NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN CHO NGƯỜI DÂN VỀ Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG VIỆC THU GOM, XỬ LÝ RÁC THẢI TẠI XÃ NAM TOÀN, HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH GIAI ĐOẠN 2016 2020 - Pdf 34

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

ĐỀ ÁN
NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN
CHO NGƯỜI DÂN VỀ Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG VIỆC
THU GOM, XỬ LÝ RÁC THẢI TẠI XÃ NAM TOÀN, HUYỆN NAM
TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH GIAI ĐOẠN 2016 - 2020

Người thực hiện:
Lớp:
Chức vụ:
Đơn vị công tác:

Hà Nội, tháng

năm


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HĐND
UBND
HLHPN
HTX
VSMT
ONMT
BVMT

Hội đồng nhân dân
Ủy ban nhân dân
Hội Liên hiệp phụ nữ
Hợp tác xã

Mục tiêu cụ thể
Giới hạn của đề án
NỘI DUNG
Cơ sở xây dựng đề án
Cơ sở khoa học
Cơ sở chính trị, pháp lý
Cơ sở thực tiễn
Nội dung thực hiện đề án
Bối cảnh thực hiện đề án

1
1
3
3
3
4
4
4
4
8
10
13
13

2.2
2.3
2.4
3
3.1
3.2

40

C

án
KIẾN NGHỊ, KẾT LUẬN

1

Kiến nghị

42

2

Kết luận

42

TÀI LIỆU THAM KHẢO

44

PHỤ LỤC

42


1


trạm y tế, cơ quan hành chính. Các loại rác thải bước đầu đã được phân loại,
trong đó các loại rác thải có thể bán được như giấy, bìa các tông, kim loại,
nhựa... được thu gom, bán cho cơ sở thu mua phế loại, lượng rác thải hữu cơ
như thức ăn thừa, sản phẩm thừa được tận dụng trong chăn nuôi. Còn các loại


2
rác thải khác không tận dụng được, hầu như không được phân loại mà để chung
với nhau. Đáng chú ý là những loại rác thải này bị vứt bừa bãi ở các vùng nông
thôn, một số được người dân thu gom và xử lí theo phương thức chôn lấp, một
số được thu gom lại để công nhân môi trường đưa đến điểm tập kết xử lí theo
đúng qui định.
Hiện nay, có một thực tế dễ dàng nhận thấy đó là ở hầu hết các vùng nông
thôn, chăn nuôi đang là thế mạnh để nâng cao thu nhập cho cư dân nông thôn.
Kèm theo đó, thì cũng thấy rằng tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp, công
tác xử lí gia súc, gia cầm chết do dịch bệnh chưa được người dân quan tâm đúng
mức. Nhiều nơi, xác động vật vứt bừa bãi ra ao, hồ, bụi cây...Việc thu gom rác
thải không thường xuyên, không thực hiện phân loại rác thải hữu cơ, vô cơ tại
nguồn. Bên cạnh đó là việc xả thải rác tràn lan ra đường, đốt rác gây khói bụi
làm ô nhiễm những khu dân cư. Thực trạng trên gây ô nhiễm nguồn nước, không
khí, làm tăng nguy cơ phát tán dịch bệnh, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của
người dân ở khu vực nông thôn.
Thực hiện chủ trương phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước,
thời gian qua dưới sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Huyện ủy,
UBND huyện, kinh tế của huyện Nam Trực nói chung và xã Nam Toàn nói
riêng đã có những chuyển biến tích cực. Đời sống của nhân dân khu vực nông
thôn ngày một cải thiện và nâng lên đáng kể. Bên cạnh những lợi ích về kinh tế
đem lại, khu vực nông thôn đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi trường
do rác thải không được xử lý gây ra. Rác thải phát sinh ngày càng đa dạng về số
lượng và chủng loại, xuất hiện ngày càng nhiều loại khó xử lý, trong khi công

