Trường Đại học kinh tế quốc dân - Khoa Thương mại
Mục lục
Lời mở đầu .....................................................................Trang 1
I.
Thực trạng hoạt động xuất nhập khẩu giữa Việt nam và Hoa Kỳ
trong thời gian qua ..................................................................Trang 6
1.1. Thực trạng Thương mại hai chiều Việt Nam-Hoa kỳ......Trang 3
1.2. Thực trạng hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ.Trang 8
1.3. Thực trạng hàng hoá của Hoa Kỳ nhập khẩu vào Việt Nam .Trang 13
II.
Tiềm năng xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang Hoa Kỳ và hàng hoá
hàng hoá cần nhập khẩu từ Hoa Kỳ vào Việt Nam sau khi hiệp định
Thương mại có hiệu lực .....................................................Trang 20
2.1. Tiềm năng xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang Hoa Kỳ ....Trang 23
2.2. Hàng hoá cần nhập khẩu từ Hoa Kỳ vào Việt Nam .........Trang 29
III. Các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang Hoa
Kỳ.....................................................................................Trang 31
3.1. Các biện pháp mang tính vĩ mô .........................................Trang 38
3.2. Các biện pháp mang tính vi mô .........................................Trang 31
3.3. Các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu đối với các mặt hàng chủ lực
vào thị trường Hoa Kỳ ..............................................................Trang
40
IV.
Các biện pháp quản lý hoạt động nhập khẩu hàng hoá từ Hoa Kỳ
vào Việt Nam ...........................................................................Trang
46
V.
Kết luận .............................................................................Trang 49
Lời Mở ĐầU
Trên cơ sở đó, trong phạm vi đề án môn học em xin trình bày những tiềm
năng và đề xuất một vài biện pháp đẩy mạnh xuất nhập khẩu hàng hoá gi ữa
Việt Nam và Hoa Kỳ sau khi Hiệp định thuơng mại song ph ương có hi ệu
lực. Em xin chân thành cảm ơn Thầy giáo, Phó giáo sư-Tiến sĩ Nguyễn
Duy Bột đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành đề án này.
-2-
Trường Đại học kinh tế quốc dân - Khoa Thương mại
I. Thực trạng hoạt động xuất nhập khẩu giữa Việt nam và Hoa Kỳ
1.1. Đánh giá khái quát thực tr ạng thương mại hai chi ều Việt Nam Hoa Kỳ
Việt Nam và Hoa Kỳ bắt đầu có quan hệ thương mại từ năm 1992 tuy
nhiên mới chỉ ở mức rất khiêm tốn, thương mại hai chi ều chỉ đạt kho ảng 4,5
triệu USD. Sau khi lệnh cấm vận được dỡ bỏ năm 1994, thương m ại hai
chiều giữa Việt Nam và Hoa Kỳ tăng đều theo cả hai chi ều xuất và nh ập
khẩu, đa dạng dần về nhóm hàng và gia tăng về trị giá mỗi nhóm (xem Bảng
1).
Bảng 1: Thương mại hai chiều Việt Nam - Hoa Kỳ (1994-1997)
Đơn vị : triệu USD
Xuất khẩu
Nhập khẩu
Tổng XNK
1994
50,4
loại hàng này rất cũng rất đa dạng. Hàng công nghiệp nhẹ bắt đầu xâm nhập
và tăng trưởng nhanh mặc dù vẫn chỉ mang tính giới thiệu s ản ph ẩm. Từ
1996 xuất khẩu những mặt hàng như giày dép, nguyên liệu khoáng sản tăng
nhanh. Nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam từ Hoa K ỳ ch ủ yếu l à máy móc,
thiết bị và phân bón. Điều này phù hợp với nhu cầu nhập khẩu của Việt Nam
cũng như đặc điểm cơ cấu xuất khẩu của Hoa Kỳ.
