vấn đề nào đó.
HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẠI BIỂU QH VÀ ĐOÀN ĐẠI BIỂU QH Ở ĐỊA PHƯƠNG.
Đây cũng là hính thức hoạt động thường xuyên của Quốc hội, sau các kỳ họp Đại
biểu Quốc hội hoạt động không chuyên trách trở về các địa phương để làm nhiệm vụ
chuyên môn của mình, bên cạnh đó vẫn phải thực hiện nhiệm vụ của đại biểu và tham
gia sinh hoạt với đoàn đại biểu Quốc hội ở địa phương.
Hiện nay các đoàn đại biểu được thành lập theo các đơn vị hành chính cấp tỉnh. Tất cả
các đại biểu bầu ra ở tỉnh nào hoặc thành phố trực thuộc trung ương hợp thành một đại
biểu Quốc hội, trong đó có trưởng đoàn và phó đoàn, Ýt nhất mỗi đoàn đại biểu Quốc hội
có trụ sở làm việc, đây là những quy định mới nhằm điều kiện cho các đại biểu hoạt động
có hiệu quả hơn.
4. Thẩm quyền của Chủ tịch nước ?
5. Cơ cấu tổ chức của chính phủ?
Điều 2. Cơ cấu tổ chức và thành viên của Chính phủ
1. Chính phủ gồm Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng
và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ. Cơ cấu số lượng thành viên Chính phủ do Thủ tướng
Chính phủ trình Quốc hội quyết định.
2. Cơ cấu tổ chức của Chính phủ gồm các bộ, cơ quan ngang bộ.
Việc thành lập, bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ do Chính phủ trình Quốc hội quyết định.
13
(trích: Luật tổ chức Chính phủ ngày 19/6/2015)
Với tất cả những quy định trên, ta thấy rằng quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ đã
có thay đổi. Đặc biệt là thẩm quyền ban hành văn bản đã có sự cải thiện đáng kể. Hình thức
văn bản đã phù hợp với vai trò, quyền hạn của Thủ tướng và qua hình thức văn bản có thể
phân biệt giữa văn bản của Chính phủ với văn bản của Thủ tướng Chính phủ ban hành,
tránh được sự chồng chéo về thẩm quyền. Hơn thế, thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ
đã quy định rõ ràng và cụ thể điều kiện thuận lợi cho Thủ tướng Chính phủ hoàn thành tốt
nhiệm vụ, quyền hạn của mình, là cơ sở cho các chính sách của Đảng và Nhà nước Việt
Nam được thực hiện trên thực tế.
3. Thông qua hoạt động của Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ.
Ngoài hoạt động của phiên họp, hoạt động của Thủ tướng và phó Thủ tướng, hoạt
động của Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ đóng vai trò khá quan trọng trong
hoạt động của Chính phủ. Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ thực hiện chức năng
quản lý Nhà nước đối với ngành hoặc lĩnh vực công tác trong phạm vi cả nước.
Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ là thành viên Chính phủ, lãnh đạo
công tác của Bộ và cơ quan ngang Bộ, phụ trách một số công tác của Chính phủ. Bộ trưởng
chịu trách nhiệm trước Thủ tướng và trước Quốc hội về hoạt động quản lý Nhà nước trong
phạm vi ngành , lĩnh vực được phân công.
Trong Chính phủ, các Bộ trưởng hoạt động với hai tư cách : Thứ nhất: là thành
viên của Chính phủ, cùng tập thể Chính phủ giải quyết công việc chung của Chính phủ
thông qua các phiên họp; Thứ hai: là người đứng đầu một Bộ, ngành hoặc lĩnh vực thực
hiện lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành hoạt động của Bộ, ngành, lĩnh vực. (Điều 23 Luật tổ chức
Chính phủ).
Để thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của mình, pháp luật hiện hành quy định Bộ
trưởng có quyền ban hành gồm quyết định, chỉ thị, thông tư. Bộ trưởng căn cứ vào Hiến
pháp, Luật và Nghị Quyết của Quốc hội; Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ
Quốc hội; Lệnh, Quyết định của Chủ tịch nước, các văn bản của Chính phủ , Thủ tướng
Chính phủ để ra các văn bản trên và hướng dẫn , kiểm tra việc thi hành các văn bản đó.
.
trách nhiệm cá nhân người đứng đầu nguyên tắc thủ trưởng. Nguyên tắc tập thể kết hợp với
trách nhiệm người đứng đầu là một nguyên tắc cơ bản của bất cứ Chính phủ nào trong các
nhà nước hiện đại. Việc kết hợp hai mặt của nguyên tắc tập thể - cá nhân Thủ trưởng là
động lực thúc đẩy hoạt động của Chính phủ. Chính phủ của nước cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là một tập thể thống nhất dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Chính phủ.