môi trường trong việc thu gom, xử lý rác thải tại xã Nam Toàn, huyện Nam
Trực, tỉnh Nam Định nhằm thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của người
dân trong việc bảo vệ môi trường, xây dựng xã Nam Toàn trở thành một xã sinh
thái, có môi trường tốt, trong lành, có sự hài hòa giữa phát triển kinh tế và đảm
bảo môi trường bền vững.
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Thay đổi ý thức của người dân về hình thành mạng lưới thu gom, vận
chuyển rác thải nông thôn thông qua việc thành lập tổ hợp tác VSMT, tổ tự quản
VSMT do địa phương quản lí.
- Xây dựng cơ chế tài chính và nhu cầu đầu tư trang thiết bị thực hiện
công tác thu gom, vận chuyển, xử lí rác thải nông thôn. Tỉ lệ thu phí vệ sinh môi
trường trên địa bàn xã đạt 100% số hộ dân.
- Đến năm 2020, cơ bản rác thải trong khu dân cư được thu gom, phân
loại tại nguồn. Duy trì hoạt động hiệu quả mô hình thu gom, vận chuyển, xử lí
rác thải góp phần cùng với cả huyện hoàn thành mục tiêu đến năm 2020 tỉ lệ thu
gom, xử lí rác thải nông thôn trên địa bàn huyện đạt 100%.


4
- Xây dựng con người trên quê hương Nam Toàn trở thành những con
người, những công dân luôn hướng đến hoạt động bảo vệ môi trường, để họ
không chỉ là những người thực hiện tốt việc thu gom, xử lý, phân loại rác thải tốt
mà còn là những tuyên truyền viên trong việc bảo vệ môi trường ở bất cứ nơi
đâu mà họ sinh sống và đi tới.
3. Giới hạn của đề án:
- Về đối tượng của đề án: Hiệu quả công tác tuyên truyền cho người dân
về ý thức bảo vệ môi trường trong việc thu gom xử lý rác thải tại xã Nam Toàn,
huyện Nam Trực,tỉnh Nam Định.
- Về không gian thực hiện đề án: Xã cẩm Bình- Cẩm Xuyên hà Tĩnh
- Thời gian thực hiện đề án: từ 2015- 2020

môi trường…. Người có ý thức bảo vệ môi trường kém là người có nhận thức
sai hoặc không nhận thức được vai trò của việc bảo vệ môi trường; có thái độ
tiêu cực đối với việc bảo vệ môi trường; và có hành vi gây mất vệ sinh, môi
trường trong quá trình sống, sinh hoạt và sản xuất…
* Rác thải ở xã khu vực nông thôn bao gồm những loại như: Rác thải
sinh hoạt; rác thải chăn nuôi; sản xuất nông nghiệp; các loại rác thải hữu cơ và
vô cơ; rác thải có thể phân hủy và không phân hủy được; Một số chất thải có thể
tái chế thành những chất có ích cho sản xuất và đời sống. Chúng tôi có danh
mục các loại chất thải tái chế như sau:
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9

Loại chất thải
Lon nhôm, nhôm các loại
Nhựa các loại, túi nylon
Sắt vụn
Giấy báo, giấy tập, bìa carton
Nhớt cặn
Thuỷ tinh
Sắt
Đồng
Cao su

sản xuất của mình. Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên
nhiên tới con người và sinh vật trên trái đất. Môi trường là nơi lưu trữ và cung
cấp thông tin cho con người.
Bảo vệ môi trường gắn liền với sự phát triển bền vững đang là vấn đề
được đặt ra trên toàn thế giới, đặc biệt đối với các quốc gia đang phát triển,
trong đó có Việt Nam.
Trong thực tế việc giáo dục kiến thức về môi trường, nâng cao nhận thức,
hiểu biết về môi trường đã được quan tâm từ rất sớm. Từ năm 1987, tại Hội nghị
về môi trường ở Moscow do UNEP và UNESCO đồng tổ chức, đã đưa ra kết
luận về tầm quan trọng của giáo dục môi trường: “Nếu không nâng cao được sự
hiểu biết của công chúng về những mối quan hệ mật thiết giữa chất lượng môi
trường với quá trình cung ứng liên tục các nhu cầu ngày càng tăng của họ, thì
sau này sẽ khó làm giảm bớt được những mối nguy cơ về môi trường ở các địa
phương cũng như trên toàn thế giới. Bởi vì, hành động của con người tùy thuộc
vào động cơ của họ và động cơ này lại tùy thuộc vào chính nhận thức và trình độ
hiểu biết của họ. Do đó, giáo dục môi trường là một phương tiện không thể
thiếu để giúp mọi người hiểu biết về môi trường”.


