RANITIDIN
Thuốc chống loét kháng H2, thuốc kháng histamin chẹn các thụ thể H2 dùng làm thuốc chống
loét dạ dày tá tràng. Cần chú ý đến tác dụng ức chế monooxygenase gan (cytochrom P450),
nhất là với các dạng thuốc có hàm lượng cao
CÁC THUỐC TRONG NHÓM
RANITIDIN viên nén 150 mg; 300 mg; viên nén sủi 150 mg; ống tiêm 50 mg/2mL; viên nén
bao 150 mg
Aciloc viên nén 150 mg và 300 mg
Dudine viên nén bao 150 mg
Histac viên nén sủi 150 mg
Lykalydin viên nén 150 mg và 300 mg
Ranitidin viên nén 150 mg
Rantac viên nén 150 mg
Ranitidin ống tiêm 50 mg/2mL
Zantac viên nén 150 mg
Zantac ống tiêm 50 mg/2mL
Zoran viên nén bao 150 mg
FAMOTIDIN viên nén 20 mg; 40 mg
Apo- Famotidine viên nén 20 mg
Fadin40 viên nén 40 mg
Gasmodin viên nén bao 40 mg
Famonit viên nén 40 mg
Medofadin viên nén bao 40mg
Pepcidine viên nén 20 mg; 40 mg
Quamatel viên nén 20 mg; 40 mg; bột pha tiêm 20 mg/lọ
Topcid viên nén bao 20 mg
Topcid viên nén bao 40 mg
NIZATIDIN nang 150 mg; 300 mg
Axid nang 150 mg; 300 mg
Zastidin nang 150 mg; 300 mg
CHÚ Ý KHI CHỈ ĐỊNH THUỐC
đến giảm hấp thu ketoconazol, vì vậy giảm tác dụng của thuốc này.
Xử lý: Cần thông báo cho người bệnh, phải uống thuốc chống nấm cách thuốc kháng
H2 2 giờ.
RIFABUTIN
Rifabutin là kháng sinh thuộc nhóm rifamycin, đặc biệt tác dụng trên Mycobacterium không
điển hình, như Mycobacterium avium complex. Dùng làm thuốc điều trị lao
trong các trường hợp lao kháng rifampicin, và thuốc dự phòng cho các người
bệnh AIDS, tránh lây nhiễm Mycobacterium không điển hình
CÁC THUỐC TRONG NHÓM
RIFABUTIN nang 150 mg
Ansatipine nang 150 mg
CHÚ Ý KHI CHỈ ĐỊNH THUỐC
Chống chỉ định: mức độ 4
Suy thận: Giảm đào thải chất này.
Suy gan: Chống chỉ định dùng các rifamycin khi suy gan, hay tắc đường dẫn mật.
Các trường hợp khác: Quá mẫn với các rifamycin, đặc biệt với rifampicin.
Cân nhắc nguy cơ/ lợi ích: mức độ 3
Thời kỳ mang thai, cho con bú: thận trọng, vì là thuốc mới, chưa có dữ liệu trong y văn.
203
Loạn chuyển hoá porphyrin: Rifamycin gây ra từng đợt kịch phát loạn chuyển hoá
porphyrin ở những người bệnh có tố bẩm.
TƯƠNG TÁC THUỐC
Cân nhắc nguy cơ/ lợi ích : mức độ 3
Amprenavir
Phân tích: Trong nhóm rifamycin, thì rifampin làm giảm nồng độ amprenavir trong
Corticosteroid
Phân tích: Khi kết hợp với rifabuin, hay nói chung với các thuốc nhóm rifamycin, tác
dụng dược lý của các corticoid có thể giảm và không kiểm soát được bệnh. Điều này
xảy ra sau khi dùng rifabutin được vài ngày. Cơ chế: là do rifamycin làm tăng chuyển
hoá corticosteroid ở gan. Các nghiên cứu dược động học đã cho thấy sự thanh lọc
prednisolon tăng lên rõ rệt.
Xử lý: Tránh kết hợp thuốc này. Nếu bắt buộc phải dùng kết hợp thuốc, phải tăng liều
corticosteroid sau khi dùng thêm rifamycin.
Delavirdin
Phân tích: Rifamycin ảnh hưởng lên dược động học của thuốc kháng virus. delavirdin
làm tăng cường sự chuyển hoá ở gan (gây cảm ứng CYP 3A4), nên nồng độ delavirdin
ở huyết tương bị giảm đi.
204
Xử lý: Không dùng đồng thời delavirdin với rifamycin.
Doxycyclin
Phân tích: Rifamycin làm tăng sự chuyển hoá doxycyclin ở gan, làm giảm nồng độ
trong huyết tương, kéo theo làm giảm hiệu quả điều trị.
Xử lý: Theo dõi đáp ứng của người bệnh với thuốc. Nếu cần, tăng liều doxycyclin.
Estrogen hoặc thuốc ngừa thai estroprogestogen
Phân tích: Tăng chuyển hoá các estroprogestogen ở gan, do cảm ứng enzym, nên có
nguy cơ thụ thai.
Xử lý: Tránh dùng thuốc ngừa thai liều lượng thấp và nếu cần chọn các thuốc ngừa
thai liều lượng cao, hay tốt hơn nên dùng một biện pháp ngừa thai khác, nếu điều trị
với rifabutin dài ngày. Cần nhớ, cảm ứng enzym không bao giờ là phản ứng tức thì.
Haloperidol
Phân tích: Rifamycin có thể làm giảm nồng độ haloperidol trong huyết tương và làm
giảm hiệu quả điều trị của thuốc này. Cơ chế có thể do đã cảm ứng enzym gây tăng
cường sự chuyển hoá của haloperidol.