Bảng 2: Thương mại hai chiều Việt Nam - Hoa Kỳ (năm 1998-2000)
Đơn vị: triệu USD
Xuất khẩu
Nhập khẩu
Tổng XNK
1998
519,5
269,5
789
1999
601,9
277,3
879,2
1999/1998
15,8%
2,9%
11,4%
1999
Nhìn chung năm 2000, thương mại giữa hai nước tăng
trưởng ổn định trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu diễn
biến rất phức tạp. Xét về tổng kim ngạch thương mại song
phương, Việt Nam hiện xếp thứ 70/227 nước có quan hệ buôn
-4-
Trường Đại học kinh tế quốc dân - Khoa Thương mại
bán với Hoa Kỳ, trên nhiều nước như Bulgaria, Ukraina,
Slovenia mặc dù hàng Việt Nam đang phải chịu thu ế su ất
nhập khẩu cao hơn so với các nước này. Tuy nhiên, so với
một vài nước trong khu vực ASEAN như Thái Lan (xuất
khẩu đạt khoảng 16,4 tỷ USD), Philipin (14 tỷ USD) thì xuất
khẩu của ta còn thua kém nhiều. Thậm chí xuất khẩu
của Việt Nam còn kém cả Campuchia (827 triệu USD). Lý do
nổi bật nhất để giải thích cho sự việc này vẫn là thuế
suất nhập khẩu quá cao đối với hàng xuất khẩu của ta khi
nhập khẩu vào Hoa Kỳ. Cộng với việc hệ thống thương mại
tại Hoa Kỳ khá mới và phức tạp đối với các nhà xu ất khẩu
Việt Nam đã làm cho quá trình thâm nhập thị trường
này không dễ dàng với đa số doanh nghiệp Việt Nam. Điều
này cho thấy tầm quan trọng của việc phê chu ẩn Hiệp
định thương mại song phương và việc nâng cao nhận thức
cũng như năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt
Nam trong thời kỳ rất nhạy cảm này.
1.2. Thực trạng hàng hoá của Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ
Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá củaViệt Nam vào Hoa K ỳ đang được đa
dạng về chủng loại. Chiếm tỷ trọng cao nhất hiện nay là nhóm h àng h ải s ản
chiếm khoảng hơn 30% tổng giá trị hàng xuất khẩu của ta sang Hoa Kỳ (quí
1 năm 2001 đạt kim ngạch xuất khẩu 74,4 triệu so với 46,4 tri ệu cùng k ỳ
827,4
242,9
132,9
124,5
90,7
57,7
51,1
2000/
1999
225,5
134,8
15,2
-21,3
6,9
26,2
26,4
-5-
1-4/2000
1-4/2001
238,2
46,4
60,9
47,1
32,7
-11,9%
-0,6%
61,6%
20,6%
Trường Đại học kinh tế quốc dân - Khoa Thương mại
Sản phẩm may mặc
Tác phẩm nghệ
thuật,sưu tầm đồ cổ
36,4
0,6
81,0
12,9
44,6
12,3
16,2
0,9
17,8
0,2
1,6
-0,7
9,9%
dự kiến, khiến ngay cả phía Hoa Kỳ cũng bày tỏ sự lo ngại đối với thị
trường của họ. Mức tăng trưởng của năm 2000 đặc biệt cao, đạt m ức
124,7%, đưa nhóm hàng này lên vị trí đầu bảng. Điều này cho thấy khi các
doanh nghiệp của Việt Nam cải thiện được năng lực cạnh tranh thì thị
-6-
Trường Đại học kinh tế quốc dân - Khoa Thương mại
trường Hoa Kỳ thực sự là một thị trường tiềm năng đầy hứa hẹn đầy hứa
hẹn.
Trong tổng số 134,7 triệu USD giá trị xuất khẩu t ăng thêm trong n ăm
2000 thì có tới hơn 80 triệu USD thuộc về nhóm động vật giáp xác, tôm,
cua, sò, v.v. Những hàng này thường được xuất sang Hoa Kỳ dưới dạng sống,
tươi, ướp lạnh hoặc hấp, luộc chín. Mức tăng trưởng 130,6% của nhóm n ày
đóng góp hơn 70% vào mức tăng trưởng chung của toàn nhóm hàng hải sản.
Qua sự tăng trưởng mạnh này có thể thấy, trước hết ảnh hưởng quan trọng
của yếu tố giá cả tại thị trường Hoa Kỳ. Theo biểu thuế nhập khẩu của Hoa
Kỳ, một số mặt hàng không có sự chênh lệch giữa hai m ức thuế MFN v à
non-MFN hoặc nếu có thì mức chênh lệch không đáng kể. Cụ thể, đối với
các loại tôm hùm đá, tôm nhỏ cả hai loại thuế suất đều bằng 0. Đối v ới cua,
mức thuế non-MFN là 15% so với MFN là 7,5 %. Ngoài ra, những mặt hàng
này thực tế Việt Nam có khả năng nuôi trồng và tái t ạo ngu ồn đánh b ắt.
Điều này cho thấy thị trường hải sản Hoa Kỳ còn nhiều chỗ trống cho hàng
hoá Việt Nam xâm nhập.
Phân nhóm hàng quan trọng thứ hai là cá khúc và các loại cá tươi,
ướp lạnh hoặc đông. Năm 2000, nhóm này tăng từ 15,6 triệu USD lên 32,6
triệu USD tương ứng mức tăng thêm 108,8%. Việt Nam có th ể đẩy m ạnh
xuất khẩu nhóm hàng này.