7
Hội nghị quốc tế về giáo dục môi trường của Liên hợp quốc tổ chức tại
Tbilisi vào năm 1977 đã đưa ra khái niệm: “Giáo dục môi trường có mục đích
làm cho cá nhân và các cộng đồng hiểu được bản chất phức tạp của môi trường
tự nhiên và môi trường nhân tạo là kết quả tương tác của nhiều nhân tố sinh
học, lý học, xã hội, kinh tế và văn hóa; đem lại cho họ kiến thức, nhận thức về
giá trị, thái độ và kỹ năng thực hành để họ tham gia một cách có trách nhiệm và
hiệu quả trong phòng ngừa và giải quyết các vấn đề môi trường và quản lý chất
lượng môi trường”.
Khi tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nhận thức về môi trường
cho các đối tượng người dân để mỗi người nhận thức được ý nghĩa, tầm quan

- Kỉ năng
- Dự báo các
tác động
- Tổ chức hành
động

Sơ đồ 1: Ba mục tiêu của giáo dục môi trường
Khi nhận thức về công tác bảo vệ môi trường được nâng lên thì người dân
sẽ có tri thức, kĩ năng, phương pháp hành động để nâng cao năng lực trong việc
lựa chọn phong cách sống thích hợp với việc sử dụng một cách hợp lý và


8
khôn ngoan các nguồn tài nguyên thiên nhiên, để họ có thể tham gia hiệu quả
vào việc phòng ngừa và giải quyết các vấn đề môi trường cụ thể nơi họ ở và làm
việc. Những thông tin, kiến thức về môi trường được tích lũy trong mỗi người sẽ
nuôi dưỡng và nâng cao ý thức và tinh thần trách nhiệm về bảo vệ môi trường
của chính họ, tạo nên những động cơ mạnh mẽ, những cam kết vững chắc hướng
về một môi trường trong lành và phát triển trong tương lai. Bởi vì, mỗi cá nhân
nếu đều có ý thức đóng góp những hành động dù nhỏ nhưng tích cực góp phần
tạo nên những thay đổi lớn tốt đẹp hơn cho môi trường.
1.2 Cơ sở chính trị, pháp lý
Kể từ khi Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15 tháng 01
năm 2004 về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước thì ở Hà Tĩnh nhận thức và trách nhiệm của cấp ủy, chính
quyền các cấp, các ngành và nhân dân về công tác bảo vệ môi trường có nhiều
chuyển biến rõ rệt.
Việc chỉ đạo thực hiện lồng ghép công tác bảo vệ môi trường vào thực
hiện nếp sống văn minh, văn hóa nơi công cộng có hiệu quả rõ nét. Một số tổ
chức, cá nhân tham gia tích cực, đầu tư phát triển vào lĩnh vực môi trường. Tình

