1
MỤC LỤC
2
DANH SÁCH CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
1.
Techcombank Việt Nam:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ Thương
Việt Nam
2.
Techcombank Hải Dương:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ Thương
Việt Nam – chi nhánh Hải Dương
3.
NHNN:
Ngân hàng Nhà nước
4.
NHTM:
Biểu đồ 2.1. Phân tích dư nợ cho vay của Techcombank Hải Dương theo thời hạn
cho vay........................................................................................................................59
Bảng 2.6. Phân tích dư nợ cho vay của Techcombank Hải Dương theo ngành nghề
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................60
Biểu đồ 2.2. Phân tích dư nợ cho vay của Techcombank Hải Dương theo ngành
nghề............................................................................................................................61
Bảng 2.7. Phân tích dư nợ cho vay của Techcombank theo đối tượng khách hàng và
loại hình doanh nghiệp...............................................................................................61
Biểu đồ 2.3. Phân tích dư nợ cho vay của Techcombank Hải Dương theo đối tượng
khách hàng và loại hình doanh nghiệp......................................................................62
Bảng 2.8. Phân tích chất lượng dư nợ cho vay của Techcombank Hải Dương.......63
Biểu đồ 2.4. Chất lượng dư nợ cho vay của Techcombank Hải Dương...................63
Bảng 2.9. Một số chỉ tiêu phản ánh chất lượng dư nợ..............................................64
Bảng 2.10. Mức trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo các nhóm nợ.....................66
Biểu đồ 2.5. Quy mô tổng dư nợ và tỷ lệ nợ xấu qua các năm.................................68
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1. Quy trình tín dụng...................................................................................19
Sơ đồ 2.1. Sơ đồ tổ chức bộ máy hoạt động tại Techcombank Hải Dương..............39
4
Sơ đồ 2.2. Quy trình tín dụng.....................................................................................44
5
LỜI MỞ ĐẦU
I. Sự cần thiết của đề tài
nói chung.
III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Hoạt động tín dụng, rủi ro trong hoạt động tín
dụng và công tác quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ
thương Việt Nam chi nhánh Hải Dương.
Trong các hình thức của tín dụng thì cho vay (tín dụng bằng tiền) là hoạt động
quan trọng nhất và chiếm tỷ trọng lớn nhất tại các NHTM. Nên tác giả chỉ tập trung
nghiên cứu tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng đối với hình thức cho vay.
Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Tác giả nghiên cứu đối tượng tại Ngân hàng Thương mại Cổ
phần Kỹ thương Việt Nam chi nhánh Hải Dương.
- Về thời gian: Tác giả nghiên cứu dữ liệu trong khoảng thời gian 3 năm từ năm
2010 đến năm 2012.
IV. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Để thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết;
- Phương pháp phân tích tổng hợp;
- Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic.
Cụ thể: cùng với việc nghiên cứu các lý luận thuộc chuyên ngành kinh tế, tài
chính, ngân hàng, đề tài nghiên cứu đã được thực hiện trên cơ sở:
- Thu thập, tổng hợp các số liệu thực tế về hoạt động tín dụng tại
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ thương Việt Nam chi nhánh Hải Dương.
- Trao đổi kinh nghiệm với các cán bộ tín dụng công tác tại Ngân hàng Thương
mại Cổ phần Kỹ thương Việt Nam chi nhánh Hải Dương, và các cán bộ công tác
trong ngành tài chính, ngân hàng nói chung.
- Trên cơ sở lý luận, các số liệu thực tế tổng hợp được, kết quả các mẫu điều
tra, và các ý kiến nhận định của các cán bộ tín dụng, tác giả sử dụng các phương
RỦI RO TÍN DỤNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Những vấn đề cơ bản về tín dụng ngân hàng
1.1.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng là mối quan hệ kinh tế trong đó các chủ thể chuyển cho nhau quyền
sử dụng về một lượng giá trị hoặc hiện vật với những điều kiện mà hai bên thoả
thuận như số lượng, thời hạn, lãi suất... theo nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.