Nhận xét: Đối với nhóm hàng hải sản trong năm 2000 và đến quí 1 năm
2001 là tương đối tốt. Các doanh nghiệp của ta đã năng động tìm đối tác,
trường Hoa Kỳ và tiếp tục tăng mạnh.
Các phân nhóm còn lại như chè xanh, chè đen không có dấu hiệu
tăng mạnh. Năm 2000 chỉ tăng từ 300.000 USD lên 1,4 tri ệu USD chi ếm t ỷ
trọng khoảng 1%. Trong đó, chè đen các loại không có chênh lệch thu ế, còn
chè xanh có mức thuế chênh lệch là 13,6%. Quế, hạt hồi, gừng đều t ăng
mạnh nhưng giá trị tuyệt đối còn chưa cao. Giá trị xuất kh ẩu qu ế v à hoa qu ế
đạt khoảng 1,1 triệu USD. Hạt hồi, rau mùi tăng 72% nhưng cũng ch ỉ đạt
98,5 nghìn USD. Mặt hàng gừng năm 2000 giảm mạnh khoảng 64,5 %. Với
những số liệu trên có thể thấy rằng trong năm qua nhóm hàng này tăng
trưởng không đáng kể mặc dù có một vài mặt hàng không có chênh l ệch
thuế giữa thuế non-MFN và MFN hay chênh lệch không đáng kể.
- Nhóm hàng giày dép và phụ kiện giày dép
Hiện nay, cùng với Trung Quốc và Indonesia, Việt Nam là nước xuất
khẩu giày dép và phụ kiện giày dép lớn trong s ố các n ước xu ất kh ẩu có
dùng nguyên liệu của Hoa Kỳ sang thị trường này. Do m ức thuế suất nonMFN và MFN khá lớn (thường là 0 so với 20%) nên các doanh nghiệp s ử
dụng nguồn nguyên liệu ngoài Hoa Kỳ sản xuất tại Việt Nam rất khó thâm
nhập. Một thực tế là các doanh nghiệp xuất khẩu giày dép hi ện nay h ầu h ết
là các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tận dụng sức lao động rẻ của công
nhân Việt Nam để làm hàng gia công xuất khẩu nên kim ngạch xuất khẩu
-8-
Trường Đại học kinh tế quốc dân - Khoa Thương mại
cao nhưng phần lợi nhuận thực của phía Việt Nam lại th ấp so v ới các nhóm
hàng xuất khẩu khác.
Những năm trước đây, nhóm hàng này thường đứng đầu trong số các
mặt hàng xuất khẩu sang Hoa Kỳ bởi các kênh phân phối khép kín s ẵn có
của các hãng nổi tiếng thế giới như Nike và Reebok và m ột s ố công ty khác
có trụ sở tại Hoa Kỳ. Năm 1999 nhóm hàng này đạt giá trị 145,7 triệu USD,
năm 2000 giá trị xuất khẩu giảm 21,3 triệu USD. Đến quí 1 năm 2001 m ặt
Bảng 4: Mức thuếnhập khẩu của Mỹđối với một sốloại hàng dệt may
Đơn vị %
Tên hàng
Thuế suất phi
Quần áo bằng vải bông
áo khoác từ sợi nhân tạo, không dệt kim,
đan móc, loại khác
áo khoác làm từ sợi nhân tạo, có dệt kim
áo sơ mi côtông cho nam
áo khoác từ sợi nhân tạo, không dệt kim,
đan móc, trên 36% len
Bộ quần áo có đan móc, bằng len hoặc lông
động vật
áo khoác đan móc với trên 70% khối lượng
là tơ tằm
áo khoác đan móc với dưới 70% khối lượng
là tơ tằm
MFN
Thuế suất MFN
Mức thuế chênh
lệch
90
41
45
5,9
39,1
Nguồn: Bộ Thương mại
Như vậy với các thông số về mức thuế nhập khẩu mà Mỹ áp dụng đối
với các mặt hàng may mặc, dù phải chịu mức rất cao so v ới MFN nh ưng
nhóm hàng quần áo, hàng may mặc sẵn vẫn đạt kim ng ạch XK cao. Với
việc hiệp định thương mại có hiệu lực, nhóm hàng này sẽ tạo động lực trong
việc thúc đẩy hàng xuất khẩu sang Hoa Kỳ.
- Các nhóm hàng tăng mạnh cần có sựđiều chỉnh
Ngoài những nhóm hàng trên, còn rất nhiều nhóm hàng có s ự tăng
trưởng cao, tuy nhiên trên thực tế lại có những t ồn t ại tiêu c ực trong s ự t ăng
trưởng đó. Điển hình là nhóm hàng thuộc đồ trang trí nghệ thuật, đồ cổ
(tăng từ 578.000 USD năm 1999 lên 12,9 triệu năm 2000, tăng 22,3 l ần).
