1
ST
T
MỤC LỤC
Trang
1
Bìa
1
2
Mục Lục
2
3
1) Lời giới thiệu.
4
4
2) Tên sáng kiến.
7) Mô tả bản chất của sáng kiến.
5
10
7.1 - Cơ sở lý luận của đề tài.
5
11
7.1.1) Cơ sở lí luận.
5
12
7.1.2) Cơ sở pháp lí.
6
13
7.2 - Thực trạng của đề tài.
6
14
7.2.6) Phương hướng giải pháp.
10
20
7.3 - Giải quyết vấn đề.
10
21
7.3.1) Với hoạt động giảng dạy của giáo viên.
10
22
7.3.2) Với hoạt động học tập của học sinh.
13
23
7.3.3) Hướng nghiên cứu mới.
15
24
TÀI LIỆU THAM KHẢO
18
2
BÁO CÁO KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1.
Lời giới thiệu:
Giáo dục trung học cơ sở là bước chuyển tiếp giữa giáo dục tiểu học và giáo
dục phổ thông trung học, với sự thay đổi lớn lao về cả nội dung kiến thức và phương
pháp học tập cùng với những thay đổi về tâm sinh lí của học sinh trung học cơ sở.
Công tác giáo dục học sinh trong giai đoạn này đòi hỏi người làm công tác giáo dục
phải có năng lực chuyên môn vững vàng, có kĩ năng sư phạm tốt và không thể
không kể đến những năng lực, năng khiếu khác.
Chương trình giáo dục trung học cơ sở được phân chia thành nhiều bộ
mônkhoa học khác nhau, với mỗi bộ môn có những phương pháp học tập đặc trưng.
Đối với bộ môn Toán thì các em không còn bỡ ngỡ về môn học này. Tuy nhiên, với
sự đổi mới liên tục về phương pháp dạy học nhằm giúp học sinh hứng thú học tập,
tích cực chủ động tìm tòi kiến thức thì việc đổi mới phương pháp dạy học bằng
phương pháp dạy học tích hợp liên môn sẽ giúp các em có ý thức học tốt các bộ
3
môn, giúp các em có khả năng vận dụng kiến thức các môn học vào giải quyết các
- Số điện thoại: 0989994870
- E_mail:
4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Trường THCS Việt Xuân.
5. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Toán học.
6. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử:
4
Tháng 1 năm 2016.
7. Mô tả bản chất của sáng kiến:
7.1- Cơ sở lí luận của đề tài.
7.1.1) Cơ sở lí luận:
- Dạy học tích hợp liên môn: môn Toán với các bộ môn học khác ở trường
THCS là dạy học không chỉ đem đến cho học sinh kiến thức bộ môn mà còn nhằm
mục đích rèn luyện phương pháp tư duy lôgic, sáng tạo vận dụng kiến thức và có
khả năng tự giải quyết vấn đề. Kiến thức môn Toán phải được khắc sâu trong học
sinh để làm tiền đề cho việc tiếp thu các kiến thức tiếp theo. Vì kiến thức môn Toán
là một chuỗi kiến thức nối tiếp nhau, có mối liên hệ hữu cơ với nhau.
- Theo phương hướng đổi mới phương pháp dạy học này, giáo viên phải là
người tổ chức, điều khiển; phát huy tính tích cực chủ động trong lĩnh hội tri thức
Toán học của học sinh; còn học sinh là chủ thể nhận thức, đòi hỏi phải có hứng thú
trong học tập, từ đó mới tích cực tự học, tự rèn luyện và có được các năng lực cần
thiết trong học tập cũng như trong lao động sản xuất.
- Qua nhiều năm giảng dạy tôi nhận thấy việc học và vận dụng kiến thức của
học sinh vào giải quyết các dạng bài tập vẫn còn hạn chế vì các em chỉ thuộc mà
chưa hiểu nội dung kiến thức. Việc áp dụng các kiến thức học trên lớp để giải quyết
các vần đề hực tiễn lại càng hạn chế hơn. Có khi để giải quyết một vấn đề thực tiễn
trong đời sống đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức của nhiều môn học.