- Nghị quyết của Bộ Chính trị số 41-NQ/TW ngày 15 tháng 01 năm 2004
về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước.
- Chỉ thị số 17/2008/CT-TTg, Chỉ thị Về một số giải pháp cấp bách đẩy
mạnh công tác xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết
định số 64/2003/QĐ-TTg ngày 22 tháng 4 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ.
- Chỉ thị số 24/2008/CT-TTg, Chỉ thị về việc tăng cường công tác phòng,
chống tội phạm và vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trong thời kỳ hội
nhập.
- Chỉ thị số 29-CT/TW, Chỉ thị của Ban bí thư về tiếp tục đẩy mạnh thực
hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ chính trị (Khóa IX) "Về bảo vệ môi
trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước".
- Nghị quyết số 27/NQ-CP, Nghị quyết Về một số giải pháp cấp bách
trong công tác quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường.
- Quyết định số 34/2005/QĐ-TTg, Quyết định Ban hành chương trình
hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 41/NQ-TW ngày 15 tháng 11
năm 2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ
Về việc phê duyệt "Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng".
- Luật số 52/2005/QH11, Luật Bảo vệ môi trường


10
- Những năm qua, cùng với các nghị quyết về phát triển kinh tế, xã hội,
HĐND xã Nam Toàn cũng đã quan tâm, đưa ra nhiều chủ trương, nghị quyết về
tăng cường công tác lãnh đạo trên lĩnh vực môi trường.
1.3. Cơ sở thực tiễn
1.3.1. Vấn đề thu gom, xử lý rác thải của huyện Nam Trực

11
trung theo chủ trương xây dựng nông thôn mới, đời sống nhân dân được cải
thiện dẫn đến lượng chất thải, nhất là chất thải rắn phát sinh trên các xã, thị trấn
ngày càng tăng. Theo số liệu thống kê, mức tính lượng rác thải phát sinh trên
đầu người và dự báo lượng rác thải rắn phát sinh trong những năm tới như sau:
năm 2015 số lượng rác phát sinh là 22.774 tấn trong đó lượng rác được phân
loại và tự xử lý là 7.971 tấn (35%), lượng rác cần thu gom và xử lý là 14.803;
đến năm 2020 số lượng rác phát sinh là 27.812 tấn trong đó lượng rác được phân
loại và tự xử lý là 11.125 tấn (40%), lượng rác cần thu gom và xử lý là 16.687
tấn.
Trong khi đó, từ tình hình thực tế về quy mô của các bãi chôn lấp rác thải,
cùng với tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, tốc độ gia tăng dân số nhu cầu của xã
hội về một môi trường xanh, sạch đang đòi hỏi các cấp uỷ, chính quyền quan
tâm chỉ đạo thực hiện.
1.3.3. Yêu cầu đặt ra đối với công tác bảo vệ môi trường của xã Cẩm
Bình
- Đối với xã Nam Toàn, do sự phát triển nhanh của nghề trồng hoa, cây
cảnh, cây bóng mát, trồng rau xanh và chăn nuôi nên công tác BVMT đã được
Đảng ủy, UBND xã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện. Về trồng trọt, đến
nay, gần ½ diện tích đất nông nghiệp đã được người dân chuyển đổi trồng hoa,
cây cảnh, cây bóng mát. Các diện tích còn lại, đặc biệt là các vùng xen kẹp trồng
lúa không thuận lợi, bà con nông dân chuyển đổi sang các mô hình gia trại, trang
trại hiệu quả. Hiện nay, toàn xã có …. trang trại, … gia trai với quy mô….
- Cùng với việc phát triển sản xuất, các hoạt động thương mại, dịch vụ
ngày một phát triển, bộ mặt nông thôi thay đổi rõ rệt… Hiện nay có 152 hộ
buôn bán cố định trong đó có 58 hộ ngoài xã, con em Nam Toàn đi làm ăn xã về
đầu tư mở ốt, quán tại xã. Có nhiều hộ trở thành đại lý của nhiều sản phẩm hàng
hóa cung cấp cho hệ thống bán buôn, bán lẻ trong cụm. Chính điều đó, đặt ra
những thách thức đối với công tác môi trường.
- Yêu cầu của công cuộc xây dựng nông thôn mới đòi hỏi phải làm tốt

huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định về vệ sinh môi trường theo chuẩn nông
thôn mới.
2. Nội dung thực hiện của Đề án
2.1. Bối cảnh thực hiện đề án và những yếu tố ảnh hưởng đến việc
thực hiện đề án.
2.1.1. Bối cảnh thực hiện đề án
Nam Toàn là xã nông thôn, nằm ở phía Bắc huyện Nam Trực, tiếp giáp
phía Nam thành phố Nam Định. Với diện tích tự nhiên 1.086 ha, có 1.357 hộ và
4.852 nhân khẩu, có quốc lộ 21, quốc lộ 10 (đường Lê Đức Thọ), tỉnh lộ 490, đi
qua. Trong sự nghiệp đổi mới, Đảng bộ và nhân dân Nam Toàn đang nỗ lực,
phấn đấu hoàn thành xây dựng xã đạt chuẩn nông thôn mới vào năm 2017. Đây


13
là nhiệm vụ hết sực nặng nề đòi hỏi cả hệ thống chính trị của xã cùng tất cả mọi
người dân đồng thuận, chung sức đồng lòng mới có thể thực hiện được. Hiện
nay xã Nam Toàn đã đạt được …. / 19 tiêu chí, …. Tiêu chí còn lại đã xây dựng
kế hoạch, lộ trình để quyết liệt thực hiện.
2.1.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện đề án
- Yếu tố khách quan ảnh hưởng đến việc thực hiện Đề án:
Cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội của nước ta, trong những năm gần
đây các ngành sản xuất kinh doanh dịch vụ ở các đô thị và khu công nghiệp
được mở rộng và phát triển nhanh chóng, một mặt đóng góp tích cực cho sự phát
triển của đất nước, mặt khác tạo ra một lượng lớn chất thải rắn bao gồm: chất
thảo sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải y tế.
Theo thống kê, bình quân mỗi ngày, lượng lượng rác thải sinh hoạt phát
sinh từ các gia đình, khu dân cư trên địa bàn tỉnh khoảng 1.141 tấn/ngày (tương
đương 416.465 tấn/năm). Hiện nay, tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt vùng
đô thị 90,1%, vùng nông thôn 37,6%, tổng lượng rác sinh hoạt thu gom được
trên toàn tỉnh khoảng 530 tấn/ngày. Trong đó, tại các vùng nông thôn, ti lệ thu

cho người dân trong việc thu gom, xử lí rác thải, cuối năm 2011, xã đã thành lập
đã thành lập tổ thu gom rác thải, đã bố trí nơi tập kết rác thải. Công tác thu phí
vệ sinh môi trường đã được triển khai tương đối hiệu quả. Song song với việc
thu gom, chôn lấp rác thải, tổ thu gom đã thực hiện thu phí được gần 80% hộ
dân trên địa bàn với mức thu là 10 ngàn đồng/hộ/tháng nhằm duy trì hoạt động
của các Tổ, đã góp phần khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường do rác thải
gây ra.
+ Công tác tập huấn, phổ biến các nội dung về bảo vệ môi trường đã
được cấp ủy, chính quyền chỉ đạo sâu sát. Vì vậy, các tổ chức, ban, ngành đã
chủ động trong việc mở các lớp tập huấn nhằm trang bị những kiến thức cơ bản
về công tác môi trường đến tận từng người dân, đến các hội viên, đoàn viên ở
các tổ chức hội. Đặc biệt, trong 2 năm 2011 và 2012 hoạt động tập huấn được
tiến hành có hiệu quả, trung bình mỗi năm các tổ chức hội và đoàn thể đã làm tốt
công tác phối hợp đê mở từ 2 lớp tập huấn trở lên.
Ngoài những lớp tập huấn thì trong những buổi họp thôn, những buổi sinh
hoạt của các tổ chức hội, đoàn thể, việc phổ biến, tuyên truyền nội dung về bảo
vệ môi trường, về sự cần thiết trong thu gom, xử lí rác thải đã được lồng ghép,
được kết hợp để tuyên truyền. Vì vậy, số người được tiếp cận với những nội
dung về công tác bảo vệ môi trường ngày càng cao. Từ đó, tạo nên một khối
thống nhất để cùng nhau hành động vì một môi trường an lành, không ô nhiễm
bởi các nguồn rác thải.
+ Tổ chức tuyền truyền sâu rộng nâng cao nhận thức cho cán bộ và nhân
dân về tầm quan trọng và sự cần thiết của công tác bảo vệ môi trường, hoạt
động thu gom, xử lý rác thải dựa vào cộng đồng để góp phần cải thiện tình