Tín dụng ngân hàng là việc ngân hàng thảo thuận để khách hàng sử dụng một
tài sản (bằng tiền, tài sản thực hay uy tín) với nguyên tắc có hoàn trả bằng các
nghiệp vụ cho vay, chiết khấu (tái chiết khấu), cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân
hàng và các nghiệp vụ khác. (PGS.TS. Nguyễn Văn Tiến 2010, tr 350)
Đối tượng vay mượn có thể là tiền hoặc tài sản. Nguyên tắc hoàn trả khẳng
định người cho vay chỉ nhường quyền sử dụng tiền hoặc tài sản của mình cho người
đi vay trong một khoảng thời gian nhất định. Hết thời hạn đó người đi vay sẽ phải
hoàn trả cho người cho vay một số tiền hay tài sản nhất định theo thoả thuận. Thông
thường giá trị khoản hoàn trả sẽ lớn hơn giá trị khoản cho vay.
Với cùng bản chất như vậy, tín dụng Ngân hàng là quan hệ vay mượn lẫn nhau
giữa một bên là ngân hàng và bên kia là các chủ thể kinh tế khác như các đơn vị
kinh tế, các tổ chức xã hội, cá nhân dựa trên nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi
trong một khoảng thời gian nhất định. Việc hoàn trả có thể thực hiện một lần hay
nhiều lần tuỳ theo thoả thuận giữa hai bên.
Một ngân hàng khi tham gia vào các quan hệ tín dụng có thể đóng vai trò là
người đi vay hoặc người cho vay. Khi ngân hàng nhận tiền gửi, phát hành trái
phiếu, kỳ phiếu để huy động vốn, vay vốn từ Ngân hàng Trung Ương, từ các tổ
chức tín dụng khác thì nó đóng vai trò là người đi vay. Còn khi ngân hàng thực hiện
việc cho vay trực tiếp, chiết khấu thương phiếu... thì nó đóng vai trò là người cho
vay. Tuy nhiên, trong thực tế do tính phức tạp của hoạt động cho vay so với hoạt
động đi vay và cũng là do thói quen nên khi nói đến tín dụng Ngân hàng người ta
thường chỉ đề cập đến hoạt động cho vay mà ít khi đề cập đến hoạt động đi vay.
Căn cứ vào thời hạn trong quan hệ tín dụng có thể chia thành:
+ Tín dụng ngắn hạn: là những khoản tín dụng có thời hạn dưới 1 năm nhằm
đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn của người vay như nhu cầu về vốn lưu động.
+ Tín dụng trung hạn: là những khoản tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm
phục vụ nhu cầu sửa chữa, nâng cấp tài sản cố định của các doanh nghiệp, cải tiến
kỹ thuật hoặc xây dựng những công trình loại nhỏ, thời hạn thu hồi vốn không dài.
10
+ Tín dụng dài hạn: là những khoản tín dụng có thời hạn trên 5 năm, phục vụ
nhu cầu trang bị tài sản cố định cho sản xuất kinh doanh, hay xây dựng những công
trình lớn, thời hạn thu hồi vốn lâu hơn.
Căn cứ vào thành phần kinh tế có thể chia thành:
-
+ Tín dụng kinh tế quốc doanh: là những khoản tín dụng cung cấp cho các
doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước, các khoản tín dụng này có thể được thực hiện
trực tiếp giữa Ngân hàng với các doanh nghiệp hoặc theo kế hoạch Nhà nước.
+ Tín dụng kinh tế ngoài quốc doanh: là những khoản tín dụng cung cấp cho
các doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân như các công ty TNHH, công ty cổ phần...