Tuy nhiên, sự tăng trưởng đột biến lại không đáng m ừng b ởi t ới 12 tri ệu
USD trị giá xuất khẩu thuộc về những cổ vật hơn 100 n ăm tu ổi m à không ai
nắm rõ được bao nhiêu trong số chúng thuộc tài sản quốc gia.
- Những nhóm hàng giảm hoặc có xu hướng giảm
Bên cạnh những nhóm hàng tăng trưởng rất đáng khích lệ, m ột số
nhóm hàng cho thấy xu hướng chững lại, hoặc giảm mạnh. Đó là nhóm hàng
sắt thép, rau, hoa quả chế biến, đường, kẹo, v.v. Mặc dù thị trường biến động
- 10 -
Trường Đại học kinh tế quốc dân - Khoa Thương mại
kém thế cạnh tranh và điều đáng mừng là phần l ớn trong s ố chúng ph ục v ụ
được chủ trương và định hướng phát triển kinh tế của ta. Tính đến hết năm
2000, số lượng hàng nhập khẩu từ Hoa Kỳ vào Việt Nam đã r ất đa d ạng bao
gồm khoảng hơn 96 nhóm mặt hàng.
- 11 -
Trường Đại học kinh tế quốc dân - Khoa Thương mại
Nhìn tổng thể, có thể chia làm ba nhóm lớn. Nhóm các m ặt h àng có kim
ngạch trên 20 triệu USD, bao gồm lò và nguyên liệu cho phẩn ứng hạt
nhân, máy và động cơ điện, phân bón, giày dép. Nhóm các m ặt hàng có
kim ngạch từ 1 đến 20 triệu USD bao gồm 34 nhóm hàng như nhựa, bông,
phim ảnh, hoá chất hữu cơ, hoa quả v.v. Nhóm các mặt hàng còn l ại bao
gồm khoảng trên 58 nhóm hàng có kim ngạch dưới 1 triệu USD.
Nhóm hàng chiếm tỷ trọng cao nhất là lò phản ứng hạt nhân và các d ụng
cụ, nhiên liệu liên quan với 23,7 % tổng trị giá% nhập khẩu. Năm 2000
nhóm hàng này tăng khá mạnh 28,4% so với mức 61 triệu USD năm 1999.
Nhóm thứ hai là máy và các dụng cụ điện với tỷ trọng 9,2% tương ứng
30,3 triệu USD. Nhóm hàng này tăng mạnh nhất trong n ăm qua v ới m ức
tăng 50% cải thiện vị trí từ thứ 4 năm 1999 lên thứ 2 năm 2000.
Thứ ba là phân bón với tỷ trọng 8,6%. Nhóm này sụt giảm mạnh kho ảng
16,2 triệu USD so với năm 1999, tụt từ vị trí thứ 2 xuống vị trí thứ 3.
Một số nhóm hàng tăng mạnh bao gồm phụ kiện giày dép (tăng 313,4%);
hoa quả họ cam chanh (tăng 239%); bông (tăng 190%); s ắt thép (t ăng
147%); dược phẩm (tăng 64,3%), v. v Hầu hết các nhóm hàng còn lại đều
tăng hoặc giảm nhưng không đáng kể.
Quy chế đối xử mà Việt Nam dành cho Hoa Kỳ hiện rất thuận l ợi. Từ
năm 1999, hàng từ Hoa Kỳ xuất vào Việt Nam được hưởng thuế tối huệ quốc
và được hưởng các điều kiện cân bằng với hàng hoá xuất khẩu vào Việt
Nam từ các nước khác. Một khi quan hệ thương m ại được khai thông, các
hữu quan phải lo ngại bởi xu hướng tăng cao của hàng tiêu dùng. Vì v ậy
Nhà nước cần có định hướng cũng như các điều chỉnh để có thể t ận d ụng k ỹ
thuật phục vụ cho các ngành sản xuất của Việt Nam.
- Máy móc thiết bị điện và các bộ phận của chúng
Năm 2000với trị giá xuất khẩu lên tới 30,3 triệu USD, nhóm hàng này
đạt mức tăng trưởng rất cao chiếm khoảng 50%. Nhóm hàng máy móc thi ết
bị điện sẽ là mặt hàng mũi nhọn trong số các mặt hàng xuất khẩu chiến lược
của Hoa Kỳ sang thị trường Việt Nam.
Mạch tích hợp và vi linh kiện điện tử cũng đang chiếm tỷ trọng cao
nhất là 16,2% với trị giá xuất khẩu khoảng 4,9 triệu USD. Tiếp đó l à linh
kiện tivi, đài và rađa, với tỷ trọng 12,6% và trị giá khoảng 3,8 triệu USD.