- Trước thực trạng học của học sinh là "học không đi đôi với hành", Bộ Giáo
sinh; tăng cường kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức, kỹ năng vào giải quyết các
vấn đề thực tiễn. Mở rộng không gian học tập cả trong và ngoài nhà trường, tổ chức
các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, nghiên cứu khoa học của học sinh”.
7.2- Thực trạng của đề tài.
7.2.1) Thuận lợi:
a) Về phía giáo viên:
- Chương trình sách giáo khoa Toán THCS cũng đã tích hợp dưới dạng bài
đọc thêm, có thể em chưa biết hoặc đố vui.
- Đã làm quen và có sự chủ động với cách thức tổ chức các hoạt động dạy và
học một tiết dạy Toán 6.
- Phối hợp được khá linh hoạt các phương pháp dạy học tích cực như: nêu và
giải quyết vấn đề; bản đồ tư duy; hỗ trợ hợp tác nhóm…
b) Về phía học sinh:
- Đã quen với cách học môn Toán.
- Bước đầu đã làm quen với cách dạy của giáo viên; nhiều học sinh đã có ý
thức nghiên cứu tìm tòi và biết liên hệ kiến thức.
Bên cạnh những thuận lợi cho việc giảng dạy và học tập môn Toán 6 nêu trên
thì vẫn còn một số tồn tại.
7.2.2) Khó khăn:
a) Về phía giáo viên:
- Theo cá nhân tôi việc tích hợp cần phải được tiến hành đồng bộ, phải có sự
nghiên cứu tỉ mỉ, chính xác .
- Do trình độ còn hạn chế nên giáo viên gặp một số khó khăn trong việc tìm
hiểu các kiến thức của nhiều lĩnh vực khác nhau.
6
b) Về phía học sinh:
- Phần lớn học sinh còn thụ động, ỷ lại, trông chờ vào giáo viên, chưa có ý
Mức độ vận dụng
Tổng số
Tỉ lệ(%)
1
Vận dụng mọi lúc, mọi nơi.
5
9%
2
Chỉ vận dụng khi cần thiết.
16
29%
3
Vận dụng ít.
26
46%
Thường xuyên chú ý nghe giảng, hăng hái phát biểu các ý kiến xây dựng bài, ghi
chép bài đầy đủ.
20
36%
2
Thường xuyên học bài cũ, làm bài tập về nhà, đọc bài mới trước ở nhà, liên hệ thực
tế, chuẩn bị đồ dùng học tập đầy đủ cho hôm sau.
17
30%
3
Thường xuyên tranh thủ học bài cũ, làm các bài tập trong sách giáo khoa lúc nhàn
rỗi.
11
20%
4
Thường xuyên đọc thêm sách tham khảo, hay làm thêm các bài tập trong sách bài
tập Toán 6.
- Để phân tích những nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên; cần có sự trao đổi;
điều tra sâu rộng hơn, nhưng có thể kể ra một số nguyên nhân sau:
+ Các em học sinh chưa ý thức được việc học tập là nghĩa vụ đối với xã hội.
+ Các em học sinh chưa ý thức được vai trò, ý nghĩa lí thuyết và ý nghĩa thực
tiễn của môn Toán đối với sự phát triển tài năng, nghề nghiệp của mình sau này.
+ Do nội dung môn học khô khan; khó học với học sinh.
+ Do phương pháp giảng dạy của giáo viên bộ môn chưa phù hợp với học
sinh.
8
+ Do học sinh chưa có phương pháp tự học bộ môn Toán hiệu quả, phù hợp;
vì chưa có sự hướng dẫn việc tự học của giáo viên cho học sinh; học sinh chưa xác
định được nội dung cần học, chỉ dựa vào thói quen của các em.v.v…
+ Học sinh ít có thời gian dành cho việc tự học môn Toán; các em chưa say
mê; chưa có hứng thú tìm tòi, khai thác các bài toán, tìm thấy cái hay, cái đẹp trong
Toán học; ý thức tự học chưa cao.
+ Các hình thức tổ chức dạy học chưa phong phú.
+ Không có sự kiểm tra, đánh giá thường xuyên; sát sao của giáo viên khi lên
lớp.