1.2. Rủi ro tín dụng trong hoạt động của các NHTM
1.2.1. Tổng quan về rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng (credit risk), theo khái niệm cơ bản nhất, là khả năng xảy ra
những tổn thất mà ngân hàng phải chịu do khách hàng vay không trả đúng hạn,
không trả hoặc không trả đầy đủ vốn và lãi. (PGS.TS. Phan Thị Thu Hà 2009, tr
154)
Từ đó, có nhiều tiêu chí phản ảnh rủi ro tín dụng của NHTM như:
- Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ.
Tuy nhiên, nếu giả định rằng các đặc điểm chung của danh mục cho vay nhìn
chung vẫn giống nhau trong một giai đoạn hợp lý thì các NHTM có thể dự báo
các khoản thất thoát này với một mức độ tương đối chính xác bằng cách nghiên
cứu các đặc điểm diễn biến của danh mục cho vay theo thời gian.
Các rủi ro không thể dự báo trước: có nhiều sự kiện nằm ngoài tầm kiểm
soát của các NHTM, các cú sốc ngoại sinh do các điều kiện chưa phát sinh tại
thời điểm ký kết một thỏa thuận kinh doanh,...là những nguyên nhân có thể dẫn
đến rủi ro mà các NHTM không thể dự báo trước.
1.2.3. Biểu hiện của rủi ro tín dụng
Khi tiến hành cấp tín dụng, các ngân hàng thương mại đều mong muốn khoản
tín dụng được hoàn trả đầy đủ và đúng thời hạn như đã thoả thuận. Chính vì thế, sau
khi cấp tín dụng cho khách hàng NHTM thực hiện theo dõi, giám sát việc sử dụng
12
vốn vay của họ. Nếu thấy có biểu hiện sử dụng vốn sai mục đích hoặc có sự khác
thường có thể dẫn đến việc không hoàn trả được vốn vay của khách hàng, NHTM
phải tìm biện pháp ngăn ngừa, can thiệp kịp thời. Các biểu hiện thường gặp của rủi
ro tín dụng là:
Thứ nhất, sự chậm trễ bất thường và không có lý do trong việc cung cấp các
báo cáo tài chính và trả nợ theo lịch đã thỏa thuận; hoặc chậm trễ trong việc liên lạc
với cán bộ tín dụng.
Thứ hai, đối với tín dụng doanh nghiệp, bất cứ sự thay đổi bất thường nào
trong khấu hao, kế hoạch trả lương và phụ cấp, giá trị hàng tồn kho, tài khoản thuế
và thu nhập.
Thứ ba, đối với tín dụng doanh nghiệp, việc cơ cấu lại nợ hay hạn chế thanh
toán cổ tức, hoặc có sự thay đổi vị trí xếp hạng tín nhiệm.
Thứ tư, giá cổ phiếu của công ty thay đổi bất lợi.
Thứ năm, thu nhập ròng giảm trong một hay nhiều năm, đặc biệt là các chỉ tiêu
1. Sự lựa chọn khách hàng không đúng
với cấp độ rủi ro của họ.
2. Chính sách cho vay phụ thuộc vào
những sự kiện có thể xảy ra trong tương lai
(ví dụ sự hợp nhất).
3. Có hồ sơ đảo nợ (mỗi lần vay
mới thì nợ gốc giảm xuống).
4. Lãi suất tín dụng cao không bình
thường (để bù đắp rủi ro tín dụng).
5. Tài khoản phải thu hay hàng tồn
kho tăng không bình thường.
3. Cho vay trên cơ sở lời hứa của khách
hàng duy trì số dư tiền gửi lớn.
4. Thiếu kế hoạch rõ ràng để thanh lý
từng khoản tín dụng.
5. Tỷ lệ tín dụng cao cho khách hàng có
trụ sở ngoài lãnh địa hoạt động của ngân
hàng.
6. Tỷ lệ “nợ/vốn chủ sở hữu” tăng
(hệ số đòn bẩy tăng).
7. Thất lạc hồ sơ (đặc biệt là các báo
cáo tài chính của khách hàng).