Dây, cáp điện và các vật truyền dẫn khác bao gồm cả sợi cáp quang
năm 2000 cũng tăng mạnh khoảng 60% so với năm 1999.
Các mặt hàng điện tử tiêu dùng đã xuất hiện tương đối đa dạng,
phong phú như tivi, đài và các phương tiện nghe nhìn khác, máy thu
thanh.v.v Tuy nhiên dễ nhận thấy kim ngạch các nhóm hàng này còn r ất
thấp và sự tràn ngập của hàng điện tử Châu á, đặc biệt từ Nh ật B ản v à H àn
Quốc tại thị trường Việt Nam là nhân tố kìm hãm s ự tăng tr ưởng của nhóm
hàng này.
- Nhóm hàng phim ảnh và các dụng cụ quang học chính xác
- 13 -
Trường Đại học kinh tế quốc dân - Khoa Thương mại
Mới chỉ xếp vị trí khiêm tốn trong số các nhóm hàng Hoa K ỳ xu ất
khẩu sang Việt Nam, nhưng phim ảnh và các dụng cụ quang h ọc chính xác
đã cho thấy tiềm năng tăng rất mạnh trong những năm tới.
Dụng cụ chính xác dùng trong phân tích vật lý, y tế, phân tích hoá
học bao gồm cả các máy chiếu xạ, chiếm tỷ trọng tới 60% tổng trị giá xuất
khẩu. Điều này cũng phù hợp với xu hướng phát tri ển m ở r ộng m ột s ố trung
Trường Đại học kinh tế quốc dân - Khoa Thương mại
đa dạng hoá thị trường xuất khẩu. Trong khi đó, mặc dù chỉ xếp thứ 70 trong
số 200 đối tác thương mại của mình, nhưng với vị trí chiến l ược trong
ASEAN và khu vực Đông á, Việt Nam luôn là m ột đối tác th ương m ại quan
trọng của các nhà đầu tư, xuất khẩu Hoa Kỳ. Vấn đề đặt ra cho chúng ta l à
trên một nền tảng pháp lý khá rõ ràng và một môi trường đầu t ư h ấp d ẫn,
thuận lợi, chắc chắn Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam-Hoa K ỳ
sẽ tạo cơ hội cho Việt Nam khắc phục những mặt yếu, tối đa hoá lợi ích dân
tộc và trong thời gian ngắn nhất có thể phát huy t ối đa quy mô phát tri ển v à
sức cạnh tranh của các doanh nghiệp cũng như hàng hoá và d ịch v ụ của
Việt Nam.
II. Dự báo tiềm năng xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang Hoa Kỳ và hàng hoá cần nhập
khẩu từ Hoa Kỳ vào Việt Nam sau khi Hiệp định thương mại việt nam - hoa kỳ có hiệu
lực
Để có cái nhìn tương đối về tiềm năng xuất nhập khẩu đối với hàng
hoá Việt nam sang Hoa kỳ chúng ta cần có cơ sở để xây dựng dự báo cho
tương lai Ngoại thương của Việt nam trong buôn bán với Hoa K ỳ. C ơ s ở đó
chính là Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam thời k ỳ 20012010 và Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược phát tri ển h àng hoá
xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001-2010.
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam thời kỳ 2001-2010:
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lẫn thứ IX đã đưa ra định hướng
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trong 10 n ăm đầu c ủa
thế kỷ 21 (2001-2010): “Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản
trở thành một nước công nghiệp”. Mục tiêu chung của Chiến lược 10 năm
(2001-2010) là đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ
rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân, nâng cao vị thế của
Việt Nam trên trường quốc tế, tạo nền tảng để đến năm 2020 đưa nước ta c ơ
15,9%; nhóm hàng công nghiệp tiêu dùng và tiểu thủ công nghiệp chiếm
43% kim ngạch xuất khẩu công nghiệp, tăng bình quân hàng năm 22%;
nhóm hàng nông, lâm, thuỷ sản chiếm 30% tổng kim ngạch xuất kh ẩu, t ăng
bình quân hàng năm 16,2%.
Về nhập khẩu
- Bảo đảm nhập khẩu những vật tư, thiết bị chủ yếu, có tác động tích cực
đến sản xuất kinh doanh trong nước.
- Phấn đấu đạt tổng kim ngạch nhập khẩu 5 năm khoảng 118 t ỷ USD,
tăng bình quân hàng năm 15%, trong đó, nhóm hàng máy móc, thiết bị và
phụ tùng chiếm 32,6% tổng kim ngạch nhập khẩu; tăng bình quân
17,2%/năm; nhóm hàng nguyên nhiên vật liệu chiếm 63,5% tăng bình quân
13,9%/năm; nhóm hàng tiêu dùng chiếm khoảng 3,9% bằng 5 năm trước.