16
Thứ ba là, Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức của Chính phủ.Đáp ứng
yêu cầu chuẩn hóa đội ngũ cán bộ công chức cần đào tạo, bố trí sử dụng cán bộ. ban hành
các quy định pháp luật về đánh giá cán bộ công chức thật sự khoa học đúng người đúng
việc. Bảo đảm chính sách và lợi ích vật chất hợp lý động viên tinh thần đối với cán bộ,
công chức trong bộ máy hành chính.
Thứ tư là, Chính phủ Việt Nam hiện nay cần phải coi trọng vấn đề tham nhũng,
tham nhũng có thể xảy ra ở tất cả các cơ quan trong bộ máy nhà nước, những năm gần
đây Chính phủ Việt Nam cũng đã xác định tham nhũng là vẫn nạn, nó kìm hãm sự phát
triển kinh tế, nhưng kết quả chống tham nhũng ở Việt Nam còn ở mức độ hạn chế.
Để duy trì và thực hiện có hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng Chính phủ
tiếp tục triển khai thực hiện đồng bộ các luật, nghị quyết của Chính phủ và cần triển khai kế
hoạch thanh tra, kiểm tra, kiểm toán có trọng tâm trọng điểm đối với tất cả các lĩnh vực.
Tập trung chỉ đạo điểu tra làm rõ là xử lý đúng pháp luật nhũng vụ việc tham nhũng đã
được phát hiện, nhất là tham nhũng lớn mà xã hội đặc biệt quan tâm. Ngoài ra để công tác
này đạt được hiệu quả cao, thực hiện phòng, chống tham nhũng phải kết hợp chặt chẽ với
cải cách hành chính ở từng cơ quan, địa phương, đơn vị và gắn với thực hành tiết kiệm,
chống lãng phí, quan liêu.
7. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân theo pháp luật hiện hành?
Điều 103 Hiến pháp năm 2013 quy định các nguyên tắc cơ bản tổ chức và hoạt động của
Tòa án nhân dân. Đó là:…
pháp năm 2003 ngoài việc quy định quyền bào chữa của bị can, bị cáo, còn bổ sung việc
bảo đảm quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của các đương sự khác như người bị hại, nguyên
đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong hoạt động xét xử
của Tòa án.
Đồng thời, Hiến pháp năm 2013 bổ sung một số nguyên tắc quan trọng, bảo đảm sự phù
hợp với tinh thần Cải cách tư pháp, bảo vệ quyền con người và thông lệ quốc tế. Các
nguyên tắc được bổ sung là:
- Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm
18
Đây là nguyên tắc thể hiện nội dung rất quan trọng trong Cải cách tư pháp ở nước ta. Sự
thật chỉ được xác định, công lý chỉ được thiết lập khi có sự tranh tụng giữa các bên trong
tố tụng tư pháp, nhất là trong xét xử các vụ án;
- Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm
Nguyên tắc hai cấp xét xử là nguyên tắc xuyên suốt của hệ thống tư pháp của bất kỳ một
quốc gia nào; được ghi nhận trong các văn kiện quốc tế về quyền con người và pháp luật
của mọi quốc gia. Thực hiện hai cấp xét xử là một trong những biện pháp bảo vệ quyền
con người hữu hiệu; đồng thời bảo đảm cho hoạt động tư pháp thận trọng nhưng có điểm
dừng, tránh kéo dài, chậm trễ.
Khác với Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 không quy định nguyên tắc Toà án
nhân dân bảo đảm cho công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc các
dân tộc quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình trước Toà án. Đây là một quy
định rất quan trọng, nhưng không chỉ trong lĩnh vực tư pháp, mà cả trong mọi lĩnh vực
của đời sống xã hội. Tinh thần quan trọng này đã được Hiến pháp năm 2013 quy định tại
khoản 3 Điều 5 “Các dân tộc có quyền dùng tiến nói, chữ viết… của mình”, nên không
cần quy định lặp lại ở chương về Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân nữa.
Hiến pháp năm 2013 không quy định nguyên tắc xét xử trực tiếp, nguyên tắc xét xử liên
tục vì không đặc trưng cho hoạt động xét xử và phù hợp với thực tiễn hoạt động tư pháp
ngày càng phức tạp, thường xuyên kéo dài hiện nay. Đồng thời, tạo điều kiện để Toà án
4. Kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính,
kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật;
5. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản án, quyết định của
Toà án nhân dân;
6. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo
dục người chấp hành án phạt tù.
20
Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan duy nhất được giao chức năng thực hành
quyền công tố. Hoạt động thực hành quyền công tố chỉ diễn ra trong hai giai đoạn của tố
tụng hình sự là giai đoạn điều tra các vụ án hình sự và giai đoạn xét xử các vụ án hình sự.