6. Hồ sơ tín dụng không đầy đủ, thiếu
sót và không đồng bộ.
7. Tỷ lệ cho vay nội bộ cao (cán bộ công
nhân viên, hội đồng quản trị, ban tổng giám
- Xuất phát từ hệ thống thông tin:
Thông tin tín dụng bao gồm thông tin lịch sử, thông tin hiện tại và xu
hướng phát triển của khách hàng trong tương lai (gồm cả thông tin về tài chính và
phi tài chính) và đặc biệt là các thông tin thống kê về các chỉ tiêu trung bình
ngành phục vụ cho việc xếp loại khách hàng vay.
Hiện nay, các NHTM không chỉ quan tâm đến việc hỏi tin về xếp hạng
doanh nghiệp nhằm đánh giá khách hàng có quan hệ tín dụng mà còn sử dụng
thông tin vào những mục đích khác như mở rộng đối tượng cho vay, thực hiện
công tác marketing đến khách hàng truyền thống, khách hàng tiềm năng, và mở
rộng thị phần trên thị trường. Tuy nhiên, một hệ thống thông tin bất cân xứng,
chưa có cơ chế công bố thông tin đầy đủ sẽ là một trở ngại lớn cho các NHTM
định mức tín nhiệm doanh nghiệp. Nếu các NHTM cố gắng chạy theo thành tích,
mở rộng tín dụng trong điều kiện môi trường thông tin bất cân xứng thì sẽ gia
tăng nguy cơ nợ xấu.
- Xuất phát từ hệ thống văn pháp quy:
Về cơ bản, hoạt động tín dụng của các NHTM đã được Luật hóa trong các
văn bản pháp quy của Chính Phủ, NHNN. Tuy nhiên, qua nghiên cứu, phân tích,
đúc kết từ những trường hợp rủi ro trong thực tế hoạt động của các NHTM cho
thấy vẫn còn những “lỗ hỏng” khá nguy hiểm, đó vừa là những nguyên nhân sâu
xa, vừa là những nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến rủi ro tín dụng của các
NHTM.
Hoạt động tín dụng của các NHTM hiện nay chịu sự điều chỉnh, chi phối
của khá nhiều luật, văn bản dưới luật chồng chéo, không rõ ràng, không hợp lý,
thiếu tính chặt chẽ và chưa thật sự hoàn chỉnh.
Chính Phủ thường xuyên ban hành mới các chính sách về thuế, về xuất nhập
15
khẩu, hoặc các quy định về đất đai, nhà ở…Khi một chính sách bị thay đổi đột
1.2.4.2. Nguyên nhân chủ quan từ phía các NHTM
- Xuất phát từ cán bộ quản lý, cán bộ tín dụng:
Đạo đức của cán bộ tín dụng là một trong những yếu tố quan trọng để giải
quyết vấn đề hạn chế rủi ro tín dụng. Một cán bộ hạn chế về năng lực có thể
được bồi dưỡng thêm để nâng cao trình độ, nhưng một cán bộ tha hóa về đạo
đức mà lại giỏi về mặt nghiệp vụ thì thật sự nguy hiểm khi được bố trí trong
công tác tín dụng. Điều này có thể nhận thấy qua các vụ án kinh tế lớn trong thời
gian vừa qua có liên quan đến hoạt động ngân hàng đều có sự tiếp tay của những
cán bộ tín dụng cùng với khách hàng hoặc bản thân cán bộ tín dụng cố ý:
+ Thực hiện trái với qui trình tín dụng.
+ Trực tiếp thu nợ nhưng không nộp mà dùng cho mục đích cá nhân.
+ Lập hồ sơ giả để vay tiền cá nhân, nhờ người vay hộ,…
+ Tẩy xóa, sửa chữa chứng từ có giá để thế chấp vay tiền.
+ Định giá TSBĐ không đúng giá trị thực do thông đồng với khách hàng.