Chiến lược phát triển xuất - nhập khẩu thời kỳ 2001-2010:
- 16 -
Trường Đại học kinh tế quốc dân - Khoa Thương mại
Để thực hiện Chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội nói chung và
định hướng phát triển kinh tế đối ngoại nói riêng của Đại hội Đảng IX, ng ày
27 tháng 10 năm 2000, Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị số 22/2000/CTTTg về Chiến lược phát triển xuất - nhập hàng hóa và dịch v ụ th ời k ỳ 20012010. Chỉ thị khẳng định “Chiến lược phát triển xu ất nhập khẩu h àng hoá v à
dịch vụ thời kỳ 2001-2010, nhất là xuất khẩu phải là chiến lược tăng tốc toàn
diện, phải có những khâu đột phá với bước đi vững ch ắc tiếp tục ch ủ tr ương
dành ưu tiên cao nhất cho xuất khẩu”. Chỉ thị nêu rõ:
- Xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ thời kỳ 2001-2010 phải đạt m ức tăng
trưởng bình quân từ 15%/năm trở lên phấn đấu cân bằng cán cân th ương
mại vào những năm 2009-2010 và xuất siêu vào thời kỳ sau 2010.
- Giảm xuất khẩu hàng chế biến thô; tăng tỷ trọng hàng chế bi ến sâu
bằng công nghệ mới.
- Đẩy mạnh hơn nữa xuất khẩu trực tiếp vào các thị trường có s ức mua
năng dành cho Việt Nam Chế độ Ưu đãi Thuế quan Phổ cập. Như vậy là căn
cứ vào thực trạng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang Hoa K ỳ
trong thời gian qua; căn cứ vào định hướng chiến lược phát triển xuất nhập
khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001-2010 trình bày ở trên, đặc biệt, căn cứ
vào chính sách, chế độ, qui chế điều tiết hoạt động xuất nhập khẩu gi ữa hai
nước đã được thoả thuận trong Hiệp định song phương Việt Nam-Hoa Kỳ, có
thể dự đoán rằng, riêng đối với thị trường Hoa Kỳ, kim ngạch hàng hoá Việt
Nam xuất sang thị trường này sẽ tăng 15% hàng năm trong 3 n ăm đầu (sau
khi Hiệp định có hiệu lực) và 18% cho 3 năm tiếp theo và vẫn giữ ở vị trí
tăng lên 15% cho đến hết năm 2010.
2.2.2. Dự báo tiềm năng xuất khẩu theo nhóm mặt hàng
Nhóm mặt hàng hải sản
Hoa Kỳ là nước xuất khẩu hải sản lớn nhất thế giới và cũng là nước
nhập khẩu hải sản lớn thứ 2 thế giới, sau Nhật Bản. H àng năm, Hoa K ỳ ph ải
nhập khẩu trung bình một lượng hải sản giá trị khoảng 2,5 tỷ USD t ừ các
nước châu á và cho đến năm 1996 thì giá trị xuất khẩu của Việt Nam ch ỉ
chiếm khoảng 1,14% giá trị nhập khẩu thuỷ sản của Hoa Kỳ t ừ các n ước
châu á và 0,42% giá trị nhập khẩu thuỷ sản của Hoa K ỳ t ừ các n ước trên th ế
giới. Vì thế, có thể khẳng định rằng đây là thị trường vô cùng rộng l ớn v à
đầy triển vọng đối với ngành nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản Việt Nam.
Mặt hàng nhập khẩu chính của Hoa Kỳ là tôm các loại trong khi đây
cũng là mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam. Dự báo, Việt Nam có th ể
xuất khẩu 600 triệu USD hải sản vào Hoa Kỳ năm 2010, tăng 7 lần so với
năm 1998, 6 lần so với năm 2000 và gần bằng m ức xu ất kh ẩu c ủa Thái Lan
hiện nay.
- 18 -
Trường Đại học kinh tế quốc dân - Khoa Thương mại
Quốc, Tây Ban Nha, những nước hiện đang đứng trên Việt Nam về xuất
khẩu mặt hàng này, lại không có nhiều hạt tiêu như Việt Nam.
- Chè các loại: Hàng năm Hoa Kỳ nhập khẩu các loại chè xanh và đen,
trung bình 130 triệu USD/năm (từ 1992-1997), riêng 1998 nhập 170 triệu
- 19 -
Trường Đại học kinh tế quốc dân - Khoa Thương mại
USD. Giai đoạn 2000-2010, Việt Nam có thể tăng đều đặn 20%/năm n ếu
tăng được xuất khẩu trực tiếp và có thể đạt 3 triệu USD v ào n ăm 2010. N ếu
như có sự đầu tư bao tiêu sản phẩm của các công ty Hoa K ỳ, có thể đạt 6
triệu USD.