205
Progestogen hoặc dẫn chất
Phân tích: Tăng chuyển hoá các thuốc ngừa thai progestogen ở gan, do cảm ứng
enzym, nên có nguy cơ thụ thai.
Xử lý: Tránh dùng thuốc ngừa thai liều lượng thấp, và nên dùng thuốc ngừa thai liều
lượng cao, hoặc khuyên nên dùng một biện pháp ngừa thai khác, nếu việc điều trị với
chất cảm ứng enzym kéo dài. Cần nhớ, cảm ứng enzym không bao giờ là phản ứng
tức thì.
Propafenon
Phân tích: Rifamycin gây cảm ứng hệ enzym ở microsom gan chịu trách nhiệm chuyển
hoá propafenon, làm tăng sự thanh lọc và làm giảm nồng độ của propafenon trong
huyết tương, kéo theo giảm hiệu quả điều trị.
Xử lý: Với người bệnh đã đạt ổn định trong điều trị với propafenon, không nên dùng
rifamycin, mà thay bằng một thuốc kháng khuẩn khác. Nếu không thể thay thế được,
phải theo dõi nồng độ propafenon trong huyết tương, và theo dõi người bệnh xem hiệu
quả điều trị có giảm đi không. Nếu cần, phải hiệu chỉnh liều propafenon.
Repaglinid
Phân tích: Rifamycin gây cảm ứng làm tăng chuyển hoá của repaglinid thông qua
cytochrom P450, làm tăng nồng độ của thuốc trong huyết tương, kéo theo là giảm tác
dụng dược lý.
Xử lý: Với người bệnh đang dùng repaglinid, phải theo dõi chặt chẽ nồng độ glucose
máu khi bắt đầu dùng thêm, khi ngừng dùng rifamycin. Hiệu chỉnh liều repaglinid khi
cần.
Ritonavir
Phân tích: Rifabutin là chất cảm ứng enzym mạnh, nên làm tăng rất mạnh chuyển hoá
ritonavir thông qua isoenzym 3A4 của cytochrom P450. Do đó nồng độ dạng hoạt động
của ritonavir giảm trong huyết tương và hiệu quả điều trị của ritonavir bị giảm. Đây là
tương tác dược động học ở khâu chuyển hoá thuốc. Ngoài ra còn thấy nồng độ
tương bị hạ thấp, do rifamycin làm tăng sự chuyển hoá vì gây cảm ứng CYP 3A4.
Xử lý: Theo dõi chặt chẽ đáp ứng với thuốc ở người bệnh. Có thể phải tăng liều
tamoxifen khi dùng cùng với rifamycin.
Theophylin
Phân tích: Khi thêm rifamycin, nồng độ theophylin trong huyết tương giảm đi và các
triệu chứng hô hấp nặng lên. Cơ chế có thể do rifamycin cảm ứng chuyển hoá
theophylin ở gan.
Xử lý: Với người bệnh đang dùng theophylin, khi bắt đầu dùng thêm, hoặc khi thôi
dùng rifamycin đều phải theo dõi nồng độ theophylin trong huyết tương, theo dõi đáp
ứng của người bệnh và hiệu chỉnh liều dùng khi cần.
Toremifen
Phân tích: Khi dùng đồng thời với rifamycin, tác dụng kháng estrogen của toremifen bị
giảm đi, do nồng độ thuốc trong huyết tương hạ thấp. Cơ chế do rifamycin làm tăng
cường sự chuyển hoá của toremifen thông qua cảm ứng CYP3A4.
Xử lý: Theo dõi đáp ứng của người bệnh với thuốc. Có thể phải tăng liều dùng
toremifen khi dùng đồng thời với rifamycin.
Thuốc chẹn beta
Phân tích: Tác dụng dược lý của một số thuốc chẹn beta bị giảm khi dùng đồng thời
với rifamycin, có thể do làm tăng sự chuyển hoá thuốc chẹn beta
ở gan. Phải cần 3 đến 4 tuần lễ ngừng rifamycin, thì tác dụng làm tăng chuyển hoá này
mới hết.
Xử lý: Theo dõi chặt chẽ sự đáp ứng với thuốc ở người bệnh (đo huyết áp) nếu các
dấu hiệu lâm sàng xấu đi, phải tăng liều thuốc chẹn beta.
Thuốc chống đông máu
Phân tích: Rifamycin gây cảm ứng enzym chịu trách nhiệm chuyển hoá warfarin ở
microsom gan, làm giảm tác dụng chống đông máu của thuốc này.
Xử lý: Nếu dùng kết hợp với rifamycin, thì thuốc chống đông máu cần được tăng liều,
và phải theo dõi các thông số đông máu một cách chặt chẽ khi ngừng dùng rifamycin,
nhằm tránh hạ prothrombin-huyết quá mức và chảy máu.
Thuốc chống trầm cảm ba vòng
CYP3A4. Do đó nồng độ amiodaron cũng như chất chuyển hoá có hoạt tính của nó
trong huyết thanh sẽ giảm, làm giảm tác dụng dược lý.
Xử lý: Phải theo dõi chặt chẽ nồng độ amiodaron trong huyết thanh khi bắt đầu và khi
ngừng dùng rifamycin.
Ciclosporin
Phân tích: Giảm nồng độ ciclosporin trong huyết tương do cảm ứng enzym trên
cytochrom P450. Tương tác dược động học về chuyển hoá thuốc.