Bên cạnh vấn đề đạo đức, năng lực, trình độ, kinh nghiệm của một bộ phận cán
bộ tín dụng hiện nay chưa đáp ứng nhu cầu công việc. Điều này có thể thấy trong
thực tế qua việc bố trí công việc chưa phù hợp với trình độ chuyên môn, bản thân
từng cán bộ chưa có ý thức tự nâng cao nghiệp vụ. Ngoài ra có thể nhận thấy rõ nét
nhất là công tác phân công cán bộ tín dụng quản lý khách hàng của các NHTM
hiện nay không theo chuyên ngành kinh tế. Cán bộ tín dụng làm việc theo kiểu đa
năng, không chuyên sâu vào một ngành nghề cụ thể nào nên không có nhiều kiến
thức chuyên ngành. Khách hàng khi cung cấp các dự án, có nhiều thông số kỹ thuật
máy móc chuyên ngành hoàn toàn xa lạ với cán bộ tín dụng. Thuê chuyên gia đánh
giá đòi hỏi chi phí cao nên chủ yếu mà các ngân hàng thường làm trong những
trường hợp này là tự tìm hiểu thông tin thông qua sách, báo, tạp chí chuyên ngành,
qua mạng internet. Nếu cán bộ tín dụng không có kiến thức chuyên môn về chuyên
ngành cần thẩm định sẽ đưa ra những đánh giá sai, gây bức xúc cho khách hàng
hoặc ngược lại, khách hàng thông tin sai mà không biết, gây ra những quyết định
sai lầm trong cho vay.
THIẾT LẬP
HỒ SƠ
KHÁCH HÀNG VAY
THẨM ĐỊNH
HỒ SƠ
KHÁCH HÀNG VAY
GIẢI NGÂN VÀ THU NỢ
RA QUYẾT ĐỊNH
VÀ KÝ HỢP ĐỒNG
THANH LÝ HỢP ĐỒNG
VÀ XỬ LÝ TRANH CHẤP
Quy trình
tín dụng nếu
không
phát
18
huy được tác dụng sẽ ảnh hưởng đến chất lượng quản lý rủi ro tín dụng. Trên
thực tế, không phải quy trình tín dụng của các NHTM luôn đảm bảo tính hợp lý và
chặt chẽ, biểu hiện như:
+ Thông tin cần phải thực hiện trong các bước của quy trình không được quy
định chi tiết và đầy đủ, cũng như mối quan hệ giữa các bước chưa được nhận
thức đúng đắn.
vay trả đúng hạn được xem là khách hàng có uy tín, còn đối với khách hàng mới
quan hệ thì chủ yếu dựa vào ý kiến chủ quan của cán bộ tín dụng khi tiếp xúc với
khách hàng, hoặc qua một số thông tin thu thập được. Trong khi đó đối tượng
khách hàng được xem là chiến lược phục vụ của ngân hàng là khu vực kinh tế tư
nhân thì còn quá non trẻ, chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chưa có danh
tiếng trên thị trường, ý thức của doanh nghiệp trong việc xây dựng uy tín và
thương hiệu chưa cao. Các hiệp hội ngành thì chưa phát huy vai trò của mình, chưa
hỗ trợ nhiều cho các doanh nghiệp thành viên phát triển, nhất là việc giới thiệu các
thành viên cho thị trường nên đã dẫn đến việc thu thập thông tin để đánh giá đối
với khu vực kinh tế trên là rất khó khăn.
+ Đánh giá năng lực của khách hàng:
* Về năng lực quản lý: nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng quyết định sự
thành bại của một doanh nghiệp và cũng có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả đồng
vốn của ngân hàng. Việc đánh giá nguồn nhân lực, nhất là bộ phận lãnh đạo của
khách hàng cần dựa trên những cơ sơ khoa học chứ không chỉ dựa trên bằng cấp và
số năm công tác.