- Gạo: Nhiều khách hàng Hoa Kỳ mua gạo Việt Nam để xuất khẩu sang
châu Phi theo các chương trình viện trợ của Chính phủ Hoa K ỳ. Trước khi
có NTR, thuế nhập khẩu đối với gạo là 0,055 USD sau khi có NTR l à 0,021
USD/kg. Mức thuế như vậy là thấp và thị trường nhập khẩu gạo c ủa Hoa K ỳ
là rộng mở đối với Việt Nam.
Nhóm mặt hàng khoáng sản
- Dầu mỏ: Hoa Kỳ là nước có kỹ thuật về khai thác cũng như lọc dầu tiên
tiến nhất trên thế giới nhưng cũng là nước nhập khẩu dầu khí lớn nhất thế
giới. Việt Nam bắt đầu xuất khẩu dầu thô vào th ị tr ường Hoa K ỳ t ừ n ăm
1998 và giá trị xuất khẩu năm 1999 là 83,8 triệu USD. Tuy nhiên, m ột đi ều
cần lưu ý là việc chưa có khách hàng truyền thống là các nhà máy lọc dầu
lớn của Hoa Kỳ cũng là một nguyên nhân làm cho trong 6 tháng đầu năm
1999, Việt Nam không bán được một tấn dầu thô nào cho thị trường này.
Năm tập đoàn công nghiệp dầu mỏ hàng đầu thế giới hiện nay là
SHELL và BP (Anh), ESSON và MOBIL (Hoa Kỳ), ELT-EQUITANIE
(Pháp) đều đang có mặt tại Việt Nam và làm ăn rất thành công chứng tỏ sức
mạnh về tiềm năng sản xuất và xuất khẩu dầu thô của Việt Nam r ất l ớn nên
đây, thị trường Hoa Kỳ có mức tăng nhập khẩu đối với mặt hàng này từ
khoảng 20-30%/năm, do đó nếu Việt Nam đầu tư để sản xuất với ch ất l ượng
tốt thì có thể đạt được mức tăng 30%/năm và tới năm 2010 có thể đạt 50
triệu USD và có thể vươn lên đứng thứ hai (sau Thái Lan) trong s ố các n ước
xuất khẩu mặt hàng này vào thị trường Hoa Kỳ.
- Hàng gốm sứ: Việt Nam có lợi thế là ngành nghề thủ công truyền
thống, có mẫu, mã đẹp và giá nhân công rẻ. Sau khi Hiệp định Th ương m ại
song phương có hiệu lực thì một số mặt hàng gốm sứ như ch ậu cảnh, voi
gốm, v.v có khả năng tăng kim ngạch xuất khẩu vào Hoa Kỳ tới hàng chục
triệu USD/năm, dự báo sẽ khoảngđạt 300 triệu USD vào năm 2010.
- Cao su và sản phẩm cao su: Đây là nhóm mặt hàng có nhu cầu rất
lớn ở Hoa Kỳ, do các ngành công nghiệp, nhất là công nghiệp ô tô phát triển
mạnh. Trong khi đó, Việt Nam là nước Đông Nam A có thể mạnh về trồng
cao su thiên nhiên. Trong tương lai, nếu Nhà nước có chương trình đầu t ư
hoặc thu hút đầu tư của nước ngoài vào lĩnh vực phát triển công nghiệp s ản
xuất các sản phẩm cao su, thì đến năm 2010, việc xu ất kh ẩu v ào th ị tr ưòng
này dự báo mỗi năm đạt khoảng từ 150-200 triệu USD giá tr ị s ản ph ẩm cao
su các loại, là điều một dự báo có cơ sở.
- Hàng dệt may: Theo thống kê, hàng năm Hoa Kỳ đứng đầu thế giới
về nhập khẩu hàng may mặc. Theo tình hình hiện tại, dự đoán sau khi có
NTR Việt Nam có thể xuất khẩu ngay vào Hoa K ỳ v à kim ng ạch có th ể đạt
- 21 -
Trường Đại học kinh tế quốc dân - Khoa Thương mại
1 tỷ USD ngay từ năm đầu nếu chúng ta chuẩn bị tốt. Nếu giữ được thị
trường này cho hàng dệt may thì khả năng thâm nhập thị tr ường Hoa K ỳ t ừ
nay đến năm 2010 sẽ là một điều thuận lợi cho ngành may m ặc Việt Nam
đạt tới con số 1,5 tỷ USD.