Xử lý: Nên tăng liều lượng ciclosporin. Phải theo dõi nồng độ ciclosporin trong huyết
tương trong khi điều trị và sau khi ngừng thuốc.
Indinavir; nelfinavir
Phân tích: Là chất cảm ứng enzym, rifabutin làm tăng chuyển hoá của nelfinavir,
indinavir thông qua isoenzym 3A4 của cytochrom P450, gây giảm nồng độ của dạng hoạt
động của các thuốc này trong huyết tương. Đồng thời diện tích dưới đường cong
(AUC) và cả nồng độ đỉnh của chúng tăng. Từ đó, giảm hiệu quả điều trị của indinavir
và nelfinavir và tăng tác dụng độc của rifabutin (đau cơ, đau khớp, giảm bạch cầu
trung tính)
Xử lý: Giảm liều rifabutin còn một nửa.
Macrolid
Phân tích: Tương tác đã được mô tả với clarithromycin, qua đó thấy nguy cơ tăng các
tác dụng phụ của rifabutin (viêm màng mạch nho) do tăng nồng độ chất này và các
chất chuyển hoá hoạt động.
Xử lý: Phải theo dõi đều đặn trên lâm sàng.
Methadon
Phân tích: Tương tác dược động học về chuyển hoá thuốc kèm theo giảm nồng độ
methadon trong huyết tương và nguy cơ xuất hiện hội chứng cai nghiện.
Xử lý: Điều chỉnh số lần dùng methadon, từ 2 đến 3 lần một ngày, thay cho một lần một
ngày.
208
Cân nhắc nguy cơ/ lợi ích: mức độ 3
Thời kỳ cho con bú: Rifampicin qua được sữa mẹ.
Thời kỳ mang thai: Rifampicin gây dị tật thần kinh ở loài gặm nhấm, nhưng hình như không
gây quái thai cho phôi người. Khi dùng thuốc này trong thai nghén, nên thêm vitamin K vào
những tuần cuối thai kỳ cho mẹ và khi đẻ cho trẻ sơ sinh.
Suy gan: Rifampicin vốn có độc tính với gan thấp. Chính việc phối hợp với các thuốc chống
lao khác (INH, ethambutol) đã làm tăng độc tính này và thường kèm theo phản ứng tiêu tế
bào.
Loạn chuyển hoá porphyrin: Rifampicin gây các đợt kịch phát rối loạn chuyển hoá
porphyrin ở những người có tố bẩm về chứng này.
209
Các trường hợp khác: Quá mẫn cảm với rifamycin.
Cần theo dõi: mức độ 1
Trẻ em: Rifampicin liều cao có thể đẩy bilirubin ra khỏi vị trí liên kết với albumin- huyết
tương. Do đó, khi xác định liều dùng cho trẻ rất nhỏ phải lưu ý đến gan chưa trưởng thành.
Suy thận: Giảm liều lượng, do thuốc chậm đào thải.
TƯƠNG TÁC THUỐC
Cân nhắc nguy cơ/ lợi ích: mức độ 3
Amprenavir
Phân tích: Rifampicin làm giảm nồng độ amprenavir trong huyết tương, nên làm giảm
tác dụng dược lý. Cơ chế là rifampicin gây cảm ứng enzym làm tăng chuyển hoá của
amprenavir thông qua CYP3A4.
Xử lý: Tránh kết hợp rifampicin với amprenavir.
Buspiron
Phân tích: Rifampicin làm giảm nồng độ buspiron trong huyết tương, nên làm giảm tác
dụng dược lý. Cơ chế là rifampicin làm tăng sự chuyển hoá của buspiron thông qua
CYP3A4.
Xử lý: Với người bệnh dùng buspiron, phải theo dõi chặt chẽ khi bắt đầu dùng
Xử lý: Với người bệnh đang dùng haloperidol, nếu dùng thêm rifampicin hoặc ngừng
dùng thuốc này, phải theo dõi chặt chẽ đáp ứng với thuốc. Hiệu chỉnh liều haloperidol
nếu cần.
Indinavir
Phân tích: Cảm ứng mạnh cytochrom P450, kèm theo tăng chuyển hoá indinavir. Từ đó,
giảm nồng độ dạng hoạt động của indinavir và như vậy giảm hiệu quả điều trị.
Xử lý: Cần theo dõi nồng độ rifampicin trong huyết tương, và khi cần, phải tăng liều
dùng.
Lamotrigin
Phân tích: Dùng kết hợp với rifampicin, nồng độ lamotrigin trong huyết tương bị giảm,
làm tác dụng dược lý giảm đi. Cơ chế có thể do rifampicin cảm ứng hệ enzym ở gan
chịu trách nhiệm liên hợp với acid glucuronic của lamotrigin.
Xử lý: Nếu cần, phải hiệu chỉnh liều dùng lamotrigin khi bắt đầu dùng, khi ngừng hoặc
khi thay đổi liều của rifampicin. Hiệu chỉnh liều dựa theo đáp ứng lâm sàng của người
bệnh với thuốc.
Methadon
Phân tích: Tương tác kiểu dược động học về chuyển hoá thuốc, kèm theo giảm nồng
độ methadon trong huyết tương, và nguy cơ xuất hiện hội chứng cai nghiện.
Xử lý: Điều chỉnh số lần dùng methadon cho thích hợp, từ 2 đến 3 lần trong ngày thay
cho 1 lần trong ngày.
Mifepriston
Phân tích: Nguy cơ giảm hiệu quả điều trị vì tăng chuyển hoá mifepriston do cảm ứng
enzym.
Xử lý: Cần nhớ cảm ứng enzym là một quá trình chậm xuất hiện và cũng chậm hết. Có
thể cần tăng liều.