15
trạng vệ sinh môi trường trên địa bàn xã nói chung và các thôn nói riêng. Đảm
bảo sức khoẻ cộng đồng và góp phần vào sự phát triển bền vững. Việc thực hiện
tuyên truyền trên hệ thống truyền thanh của xã đã được thực hiện nghiêm túc, có


16
- Giáo dục, đào tạo: Xây dựng kế hoạch, chương trình, nội dung giáo
dục về bảo vệ môi trường, các tài liệu liên quan đến chất thải, nhất là chất
thải rắn để tổ chức tuyên truyền, giáo dục trong các cấp học.
- Trạm y tế xã: Thực hiện tốt việc quản lí, phân loại, thu gom và xử lí
rác thải y tế theo qui định. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với các
cán bộ, nhân viên y tế trong việc thực hiện nghiêm túc các qui định về quản lí
và xử lí rác thải y tế.
+ Tại xã Nam Toàn, công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn mặc dù đã
được quan tâm nhưng vẫn còn những tồn tại. Đặc biệt là rác thải sinh hoạt chưa
được thu gom và xử lí triệt để xảy ra ở một số xóm, hộ gia đình; ý thức của
người dân trong công tác giữ gìn vệ sinh môi trường còn thấp, còn xảy ra tình
trạng vứt rác, xả nước thải sinh hoạt, chăn nuôi chưa qua xử lý ra môi trường.
Nhận thức về bảo vệ môi trường trong các cấp, các ngành và nhân dân đã
được nâng lên; mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường đã từng
bước được hạn chế; công tác bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ đa dạng sinh học đã
đạt được những tiến bộ rõ rệt.
Làm cho mỗi người dân trong cộng đồng dân cư hiểu được, nhận thức
được tầm quan trọng của yếu tố môi trường trong việc sinh sống, sản xuất, sinh
hoạt hàng ngày. Làm cho mọi người nhận thức một cách tự giác về vị trí, vai trò,
mỗi quan hệ mật thiết giữa tự nhiên – con người – xã hội. Tình trạng ô nhiễm
môi trường trên địa bàn xã Nam Toàn sẽ sớm được cải thiện được nếu mỗi
người dân biết góp sức mình, chung tay bảo vệ môi trường. Vì vậy, cần chung
tay bảo vệ môi trường và tránh gây ô nhiễm. Vì một tương lai xanh, sạch, đẹp và
vì cuộc sống của chính chúng ta cũng như của các thế hệ mai sau.
Các tổ chức hội như: hội nông dân, hội cựu chiến binh, hội phụ nữ, hội
người cao tuổi, đoàn thanh niên đã triển khai nhiều hoạt động nhằm tăng
cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của nhân dân thực hiện nếp
sống văn minh, không đổ rác và vứt rác bừa bãi ra khu vực công cộng. Tiếp