+ Do điều kiện cơ sở vật chất; phương tiện dạy học của nhà trường còn thiếu
nhiều.
+ Do học sinh bị “rỗng” kiến thức Toán ở các lớp dưới quá nhiều như: các
khái niệm, kiến thức cơ bản; kỹ năng tính toán; kỹ năng phân tích suy luận tìm lời
giải của một bài toán; kỹ năng trình bày lời giải; khả năng diễn đạt v.v…còn yếu.
7.2.6) Phương hướng giải pháp bước đầu tăng tính tích cực và ý thức vận dụng
liên môn trong học tập môn Toán 6 cho học sinh:
+ Với giáo viên bộ môn: Cần đổi mới phương pháp và nội dung dạy học; định
hướng , hướng dẫn, gợi mở; nêu vấn đề; chỉ bảo tỉ mỉ; giúp học sinh phát huy được
tính tích cực trong quá trình học tập bộ môn; học sinh dần hình thành và có phương
+ Tích hợp trong nội bộ môn học: tìm kiếm sự kết nối giữa các nội dung, chủ
đề.
+ Tích hợp đa môn: một chủ đề có thể xem xét trong nhiều môn học khác nhau.
+ Tích hợp liên môn: phối hợp sự đóng góp của nhiều môn học để nghiên cứu
và giải quyết một tình huống.
+ Tích hợp xuyên môn: tìm cách phát triển ở học sinh những kỹ năng xuyên
môn có tính chất chung và áp dụng được ở mọi nơi.
-
Quy trình xây dựng bài học tích hợp:
Bước 1: Rà soát chương trình, SGK để tìm ra các nội dung dạy học gần giống nhau
có liên quan chặt chẽ với nhau trong các môn học của chương trình, SGK; những
nội dung liên quan đến vấn đề thời sự.
Bước 2: Xác định bài học tích hợp và các địa chỉ tích hợp, bao gồm:
+ Tên bài học
+ Đóng góp của các môn vào bài học.
Bước 3: Dự kiến thời gian (bao nhiêu tiết) cho bài học tích hợp.
Bước 4: Xác định mục tiêu của bài học tích hợp, bao gồm:
+ Kiến thức
+ Kĩ năng
+ Thái độ
+ Định hướng năng lực hình thành
Bước 5: Xây dựng nội dung của bài học tích hợp. Căn cứ vào thời gian dự kiến,
mục tiêu, thậm chí cả đặc điểm tâm sinh lí và yếu tố vùng miền để xây dựng nội
dung cho phù hợp.
Bước 6: Xây dựng kế hoạch bài học tích hợp (chú ý tới các PPDH tích cực).
-
tích hợp kiến thức liên môn với kiến thức của bộ môn Địa lí. Từ bài tập 42, sau khi
tính toán xong học sinh nhận xét được tác dụng của việc xây dựng kênh đào Xuy –
Ê (Ai Cập). Giáo viên chốt lại kiến thức môn Toán về các đáp số và cung cấp thêm
cho học sinh một số thông tin về kênh đào Xuy – Ê. “Vai trò của kênh đào Xuy – Ê
là: Rút ngắn đường đi và thời gian vận chuyển, giảm chi phí vận chuyển, hạ giá
thành sản phẩm, tạo điều kiện mở rộng thị trường. Đảm bảo an toàn hơn tránh được
thiên tai khi vận chuyển trên đường dài”.
Chương II - Bài 1 – Làm quen với số nguyên âm.
Ví dụ 1 của bài học đề cập đến kiến thức bộ môn Vật lí. Giáo viên khai thác
kiến thức liên môn bằng cách đặt vấn đề và khai thác kiến thức bằng hệ thống câu
hỏi.
- Giáo viên đặt vấn đề: “Chúng ta cùng tìm hiểu một số hiện tượng vật lí rất
gần gũi với cuộc sống của chúng ta. Hiện tượng nước sôi và nước đóng băng”.
- Giáo viên đưa ra hệ thống câu hỏi:
+ Nhiệt độ của nước sôi là bao nhiêu độ C?