Morphin
Phân tích: Khi kết hợp với rifampicin, tác dụng giảm đau của morphin có thể giảm đi.
Cơ chế chưa rõ.
Xử lý: Theo dõi đáp ứng của người bệnh với morphin. Nếu cần, thay thế morphin bằng
một thuốc giảm đau khác.
Phân tích: Rifampicin làm tăng chuyển hoá của repaglinid thông qua CYP 3A 4, làm
giảm nồng độ thuốc trong huyết tương, kéo theo là giảm tác dụng dược lý của thuốc
này.
Xử lý: Người bệnh đang dùng repaglinid, phải theo dõi glucose máu khi bắt đầu dùng hoặc
khi ngừng dùng rifampicin. Hiệu chỉnh liều repaglinid nếu cần.
Saquinavir
Phân tích: Cảm ứng enzym làm tăng chuyển hoá saquinavir, gây giảm nồng độ dạng
hoạt động của saquinavir trong huyết tương và giảm hiệu quả điều trị.
Xử lý: Nên tìm liệu pháp khác thay cho các liệu pháp này, khi phải dùng đồng thời
saquinavir. Nếu không được, phải tăng liều saquinavir để không giảm hoạt tính kháng
virus.
Thuốc chống trầm cảm ba vòng
Phân tích: Rifampicin làm giảm nồng độ các thuốc chống trầm cảm ba vòng trong
huyết tương, làm giảm tác dụng dược lý. Cơ chế do cảm ứng, làm cho chuyển hoá
thuốc chống trầm cảm ba vòng ở gan tăng lên.
Xử lý: Theo dõi thường xuyên nồng độ thuốc chống trầm cảm ba vòng khi bắt đầu
dùng, khi ngừng hoặc khi thay đổi liều của rifampicin. Hiệu chỉnh liều thuốc chống trầm
cảm nếu cần.
Tương tác cần thận trọng: mức độ 2
Amineptin; carmustin hoặc dẫn chất; dantrolen; doxorubicin hoặc dẫn chất;
fluvoxamin; griseofulvin; isoniazid hoặc thuốc tương tự; macrolid; mercaptopurin;
methotrexat; progabid; natri valproat hoặc dẫn chất; vàng
Phân tích: Phối hợp thuốc có tiềm năng độc với gan (hiệp đồng các tác dụng phụ).
Xử lý: Khi phối hợp hai thuốc độc với gan, phải theo dõi chặt chẽ chức năng gan
(ASAT, ALAT, phosphatase kiềm, bilirubin) hoặc hoãn dùng nếu có thể một trong hai
thứ thuốc. Cần xác định chắc chắn người bệnh không thường xuyên uống rượu, và
không có tiền sử viêm gan virus. Các triệu chứng chính trên lâm sàng không đặc hiệu:
buồn nôn, sốt, vàng da... Khi thấy đồng thời phát ban ngoài da, ngứa, hạch to, nhiều
khả năng nguyên nhân do thuốc. Dựa theo các xét nghiệm sinh học, cần phân biệt rõ
nguy cơ xuất hiện viêm gan tiêu tế bào không hồi phục với nguy cơ viêm gan ứ mật
đầu kết hợp với thuốc thứ hai.
Disopyramid
Phân tích: Do cảm ứng enzym, có sự giảm nồng độ disopyramid trong huyết thanh tới
nồng độ không còn hiệu lực.
Xử lý: Theo dõi điện tâm đồ, các biểu hiện lâm sàng, và nồng độ thuốc
chống loạn nhịp tim trong huyết thanh và khi cần điều chỉnh liều lượng cho thích hợp.
Glycosid trợ tim
Phân tích: Tăng chuyển hoá ở gan do cảm ứng enzym, kéo theo giảm hoạt tính của
digitalis bị chuyển hoá (tức là digitalin, không phải digoxin, ít bị chuyển hoá ở gan).
Xử lý: Tính tới nguy cơ này để hiệu chỉnh liều lượng của digitalin (digoxin được đào
thải qua thận) nếu cần phối hợp thuốc. Hiệu chỉnh liều lượng trong và sau khi điều trị.
Hormon tuyến giáp
Phân tích: Tăng chuyển hoá của thuốc phối hợp với thuốc cảm ứng enzym. Cảm ứng
enzym chỉ thể hiện sau khi điều trị 10 đến 12 ngày.
Xử lý: Cảm ứng enzym không phải là hiện tượng tức thì. Điều trị bằng thuốc cảm ứng
enzym dài hay trung hạn đòi hỏi phải tính đến nguy cơ giảm hiệu quả điều trị. Hiệu
chỉnh liều lượng thích hợp trong và sau khi ngừng dùng chất cảm ứng enzym.
Interleukin 2 tái tổ hợp
Phân tích: Mục tiêu chủ yếu là điều trị ung thư tuyến thận. Interleukin cũng độc với gan.
Như vậy, ở đây phối hợp hai thuốc có tiềm năng độc với gan.
Xử lý: Điều trị này chỉ được thực hiện ở cơ sở chuyên khoa. Dùng interleukin đòi hỏi
phải theo dõi liên tục. Trong trường hợp này, mọi việc đều tuỳ thuộc vào tình trạng
chung của người bệnh. Khi phối hợp hai thuốc độc với gan, cần theo dõi chặt chẽ
chức năng gan (ASAT, ALAT, phosphatase kiềm, bilirubin), hoặc nếu có thể, hoãn dùng
một trong hai thuốc.