* Về năng lực tài chính: công việc đánh giá được thực hiện chủ yếu dựa vào
việc phân tích số liệu trên các báo cáo tài chính do khách hàng cung cấp. Các
NHTM dù biết kiểm toán báo cáo tài chính là tốt nhưng cũng không dám đề nghị
khách hàng thực hiện vì sợ mất khách hàng. Từ những số liệu chưa thực sự tin cậy
nên việc phân tích báo cáo tài chính sẽ không phản ánh đúng thực chất năng lực tài
chính của khách hàng.
Đánh giá hiệu quả phương án/dự án vay:
Đánh giá hiệu quả phương án/dự án vay là khâu quan trọng, ảnh hưởng lớn
nhất đến khả năng thu hồi vốn của các NHTM. Tuy nhiên, do có nhiều nhân tố
chủ quan và khách quan tác động nên đã dẫn đến chất lượng đánh giá phương
án/dự án vay chưa thật sự hiệu quả. Khi nhận một dự án, cán bộ thẩm định sẽ phải
20
21
Đối với vấn đề bảo hiểm tài sản, cán bộ tín dụng thường không chú ý đôn
đốc, kiểm tra việc khách hàng có mua bảo hiểm đúng định kỳ để đến khi phương
tiện bị tai nạn, việc trục vớt, sửa chữa phải bỏ thêm rất nhiều vốn, gây khó khăn
lâu dài về khả năng thanh toán khoản nợ vay…
Thông tin bất cân xứng về giá trị thực của TSBĐ giữa khách hàng và
NHTM cũng là vấn đề cần được quan tâm. Khi thế chấp, cầm cố tài sản chỉ có
khách hàng biết rõ về hiện trạng của tài sản như sự hỏng hóc trong các dây
chuyền sản xuất, máy móc, thiết bị, hoặc ngôi nhà rất khó bán do một số đặc
điểm đặc biệt. Trong khi đó trình độ của cán bộ thường không đáp ứng đầy đủ
chuyên môn trong tất cả các lĩnh vực nên không thể đánh giá được chính xác
hiện trạng của máy móc thiết bị cũng như nắm được những thông tin không tốt về
đất đai, nhà ở; điều này ảnh hưởng rất lớn đến giá trị mua bán của tài sản. Vì vậy,
khi xảy ra rủi ro, việc phát mãi tài sản để thu hồi nợ gặp không ít khó khăn.
Cuối cùng là các vấn đề liên quan đến quá trình xử lý, phát mãi TSBĐ đã gây
cản trở không ít cho các NHTM như:
* Việc các ngân hàng phải đối mặt với những khó khăn trong thời gian trước
khi bán đấu giá tài sản.
* Trong việc phát mãi TSBĐ, các NHTM chưa có thực quyền trong việc bán,
quản lý và khai thác tài sản thuộc quyền tiếp quản.
* Sự phối hợp giữa cơ quan công an, viện kiểm soát, tòa án, các sở, ban,
ngành, chính quyền địa phương trong việc xử lý TSBĐ còn nhiều hạn chế, chưa
đồng bộ, chặt chẽ và kịp thời.
* Việc xác định quyền sở hữu thực sự của khách hàng đối với tài sản cũng là
vấn đề khó khăn.
* Vướng mắc khi NHTM nhận lại TSBĐ từ cơ quan thi hành án.
* Thủ tục chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng cho người mua, người nhận
đúng với bản chất của nó.
1.2.4.3. Nguyên nhân từ phía khách hàng đi vay
- Đối với khách hàng là doanh nghiệp:
Trong hoạt động kinh doanh, ngoài nguồn vốn tự có của mình, các doanh
nghiệp luôn phải sử dụng một nguồn vốn bên ngoài, đó chủ yếu là vốn vay từ
các tổ chức tín dụng, đặc biệt là từ các NHTM. Đây là nhu cầu vay vốn rất cần
23
thiết nhằm đảm bảo cho các doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ hoạt động sản xuất,
kinh doanh một cách ổn định. Tùy đặc điểm và tính chất hoạt động của từng loại
hình doanh nghiệp, việc sử dụng vốn vay của các NHTM cũng có sự khác nhau.