+ Nhiệt độ của nước đá đang tan là bao nhiêu độ C?
11
+ Vậy khi nhiệt độ giảm đến bao nhiêu độ C thì nước đóng băng? (Học sinh
trả lời: nhiệt độ giảm dưới 0oC thì nước đóng băng).
Ví dụ 2 đề cập đến kiến thức bộ môn Địa lí về độ cao trung bình so với mực
nước biển của Cao Nguyên Đắc Lắc và thềm lục địa Việt Nam. Học sinh hiểu đơn
thuần là các kiến thức được học trong bài, nhưng khi giáo viên làm rõ vấn đề đó là
sự tích hợp kiến thức liên môn giữa môn Toán với môn Địa lí: nếu các em không
hiểu được ý nghĩa của số nguyên âm thì các em sẽ không biết là thềm lục địa Việt
Nam trên thực tế là thấp hơn mực nước biển (mặc dù trong sách viết là “Độ cao
trung bình của thềm lục địa là - 65m”).
Chương II – Bài 7 – Phép trừ số nguyên.
Giáo viên có thể sáng tạo thiết kế bài soạn thay nội dung ví dụ về Sa Pa bằng
T. 32.7
Ư. 32. 3 + 13
N. 27. 65 + 27. 35 – 100
12
Ê. 5.(92 – 7.3)
0
50
100
25
32
40
63
300
2600
25
kỹ lý thuyết sau đó mới làm bài tập về nhà. Tích cực tìm hiểu các thông tin giáo viên
giới thiệu và các thông tin liên quan đến bài học ở các môn học khác và ở trên
mạng.
+ Khi học hoặc giải xong một bài tập nào đó cần chú ý đến cách giải bài tập
dạng đó như thế nào ? để áp dụng vào giải các bài tập khác có nội dung tương tự
v.v…
- Về khả năng áp dụng của sáng kiến:
13
Như vậy, đối với việc nghiên cứu đề tài “Phương pháp dạy học tích hợp
môn Toán THCS” , đây là một đề tài được nhiều giáo viên bộ môn cũng rất quan
tâm; mặc dù thời gian thực hiện đề tài và rút ra kết luận còn hạn chế; phạm vi đối
tượng nghiên cứu nhỏ: ở học sinh khối lớp 6 với 56 học sinh; nhưng nhìn chung
theo tôi những vấn đề thuộc đề tài tập chung nghiên cứu là một số vấn đề tiêu biểu
trong việc dạy học tích hợp môn Toán 6. Việc tạo môi trường học tập nghiên cứu
cho học sinh sẽ tạo cho việc học tập của học sinh tích cực hơn; kết quả học tập của
học sinh cao hơn. Để đạt được kết quả tốt thì cần phối hợp nhiều biện pháp; vận
dụng nhiều cách thức tổ chức các hoạt động dạy và học mang tính sư phạm cao.
Tuy nhiên do điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường còn nhiều thiếu thốn;
điều kiện kinh tế gia đình của học sinh còn khó khăn; do đó tôi cũng gặp phải khó
khăn trong việc tiến hành thực hiện đề tài này như chưa tổ chức được các buổi ngoại
khóa cho học sinh.
Trên đây là một số biện pháp để thực hiện phương pháp dạy học tích hợp
nhằm nâng dần chất lượng học sinh. Thiết nghĩ, là một giáo viên thì chắc hẳn ai
cũng muốn học sinh của mình ngoan và học giỏi, chính vì thế mỗi giáo viên phải
không ngừng tìm tòi hơn nữa, tìm ra nhiều biện pháp để giáo dục học sinh của mình
học tập tốt hơn. Để có thể vận dụng được những biện pháp trên để nâng dần chất
lượng học sinh tôi có một số kiến nghị như sau:
tổ chức phù hợp với đặc điểm của nhà trường.
Trên đây là một số nội dung bản thân tôi đã tìm hiểu nghiên cứu và vận dụng
ở lớp 6A, lớp 6B. Tôi nhận thấy việc vận dụng sáng kiến kinh nghiệm của bản thân
đã đạt được một số kết quả nhất định. Bản thân tôi tin tưởng rằng, nếu vận dụng
những biện pháp thích hợp sẽ mang lại kết quả khả quan trong việc học tập và giảng
dạy môn Toán ở Trường THCS Việt Xuân.