213
Mexiletin
Phân tích: Là phối hợp kinh điển, tuy nhiên là phối hợp hai thuốc điều trị lao độc với
gan.
Xử lý: Phải theo dõi hiệu quả kháng khuẩn khi phối hợp thuốc, nhưng cũng phải theo
dõi chặt chẽ chức năng gan (ASAT, ALAT, phosphatase kiềm, bilirubin) hoặc nếu có
thể, hoãn một trong hai thuốc. Xác định chắc chắn người bệnh không thường xuyên
uống rượu, và không có tiền sử viêm gan virus. Các triệu chứng lâm sàng chính không
đặc hiệu: buồn nôn, sốt, vàng da... Nếu xuất hiện đồng thời phát ban ngoài da, ngứa
và hạch to, thì có thể do thuốc.
Quinidin hoặc dẫn chất
Phân tích: Tăng chuyển hoá ở gan, kéo theo giảm hoạt tính của quinidin (hay các dẫn
chất).
Xử lý: Tính tới nguy cơ này để hiệu chỉnh liều lượng hai thuốc cho thích hợp, nếu cần
phối hợp, phải theo dõi chặt chẽ nồng độ thuốc trong huyết tương và phải cảnh giác
khi ngừng điều trị. Cần nghĩ tới giảm tỉnh táo ở người lái xe, người đứng máy. Khuyên
không uống rượu và các chế phẩm có rượu.
214
Quinin hoặc thuốc tương tự
Phân tích: Tăng chuyển hoá ở gan do cảm ứng enzym, kéo theo giảm hoạt tính của
quinin (hay thuốc tương tự).
Xử lý: Lưu ý nguy cơ này để hiệu chỉnh liều lượng hai thuốc cho thích hợp, nếu cần
phối hợp thuốc. Theo dõi cẩn thận, nếu cần hiệu chỉnh nồng độ quinin trong huyết
tương và cần cảnh giác khi ngừng điều trị.
Sulfamid chống tiểu đường
Phân tích: Tương tác này được mô tả với tolbutamid: giảm nồng độ tolbutamid trong
huyết tương do cảm ứng enzym cytochrom P 450. Tương tác dược động học về chuyển
hoá thuốc.
Xử lý: Nên tăng liều tolbutamid. Theo dõi glucose máu trong và sau khi ngừng thuốc.
Thuốc uống chống đông máu kháng vitamin K
Phân tích: Rifampicin cảm ứng enzym làm tăng nhanh dị hoá thuốc chống đông máu ở
gan. Cảm ứng enzym không phải là hiện tượng tức thì, và điều trị với chất cảm ứng
enzym phải ít nhất 10 ngày mới thể hiện tác dụng.
215
Xử lý: Phải tính tới hiệu ứng này để điều chỉnh liều lưọng thích hợp. Việc theo dõi
sinh học (tỉ lệ prothrombin và tỉ lệ chuẩn hóa quốc tế - INR) phải thường xuyên hơn
khi bắt đầu điều trị với thuốc chống đông máu cũng như trong và sau khi điều trị với
thuốc cảm ứng enzym. Chú ý trình tự thời gian dùng thuốc.
Tocainid
Phân tích: Tác dụng dược lý của tocainid bị giảm khi kết hợp với rifampicin. Cơ chế
chưa rõ, nhưng người ta cho rằng rifampicin làm tăng chuyển hoá tocainid ở gan.
Xử lý: Với thông tin hiện có, không có khuyến nghị gì đặc biệt. Theo dõi nồng độ
tocainid trong huyết tương và hiệu chỉnh liều lượng cho phù hợp.
Toremifen
Phân tích: Khi kết hợp với rifampicin, nồng độ toremifen trong huyết tương giảm, làm
giảm tác dụng kháng estrogen. Cơ chế là do rifampicin làm tăng chuyển hoá
toremifen thông qua cảm ứng CYP 3A4.
Xử lý: Theo dõi đáp ứng với thuốc ở người bệnh khi dùng kết hợp với rifampicin, và
dựa vào đó, hiệu chỉnh liều toremifen khi cần thiết.
Verapamil
Phân tích: Giảm nồng độ verapamil trong huyết thanh, có thể do tác dụng cảm ứng
enzym của rifampicin (tương tác dược động học về chuyển hoá thuốc).
Xử lý: Theo dõi lâm sàng về đáp ứng với verapamil, đồng thời theo dõi nồng độ
verapamil trong huyết tương. Có nguy cơ thất bại trong điều trị, nên hiệu chỉnh liều
lượng cho thích hợp khi cần.
Vitamin nhóm D
TƯƠNG TÁC THUỐC
Phối hợp nguy hiểm: mức độ 4
Amiodaron; flecainid hoặc thuốc tương tự; propafenon; quinidin hoặc dẫn chất
Phân tích: Ritonavir có ái lực mạnh với isoenzym 3A 4 của cytochrom P450; qua cơ chế
cạnh tranh, làm giảm chuyển hoá của các thuốc bị cytochrom P 450 chuyển hoá mạnh.
Do đó có sự tăng nồng độ các thuốc đó trong huyết tương, tăng độc tính của chúng: có
nguy cơ loạn nhịp tim. Tương tác dược động học về chuyển hoá thuốc.
Xử lý: Không kê đơn phối hợp thuốc này; nghĩ đến thay thế thuốc.
Alcaloid nấm cựa gà
Phân tích: Nguy cơ nhiễm độc các alcaloid này tăng lên khi kết hợp với ritonavir hay
nhiều thuốc kháng protease khác (co thắt mạch ngoại biên, thiếu máu cục bộ các đầu
chi). Cơ chế là các thuốc kháng protease ức chế sự chuyển hoá các alcaloid của nấm
cựa gà ở gan, thông qua CYP3A4.