Kết luận: Như đã phân tích ở trên, dự báo về xuất khẩu hàng hoá của Việt
Trường Đại học kinh tế quốc dân - Khoa Thương mại
thuỷ, hải sản đồng thời hạn chế việc nhập khẩu các sản phẩm trong n ước đã
sản xuất được. Ngoài ra, tăng cường nhập khẩu các thiết bị kỹ thuật nhằm
đáp ứng mục tiêu: đổi mới, hiện đại hoá thiết bị, công nghệ và đảm b ảo
nguồn vật tư, nguyên liệu cho các ngành kinh tế chủ chốt, góp ph ần ổn định
thị trường, ổn định nền kinh tế và đời sống xã hội.
Với tầm nhìn chiến lược đó, có thể dự báo một số nhóm m ặt hàng chủ yếu
nhập khẩu từ Hoa Kỳ.
2.2.1. Dự báo một số nhóm mặt hàng nhập khẩu
Hàng máy móc thiết bị, phương tiên vận tải, thi ết b ị y t ế v à các lo ại máy
móc chuyên dụng khác
Đây vẫn là mặt hàng ưu tiên nhập khẩu của Việt Nam, hàng năm
chiếm khoảng 30% tổng kim ngạch nhập khẩu. Căn cứ vào nhu cầu trong
nước và chủ trương đổi mới công nghệ, có thể thấy kim ngạch nhập khẩu
nhóm hàng này từ Hoa Kỳ sẽ rất cao, đặc biệt là các loại máy ph ục v ụ s ản
xuất, các thiết bị vô tuyến điện, viễn thông trong thời gian t ới. Kim ng ạch
nhập khẩu nhóm máy móc phương tiện vận tải sẽ tăng vọt nếu ta ti ếp t ục ký
các hợp đồng nhập khẩu máy bay với Hoa Kỳ. Ngoài ra, vi ệc t ăng c ường
đầu tư và thực hiện các cam kết đầu tư đã có thể tạo đi ều ki ện h ơn n ữa cho
việc nhập khẩu nhóm mặt hàng này từ Hoa Kỳ.
Hàng tiêu dùng
Hàng tiêu dùng Hoa Kỳ vào Việt Nam thời gian qua chủ yếu là của
các công ty Hoa Kỳ ở Châu á sản xuất, chứ không phải là hàng hoá được
sản xuất trên đát Mỹ. Vì thế, một trong các xu hướng trong nh ững n ăm t ới
sẽ là nhập khẩu hàng tiêu dùng Mỹ từ Mỹ. Bên cạnh đó, Nh à n ước cũng có
chủ trương hạn chế nhập khẩu hàng tiêu dùng (dưới 20% tổng kim ngạch
hàng nhập khẩu) nên thời gian tới, xuất khẩu tại chỗ của các công ty Hoa Kỳ
tại Việt Nam sẽ là xu hướng chính trong việc nhập khẩu hàng tiêu dùng của
mốc năm 2000 (khi mà nhập khẩu của Việt Nam từ Hoa K ỳ ch ỉ chi ếm 2,4%
tổng trị giá kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam) cứ tăng đầu bình quân là
14% một năm thì rõ ràng Hoa Kỳ sẽ là thị trường nhập kh ẩu đầy ti ềm n ăng
của Việt Nam.
III. các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá việt nam sang Hoa Kỳ
3.1. Nhóm giải pháp mang tính vĩ mô
3.1.1. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam nhằm tạo ra s ự
phù hợp với những quy định của luật pháp Hoa Kỳ và Hi ệp định
Thương mại Việt Nam -Hoa Kỳ
Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ có rất nhiều quy định đặc thù và
cùng với tính hiệu lực pháp lý, Hiệp định sẽ tạo nên rất nhiều đi ểm khác
biệt so với những quy định của luật pháp trong nước. Đó là, những khác biệt
nằm trong các quy định của Hiệp định về chính sách thu ế, v ề các kho ản l ệ
phí liên quan đến xuất nhập khẩu, về cạnh tranh, về thương mại nhà nước,
về giải quyết tranh chấp, v.v. Bên cạnh đó, thị trường Hoa Kỳ là thị tr ường
- 24 -
Trường Đại học kinh tế quốc dân - Khoa Thương mại
đòi hỏi phải có sự tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về chất lượng hàng
hoá, xuất xứ, về giá cả và về thị hiếu khách hàng. Để thực hiện những qui
định trong hiệp định cũng như khai thác thuận lợi sau khi Hiệp định Thương
mại có hiệu lực nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng Việt Nam sang Hoa K ỳ,
trước mắt, cần tập trung hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam. Để l àm
được điều này, cần thực hiện ngay các công việc sau đây:
-Tiếp tục rà soát lại hệ thống pháp luật điều ch ỉnh hoạt động thương m ại
nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng của Việt Nam nhằm lo ại b ỏ
những văn bản (luật hoặc dưới luật) đã lỗi thời, bất cập và không mang l ại
hiệu quả.