Trước khi kết thúc đề tài này, tôi cũng nhận thấy rằng những biện pháp mà tôi
đưa ra dù ít hay nhiều vẫn mang tính chủ quan, có thể còn nhiều nội dung chưa phù
hợp. Tôi rất mong được sự giúp đỡ, trao đổi và sự góp ý của các bạn đồng nghiệp,
đặc biệt là các thầy cô trong nhóm Toán để đề tài được hoàn thiện hơn.
8. Những thông tin cần được bảo mật (nếu có): Không.
9. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
Để tạo tính tích cực trong học tập môn Toán 6 của học sinh tại Trường THCS
Việt Xuân bản thân tôi đã rút ra được một số điều kiện để áp dụng sáng kiến như
sau :
9.1) Đối với giáo viên :
Giáo viên cần phải không ngừng tìm tòi học hỏi để nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ, tìm ra và vận dụng tốt các phương pháp dạy học mới.
Thực hiện soạn giáo án phù hợp với các đối tượng học sinh, các câu hỏi có
tính chất tổng quát, gợi mở…. Đặc biệt cần tạo cho các em có tinh thần vui vẻ, chờ
đợi chuẩn bị tiết học, cần động viên các em đúng lúc và với từng tiến bộ nhỏ của
các em.
Bộ môn toán là một bộ môn khoa học thực nghiệm đòi hỏi các em phải tham
gia thực hành đo đạc, cắt ghép qua đó tiếp thu kiến thức. Ngoài ra giáo viên có thể
đặt những câu hỏi vận dụng kiến thức trong thực tế, hay tổ chức các trò chơi trong
toán học, qua đó tạo sự vui vẻ, và càng ngày yêu thích môn học cho học sinh.
Người giáo viên dạy giỏi mới giúp cho học sinh có thể đi đến lĩnh hội tri thức
một cách dễ dàng và nhanh chóng. Giáo viên thường xuyên dự giờ trao đổi rút kinh
nghiệm một cách thẳng thắng để cùng bàn bạc tìm ra phương pháp dạy học hay cho
từng nội dung giảng dạy.
9.2) Đối với học sinh :
- Xác định cho mình động cơ học tập đúng đắn, học tập để có kiến thức và kỹ
năng để vận dụng vào cuộc sống sau này .
- Cần tự tin, tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập.
- Thực hiện đúng một số yêu cầu của giáo viên bộ môn (nêu trên).
9.3) Đối với cha mẹ học sinh :
- Cần phối hợp với nhà trường, quan tâm nhiều hơn đến việc học tập của con
em mình, tạo mọi điều kiện tốt nhất có thể để con em mình học tập tốt .
16
10. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng
sáng kiến theo ý kiến của tác giả:
Qua thực hiện và vận dụng những biện pháp tích hợp, vừa nghiên cứu vừa rút
kinh nghiệm. Với đối tượng nghiên cứu là học sinh hai lớp 6A, 6B từ đầu năm học
đến nay. Tôi nhận thấy các em đã tích cực hơn và vận dụng kiến thức tốt hơn trong
việc học tập .
* Kết quả cụ thể là:
+ Tỉ lệ số học sinh thường xuyên chú ý nghe giảng; hăng hái phát biểu ý kiến
xây dựng bài; có ý thức liên hệ các môn học khác và thực tế tăng từ 38% lên 70%.
+ Tỉ lệ số học sinh thường xuyên học bài cũ; làm bài tập về nhà; đọc bài trước
ở nhà; chuẩn bị đồ dùng học tập đầy đủ, tìm thực tiễn cho bài học mới tăng từ 30%
lên 60%.
+ Đánh giá kết quả bộ môn Toán 6 giữa học kỳ II so với học kỳ I như sau:
Giỏi
Khá
Trung bình
11
19
34
61
7
13
Giữa kỳ II
56
7
13
18
32
27
48
4
(Ký, ghi rõ họ tên)
17
Nguyễn Minh Loan
18