Xử lý: Chống chỉ định kết hợp các kháng protease với các alcaloid của nấm cựa gà.
Benzodiazepin
Phân tích: Ritonavir có ái lực mạnh với isoenzym 3A4 của cytochrom P450 nên làm giảm
chuyển hoá các thuốc bị cytochrom P450 chuyển hoá mạnh, theo cơ chế cạnh tranh.
Như vậy, có sự tăng nồng độ các thuốc này trong huyết tương, và nguy cơ tăng độc
tính của chúng. Có nguy cơ an thần kéo dài, và suy hô hấp nặng (đã mô tả với
alprazolam, dikali clorazepat, diazepam). Tương tác dược động học về chuyển hoá
thuốc.
Xử lý: Không kê đơn phối hợp thuốc này. Nghĩ đến thay thế thuốc.
Bepridil; cisaprid
Phân tích: Ritonavir có ái lực mạnh với isoenzym 3A4 của cytochrom P450 nên làm giảm
chuyển hoá các thuốc bị cytochrom P450 chuyển hoá mạnh, theo cơ chế cạnh tranh. Do
đó, nồng độ các thuốc trên trong huyết tương tăng, và nguy cơ tăng độc tính. Có nguy
cơ độc với tim kèm theo kéo dài đoạn QT và xuất hiện xoắn đỉnh. Tương tác dược
động học về chuyển hoá thuốc.
Xử lý: Không kê đơn phối hợp thuốc này. Nghĩ đến thay thế thuốc.
Chất chủ vận morphin
năng hô hấp, và tiếp tục theo dõi nhiều ngày sau khi đã ngừng fentanyl. Nếu dùng
fentanyl lâu dài, phải giảm liều.
Kháng histamin H1 không an thần
Phân tích: Cấm phối hợp với astemizol (Hismanal*). Tránh phối hợp với loratadin
(Clarytine*). Ritonavir có ái lực mạnh với isoenzym 3A 4 của cytochrom P450 qua cơ chế
cạnh tranh, làm giảm chuyển hoá các thuốc bị cytôchôm P 450 chuyển hoá mạnh. Do đó,
có sự tăng nồng độ các thuốc này trong huyết tương, và nguy cơ tăng độc tính của
chúng. Có nguy cơ độc với tim, kèm theo kéo dài khoảng QT và xuất hiện xoắn đỉnh
(chỉ được mô tả riêng với astemizol). Tương tác dược động học về chuyển hoá thuốc.
Với loratidin, có nguy cơ nhức đầu nặng và tăng tác dụng "khô miệng".
Xử lý: Không kê đơn phối hợp astemizol - ritonavir và nếu có thể, thay thế loratidin.
Nếu không thay thế được, phải theo dõi lâm sàng, hoặc báo trước nguy cơ cho người
bệnh biết để tự theo dõi (nguy cơ nhức đầu nặng).
Sildenafil
Phân tích: Dùng kết hợp sildenafil với ritonavir hay nhiều thuốc kháng protease khác,
nồng độ sildenafil trong huyết tương có thể tăng cao, gây hạ huyết áp nghiêm trọng, có
thể tử vong. Cơ chế là các kháng protease ức chế sự chuyển hoá sildenafil thông qua
CYP3A4.
Xử lý: Với người bệnh điều trị với các thuốc kháng protease, việc dùng sildenafil phải
rất cẩn thận. Không được dùng sildenafil quá 25 mg trong một lần trong vòng 48 giờ.
218
Thuốc an thần kinh
Phân tích: Ritonavir có ái lực mạnh với isoenzym 3A4 của cytochrom P450, nên làm
giảm chuyển hoá các thuốc bị cytochrom P 450 chuyển hoá mạnh, do cơ chế cạnh tranh.
Do đó có sự tăng nồng độ các thuốc này trong huyết tương, và nguy cơ tăng độc tính.
Có nguy cơ độc với tim cùng với kéo dài khoảng QT và xuất hiện xoắn đỉnh (chỉ được
mô tả với chất pimozid: Orap*). Tương tác dược động học về chuyển hoá thuốc.
về chuyển hoá thuốc.
Xử lý: Định lượng nồng độ carbamazepin huyết tương, và khi cần giảm liều
carbamazepin.
Ciclosporin; tacrolimus
Phân tích: Ritonavir có ái lực mạnh với isoenzym 3A 4 của cytochrom P450. Như vậy, có
nguy cơ cạnh tranh mạnh giữa ritonavir với các thuốc bị chuyển hoá bởi isoenzym này.
Sự cạnh tranh này làm giảm chuyển hoá của chúng, và có nguy cơ làm tăng nồng độ
của chúng trong huyết tương. Nguy cơ tăng độc tính của hai thuốc này với thận. Nguy
cơ ức chế miễn dịch mạnh, tạo điều kiện xuất hiện nhiễm khuẩn nặng. Nguy cơ thiếu
máu, giảm tiểu cầu đối với tacrolimus. Tương tác dược động học về chuyển hoá thuốc.
219
Xử lý: Theo dõi điều trị thông qua định lượng các chất ức chế miễn dịch trong huyết
tương, và khi cần hiệu chỉnh liều lượng cho thích hợp, theo nồng độ thuốc trong huyết
tương.
Dihydropyridin
Phân tích: Ritonavir có ái lực mạnh với isoenzym 3A 4 của cytochrom P450. Như vậy có
nguy cơ cạnh tranh cao giữa ritonavir với các thuốc bị chuyển hoá bởi isoenzym này.