Rủi ro tín dụng xuất phát từ phía khách hàng là doanh nghiệp thường do:
+ Mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng không được thực hiện đúng.
+ Khách hàng không thật sự nỗ lực trong việc sử dụng vốn vay có hiệu quả.
+ Khách hàng chưa có thiện chí trong vấn đề cung cấp thông tin đầy đủ và
chính xác cho ngân hàng để phục vụ cho việc cấp tín dụng.
+ Một bộ phận khách hàng không có thiện chí trong việc trả nợ.
+ Công tác quản lý, điều hành của một số các doanh nghiệp chưa thật sự hiệu
quả.
+ Sự hạn chế của đội ngũ nhân viên của doanh nghiệp.
+ Tình hình tài chính của hầu hết các doanh nghiệp thiếu sự minh bạch, trung
thực, chưa đáp ứng yêu cầu.
+ Công nghệ, quy trình sản xuất không tạo ra được những sản phẩm mang tính
cạnh tranh.
+ Sự tác động của các nhân tố khách quan như môi trường pháp lý, môi trường
kinh tế - xã hội làm cho các khách hàng gặp nhiều khó khăn trong sản xuất, kinh
doanh.
- Đối với khách hàng là cá nhân:
Cuối cùng là do sự ổn định của nền kinh tế quốc gia, khi chính sách quản lý
kinh tế vẫn có những thay đổi đột ngột, hành lang pháp lý chưa thật sự an toàn,
điều chỉnh quy hoạch các ngành, các vùng chưa phù hợp…
Như vậy, rủi ro tín dụng có thể phát sinh do rất nhiều nguyên nhân từ các
nguyên nhân khách quan do nền kinh tế và các cơ quan quản lý Nhà nước đến
các nguyên nhân chủ quan của chính bản thân các NHTM, và các nguyên nhân từ
phía khách hàng vay vốn,... Các biện pháp phòng chống rủi ro có thể nằm trong
tầm tay của các NHTM nhưng cũng có những biện pháp vượt ngoài khả năng
của riêng từng ngân hàng. Tuy nhiên, trong phạm vi tầm tay của các NHTM, rủi
ro tín dụng phụ thuộc vào năng lực của bộ phận tín dụng trong việc phát hiện và
25
hạn chế rủi ro từ lúc xem xét quyết định cho vay cũng như trong suốt thời gian
vay. Năng lực cấp tín dụng phụ thuộc vào chuyên môn của cán bộ quản lý, cán bộ
tín dụng và các nguồn lực của ngân hàng về nhân sự cũng như về cơ sở vật chất.
Do vậy biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng sâu sắc nhất vẫn là các biện pháp liên
quan đến việc đào tạo, bố trí cán bộ và cơ chế kiểm tra, giám sát hành vi của cán
bộ trong quá trình xử lý công việc.
1.2.5. Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng
1.2.5.1. Ảnh hưởng đối với hoạt động kinh doanh của các NHTM
Khi gặp rủi ro tín dụng, các NHTM chẳng những không thu hồi được vốn tín
dụng đã cấp và lãi từ hoạt động cho vay, mà còn phải trả vốn và lãi cho khoản
tiền huy động khi đến hạn, điều này làm cho các ngân hàng mất cân đối trong
việc thu chi. Hay nói cách khác, các ngân hàng rơi vào tình trạng mất khả năng
thanh khoản, mất lòng tin của người gửi tiền, từ đó ảnh hưởng đến uy tín của cả
ngân hàng. Và không thu được nợ, vòng quay vốn tín dụng của các NHTM sẽ
giảm từ đó làm cho hoạt động kinh doanh của các ngân hàng không đạt hiệu quả
như mong muốn.