Hoạt động công tố được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án hình sự và trong suốt quá
trình tố tụng hình sự nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm
oan người không có tội.
Theo quy định tại Điều 13 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, khi
thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, Viện kiểm sát nhân dân có những
nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1. Khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; Yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố hoặc
thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can;
2. Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu cơ quan điều tra tiến hành điều tra; trực tiếp
tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật;
3. Yêu cầu Thủ trưởng cơ quan điều tra thay đổi Điều tra viên theo quy định của
pháp luật; nếu hành vi của Điều tra viên có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố về hình sự;
4. Quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam và các
biện pháp ngăn chặn khác, phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định của cơ quan điều
tra theo quy định của pháp luật;
5. Huỷ bỏ các quyết định trái pháp luật của cơ quan điều tra;
6. Quyết định việc truy tố bị can; quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ điều tra,
của pháp luật.
Thứ tư, kiểm sát thi hành án, bao gồm các hoạt động: Kiểm sát việc tuân theo pháp
luật của Toà án nhân dân, cơ quan thi hành án, Chấp hành viên, cơ quan, tổ chức, đơn vị
và cá nhân có liên quan trong việc thi hành bản án, quyết định về hình sự, dân sự đã có
22
hiệu lực pháp luật và những bản án, quyết định được thi hành ngay theo quy định của
pháp luật
Thứ năm kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án
phạt tù, bao gồm các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, đơn vị
và người có trách nhiệm trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp
hành án phạt tù.
9. Mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân với các cơ quan nhà
nước ở Trung ương? ( Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015)
Điều 6. Hội đồng nhân dân
1. Hội đồng nhân dân gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri ở địa phương bầu ra,
là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền
làm chủ của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà
nước cấp trên.
Điều 8. Ủy ban nhân dân
1. Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu, là cơ quan chấp hành của Hội
đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Nhân
dân địa phương, Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên.
2. Ủy ban nhân dân gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên, số lượng cụ thể Phó Chủ
tịch Ủy ban nhân dân các cấp do Chính phủ quy định.
10. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương theo Luật Tổ chức
- Thứ tư, ở HĐND thành phố trực thuộc trung ương thành lập thêm Ban đô thị; ở HĐND
cấp xã thành lập thêm 2 ban là Ban Pháp chế và Ban Kinh tế - Xã hội. Thành viên các
Ban HĐND cấp xã hoạt động kiêm nhiệm.
- Thứ năm, quy định đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách. Theo đó, Chủ tịch HĐND,
Trưởng Ban của HĐND cấp tỉnh, cấp huyện có thể là đại biểu HĐND hoạt động chuyên
trách; Phó Chủ tịch HĐND, Phó Trưởng Ban của HĐND cấp tỉnh, cấp huyện là đại biểu
HĐND hoạt động chuyên trách; ở cấp xã, quy định Phó Chủ tịch HĐND cấp xã là đại
24
biểu HĐND hoạt động chuyên trách; Trưởng Ban, Phó Trưởng Ban và Ủy viên của các
Ban của HĐND xã hoạt động kiêm nhiệm.
- Thứ sáu, quy định khi có từ 10% trở lên trong tổng số cử tri trên địa bàn cấp xã yêu cầu,
Thường trực HĐND cấp xã có trách nhiệm xem xét tổ chức kỳ họp HĐND để bàn về nội
dung kiến nghị của cử tri.
- Thứ bảy, HĐND cấp tỉnh, cấp huyện thành lập Tổ đại biểu HĐND; HĐND cấp xã
không thành lập Tổ đại biểu HĐND.
7. Về cơ cấu tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân
Kế thừa các nội dung hợp lý của Luật năm 2003; đồng thời bổ sung những điểm mới
nhằm quy định chi tiết hơn về số lượng, cơ cấu thành viên UBND, nguyên tắc hoạt động
của UBND; phiên họp UBND; phạm vi, trách nhiệm giải quyết công việc của các thành
viên UBND; mối quan hệ phối hợp công tác của UBND; các cơ quan chuyên môn thuộc
UBND. Theo đó, cơ cấu tổ chức và hoạt động của UBND có những nội dung mới sau:
- Thứ nhất, quy định thành viên UBND cấp tỉnh, cấp huyện gồm Chủ tịch, các Phó Chủ
tịch và các Ủy viên là người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc UBND, Ủy viên phụ
trách quân sự, Ủy viên phụ trách công an để bảo đảm nguyên tắc làm việc tập thể của
UBND bao quát đầy đủ các lĩnh vực chuyên môn, tạo điều kiện thực hiện việc giám sát
của HĐND và lấy phiếu tín nhiệm đối với người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc
UBND và cơ quan quân sự, công an ở địa phương; quy định thành viên UBND cấp xã
gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và Ủy viên phụ trách quân sự, Ủy viên phụ trách công