Sự cạnh tranh này làm giảm chuyển hoá các thuốc đó, và có nguy cơ gây tăng nồng
độ của chúng trong huyết tương. Nguy cơ hạ huyết áp và phù nề ngoại biên với các
dẫn chất của dihydropyridin (nifedipin và nicardipin). Tương tác dược động học về
chuyển hoá thuốc.
Xử lý: Theo dõi người bệnh chặt chẽ về sự xuất hiện các tác dụng độc, và tùy trường
hợp, giảm liều chất chẹn kênh calci.
Estrogen hoặc thuốc ngừa thai estroprogestogen
Phân tích: Giảm diện tích dưới đường cong (AUC) của estroprogestogen, theo một cơ
chế còn chưa biết. Có nguy cơ thụ thai.
Xử lý: Đề xuất một biện pháp ngừa thai khác.
220
Meperidin
Phân tích: Dùng kết hợp với ritonavir, nồng độ meperidin trong huyết thanh giảm, đồng
thời nồng độ normeperidin tăng, làm cho hiệu quả điều trị giảm và độc tính với thần
kinh tăng. Cơ chế là do ritonavir đẩy mạnh sự chuyển hoá meperidin.
Xử lý: Chống chỉ định ritonavir ở người bệnh đang dùng meperidin.
Methadon
Phân tích: Ritonavir có ái lực mạnh với isoenzym 3A4 của cytochrom P450. Như vậy, có
nguy cơ cạnh tranh cao giữa ritonavir với các thuốc bị chuyển hoá bởi isoenzym này. Sự
cạnh tranh này làm giảm chuyển hoá thuốc đó, và có nguy cơ tăng đáng kể nồng độ của
chúng trong huyết tương. Nguy cơ an thần mạnh và suy hô hấp nặng. Tương tác dược
động học về chuyển hoá thuốc.
Xử lý: Theo dõi người bệnh chặt chẽ để xem có xuất hiện các tác dụng độc, và khi cần,
giảm liều lượng methadon.
Nevirapin
Phân tích: Dùng kết hợp với ritonavir hay với nhiều thuốc kháng protease khác,
nevirapin có thể làm tăng chuyển hoá các thuốc trên ở gan, thông qua CYP 3A 4. Hậu
quả là nồng độ ritonavir hay các kháng protease khác bị giảm đi, làm giảm hiệu quả
điều trị.
Xử lý: Theo dõi cẩn thận nồng độ ritonavir trong huyết tương, theo dõi đáp ứng của
người bệnh, khi bắt đầu dùng và khi ngừng nevirapin. Nếu cần, hiệu chỉnh liều
ritonavir.
Phenothiazin
Phân tích: Ritonavir có ái lực mạnh với isoenzym 3A 4 của cytochrom P450. Như vậy có
nguy cơ cạnh tranh cao giữa ritonavir với các thuốc bị chuyển hoá bởi isoenzym này.
Sự cạnh tranh này làm giảm chuyển hoá các thuốc đó, và có nguy cơ tăng đáng kể
nồng độ của chúng trong huyết tương. Có nguy cơ hạ huyết áp, an thần và tăng các
nồng độ của chúng trong huyết tương. Có nguy cơ hạ glucose máu dẫn tới hôn mê (đã
được mô tả với tolbutamid). Tương tác dược động học về chuyển hoá thuốc.
Xử lý: Định lượng đều đặn glucose máu và khi cần, giảm liều lượng của sulfamid
chống tiểu đường.
Theophylin
Phân tích: Giảm diện tích dưới đường cong (AUC) của theophylin, kèm theo giảm hiệu
quả điều trị.
Xử lý: Định lượng đều đặn nồng độ theophylin trong huyết tương và khi cần tăng liều
lượng.
Thuốc an thần kinh khác nhau
Phân tích: Ritonavir có ái lực mạnh với isoenzym 3A 4 của cytochrom P450. Như vậy, có
nguy cơ cạnh tranh cao giữa ritonavir với các thuốc bị chuyển hoá bởi isoenzym này.
Sự cạnh tranh này làm giảm chuyển hoá các thuốc đó, và có nguy cơ tăng đáng kể
nồng độ của chúng trong huyết tương. Nguy cơ hạ huyết áp, an thần và tăng các tác
dụng ngoại tháp (đã được mô tả với risperidon - Risperdal*, trong họ này). Tương tác
dược động học về chuyển hoá thuốc. Phối hợp nguy hiểm với pimozid.
Xử lý: Theo dõi người bệnh chặt chẽ để xem có xuất hiện các tác dụng độc, và khi cần
giảm liều lượng các thuốc an thần kinh.
Thuốc chống nấm dẫn xuất imidazol
Phân tích: Ritonavir có ái lực mạnh với isoenzym 3A4 của cytochrom P450, nên có nguy
cơ cạnh tranh mạnh giữa ritonavir với các thuốc bị chuyển hoá bởi isoenzym này. Sự
cạnh tranh này làm giảm chuyển hoá các thuốc đó, và có nguy cơ tăng đáng kể nồng
độ của các thuốc đó trong huyết tương. Nguy cơ tăng độc tính với gan (đã được mô tả
với ketoconazol, itraconazol). Tương tác dược động học về chuyển hoá thuốc.
Xử lý: Theo dõi chặt chẽ chức năng gan (định lượng các enzym gan) và khi cần giảm
liều lượng thuốc chống nấm.