nhằm thay đổi những thói quen xấu, ảnh hưởng đến môi trường.
Nhìn chung, những nhiệm vụ trong công tác môi trường, trong thực hiện
đề án: “Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền cho người dân về ý thức bảo vệ
môi trường trong việc thu gom, xử lý rác thải tại xã Nam Toàn giai đoạn 2016 –
2020” cần phải được triển khai một các đồng bộ, kịp thời và tích cực mới đảm
bảo được các yếu tố về môi trường, nhất là trong xây dựng nông thôn mới.
Việc thu gom rác thải đã được xã Nam Toàn quan tâm. Năm 2015 có
khoảng 70 % rác thải đã được hợp tác xã thu gom đưa đi xử lí theo đúng qui
định. Nhưng điều đáng nói là do nhiều yếu tố liên quan nên thực trạng thu gom
rác thải hiện nay của xã là: nhân dân thu gom rác thải của gia đình mình rồi
mang ra bãi tập kết ở ven đường để tổ thu gom 2 lần/tuần vận chuyển ra bãi xử
lý, chôn lấp. Điều đó, khiến cho rác thải bị tập kết lâu ngày, bốc mùi hôi thối
khiến cho người dân đi qua phải nín thở và người dân ở gần những bãi tập kết


18
rác này rất khó chịu. Đó là số rác được thu gom xử lí. Còn lại lượng rác không
được thu gom thì người dân đổ bừa bãi ở các gốc cây, đầu đường, góc hẻm, các
dòng sông, ao hồ hoặc rác thải lộ thiên mà không được xử lí. Đây sẽ là nơi nuôi
dưỡng ruồi nhặng, dán chuột...là nguyên nhân trực tiếp lây truyền mầm bệnh,
mất mỹ quan đường làng, ngõ xóm.
Trong quá trình thực hiện công tác vệ sinh môi trường, vẫn còn bộc lộ
một số tồn tại đó là việc thu go, xử lí rác thải chưa được thực hiện đồng bọ, công
tác thu gom chưa được triệt để, tình trạng vứt rác và tập kết bừa bãi tại một số
trục đường giao thông, sông suối, kênh mương hoặc xử lí bằng hình thức đốt thủ
công còn khá nhiều.
Một bộ phận nhân dân còn chưa tự giác và có ý thức phân loại, thu gom
tác và đóng nộp vệ sinh môi trường.
+ Nguyên nhân chính là do ý thức trách nhiệm và nhận thức của người
dân về công tác thu gom, xử lý rác thải còn nhiều hạn chế. Mặt khác việc phân

đối với các loại bao bì chứa đựng hóa chất sau khi sử dụng.
Năm là, làm tốt công tác xã hội hóa việc bảo vệ môi trường…. Hình thành
nếp sống hợp vệ sinh gắn với việc khôi phục phong trào xây dựng “ba công trình
vệ sinh” của từng hộ gia đình phù hợp với tình hình thực tế. Mỗi người dân có ý
thức bảo vệ môi trường, bảo đảm hài hòa giữa lợi ích kinh tế với công tác môi
trường.
2.4. Các giải pháp, biện pháp thực hiện đề án
2.4.1. Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và trách
nhiệm thu gom, xử lí rác thải bảo vệ môi trường cho người dân
Để có sự thành đổi về hành vi thì nhận thức là yếu tố mang tính nền tảng
và có tính chất quyết định. Vì vậy, để người chung tay trong công tác bảo vệ
môi trường thì việc tuyên truyền, giáo dục nhận thức cho mỗi người về trách
nhiệm bảo vệ môi trường là điều hết sức cần thiết. Một trong những cách tuyên
truyền, giáo dục hiệu quả nhất là giáo dục kiến thức về môi trường nhằm hướng
đối tượng giáo dục có hành động bảo vệ môi trường. Nhận thức được tầm quan
trọng của việc giáo dục môi trường trong công tác bảo vệ môi trường, Đảng và
Nhà nước đã có những chính sách, những chương trình hành động cụ thể, và đã
đạt được những thành tựu đáng kể. Các chương trình giáo dục môi trường bao
gồm cả chính khóa và ngoại khóa đã được triển khai tới tất cả các cấp học trong
hệ thống giáo dục của Việt Nam. Các chiến dịch nâng cao nhận thức cộng đồng,
và vận động quần chúng cũng như các tổ chức xã hội khác tham gia vào việc
bảo vệ mội trường tiến hành hàng năm. Hệ thống thông tin và dữ liệu môi
trường cũng đã được xây dựng và ngày càng hoàn thiện hơn.
Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, phổ biến chính sách, chủ trương,
pháp luật và các thông tin về môi trường và sự phát triển bền vững cho mọi
người, đặc biệt là trong thanh niên, thiếu niên, đưa nội dung giáo dục môi
trường vào các chương trình giáo dục, vào các buổi họp thôn, xóm; các buổi


20

và hiệu quả bằng việc đầu tư vào con người thông qua công tác giáo dục môi
trường.
Việc nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền cho người dân về ý thức
bảo vệ môi trường trong việc thu gom, xử lý rác thải phải được thực hiện thường


21
xuyên, liên tục với nhiều hình thức khác nhau. Không chỉ là trong các buổi họp,
trong những lần tiếp cúc trực tiếp của cán bộ với người dân, không chỉ là những
kiến thức trong sách vở mà còn được thực hiện thông qua các phương tiện thông
tin đại chúng, đặc biệt là phát huy tối đa hiệu quả của công tác truyền thanh cơ
sở.
Tăng cường kiểm soát ô nhiễm tại nguồn; chú trọng quản lí chất thải, nhất
là chất thải nguy hại trong sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp cũng như
các dịch vụ y tế. Kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng phân hóa học, thuốc bảo vệ
thực vật, hóa chất bảo quản nông sản, thức ăn và thuốc phòng trừ dịch bệnh
trong nuôi trồng thủy sản.
Chú trọng bảo vệ môi trường không khí, đặc biệt là khi dân cư tập trung.
Tích cực góp phần hạn chế tác động của sự biến đổi khí hậu.
Ưu tiên phục hồi môi trường các khu vực đã bị ô nhiễm nghiêm trọng, các
hệ sinh thái đã bị suy thoái nặng.
Giải quyết cơ bản tình trạng ô nhiễm nguồn nước và ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng trong các khu dân cư do chất thải trong sản xuất công nghiệp, tiểu
thủ công nghiệp, do chăn nuôi xả ra môi trường.
Hình thành cho được ý thức giữ gìn vệ sinh chung, xóa bỏ các phong tục,
tập tục lạc hậu, các thói quen, nếp sống không văn minh, không hượp vệ sinh.
Xây dựng công sở, gia đình, thôn, khu dân cư sạch, đẹp đáp ứng các yêu
cầu về vệ sinh môi trường.
2.4.2 Tăng cường công tác quản lý của Nhà nước về thu gom, xử lí rác
thải bảo vệ môi trường.

cần thiết của tổ chức đó. Vì vậy, việc tập huấn, giáp dục thông qua đào tạo cập
nhật môi trường là rất cần thiết để những người làm công tác quản lí phải có
trách nhiệm với môi trường mỗi khi cầm bút phê duyệt một nội dung phát triển,
một dự án, công trình xây dựng hay một quyết sách có liên quan đến yếu tố môi
trường.
Để hạn chế những tồn tại trong công tác môi trường và nâng cao nhận
thức của người dân trong việc thu gom, xử lí rác thải thì rõ ràng việc hoàn thiện
hơn nữa hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về bảo vệ môi trường là điều hết
sức cần thiết. Tiếp tục kiện toàn và tăng cường năng lực tổ chức bộ máy, bảo
đảm thực hiện đảm thực hiện hiệu quả công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi
trường từ trung ương đến cơ sở. Xác định rõ trách nhiệm và phân công, phân
cấp hợp lý nhiệm vụ bảo vệ môi trường giữa các ngành, các cấp. Xây dựng và
phát triển các cơ chế giải quyết cấn đề môi trường liên ngành, liên vùng. Chú
trọng xây dựng năng lực ứng phó sự cố môi trường.
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát; quy định và áp dụng
các chế tài cần thiết để xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật về bảo vệ môi
trường. Sớm xây dựng, ban hành qui định giải quyết bồi thường thiệt hại về môi
trường. Phát huy vai trò, trách nhiệm của các cấp, các ngành, các hộ dân và các



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status