Thuốc chống trầm cảm ba vòng hoặc thuốc tương tự
Phân tích: Ritonavir có ái lực mạnh với isoenzym 3A4 của cytochrom P450, nên có nguy
cơ cạnh tranh mạnh giữa ritonavir với các thuốc bị chuyển hoá bởi isoenzym này. Sự
cạnh tranh này làm giảm chuyển hoá, gây nguy cơ tăng đáng kể nồng độ của các
RƯỢU
Rượu ethylic dùng ở đây không phải là một hoạt chất, mà chỉ là một tá dược của thuốc (thí
dụ rượu thuốc). Nếu cần nêu ra những tương tác giữa thuốc với rượu,
thì tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương lại có thể là quan trọng
CÁC THUỐC TRONG NHÓM
Các loại rượu thuốc
Bách tuế tửu
Nhân sâm dược tửu
Rượu bát trân đại bổ
Rượu bổ linh chi sâm
Rượu bổ sâm dưỡng huyết
Rượu bổ sâm quy
Rượu bổ sâm thục
Rượu cao khỉ
Rượu cao xương
Rượu đương quy bổ huyết đặc chế
Rượu hải mã
Rượu ngũ gia bì
Rượu nhân sâm
Rượu phong tê thấp
Rượu phong thấp A
Rượu rắn
Rượu rắn Hải Phòng
Rượu tắc kè
Rượu tắc kè I và II
223
Rượu thập toàn đại bổ
Rượu trường thọ
rượu
lúc
đói.
Nếu
đã
biết
người
bệnh
nghiện rượu, tránh ghi đơn clorpropamid (Diabinese*) và chọn một sulfonylurê khác.
Các chất chẹn alpha – 1 adrenergic
Phân tích: Nguy cơ hạ huyết áp tăng lên, đặc biệt ở người thiếu hụt aldehyd
dehydrogenase (có thể nhận biết những người này ở hiện tượng đỏ mặt ngay khi uống
một ít rượu). Có ý kiến giải thích là khi hệ thần kinh giao cảm bị các chất chẹn alpha
adrenergic ức chế, thì tác dụng của rượu gây nên hạ huyết áp sẽ tăng lên.
Xử lý: Phải cảnh báo những người dùng các chất chẹn alpha -1 adrenergic không được
uống rượu, đặc biệt đối với những người dễ đỏ mặt khi uống rượu.
Cephalosporin có nhân thiomethyltetrazol (cefamandol,
cefonicid, cefotetan, ceforanid, latamoxef, moxalactam...)
cefmenoxin, cefoperazon,
Phân tích: Tác dụng antabuse (kiểu disulfiram), cộng thêm nguy cơ độc với gan. Một
hàm lượng bất thường acetaldehyd tích luỹ trong các mô (ức chế enzym) kéo theo một
số dấu hiệu lâm sàng, như cơn vận mạch, giãn mạch mạnh, nhịp tim nhanh, nhiệt độ
cao, buồn nôn, nôn, ban đỏ ngoài da, đôi khi hạ huyết áp và trụy tim mạch. Các triệu
chứng này có thể nặng, nhẹ tùy thuộc lượng rượu uống vào nhiều hay ít. Nguy cơ tác
dụng antabuse chỉ thể hiện với cefamandol, latamoxef, cefoperazon và cefmenoxin, do
phân tử các chất trên có nhân tetrazol. Tác dụng này xảy ra khi uống rượu sau khi điều
trị bằng cephalosporin. Tác dụng có thể xảy ra ngay hoặc có thể sau 5 ngày.
224
nặng hay nhẹ tuỳ thuộc vào lượng rượu uống vào nhiều hay ít. Tác dụng antabuse
được dùng để điều trị nghiện rượu, trong những đợt điều trị giải độc.
Xử lý: Trong quá trình điều trị bằng chất này, khuyên người bệnh không nên uống
rượu, do tác dụng disulfiram. Cần chú ý đến tất cả các chế phẩm hay các thuốc có
chứa rượu.
Furazolidon
Phân tích: Có tác dụng kiểu disulfiram (đỏ mặt, viêm kết mạc, chảy nước mắt, suy
nhược khi uống rượu sau khi đã dùng furazolidon). Cơ chế là furazolidon ức chế
enzym chuyển hoá acetaldehyd thành acetat.
Xử lý: Nhắc nhở người bệnh không được uống rượu.
Griseofulvin; nitrofuran; phenicol; procarbazin
Phân tích: Tác dụng antabuse (kiểu disulfiram) cộng thêm nguy cơ độc với gan. Một
lượng acetaldehyd bất thường tích lũy ở mô (ức chế enzym) kéo theo một số dấu hiệu
lâm sàng, như mặt đỏ bừng, giãn mạch mạnh, tim đập nhanh, nhiệt độ cao, buồn nôn,
nôn, ban đỏ ngoài da, đôi khi hạ huyết áp và trụy tim mạch. Các triệu chứng này nặng
nhẹ tùy thuộc lượng rượu uống vào nhiều hay ít.
Xử lý: Trong thời gian điều trị bằng chất này, khuyên người bệnh không dùng rượu do
tác dụng antabuse. Chú ý đến tất cả các chế phẩm hoặc các thuốc có chứa rượu.
Guanethidin hoặc thuốc tương tự
Phân tích: Tăng nguy cơ hạ huyết áp tư thế đứng.
225
Xử lý: Thông báo cho người bệnh, đặc biệt với người bệnh cao tuổi; khuyên họ không
uống rượu.
Insulin
Phân tích: Rượu thuận lợi cho các thuốc chống tiểu đường gây hạ glucose máu theo
một cơ chế chưa hoàn toàn biết rõ. Có thể việc tân tạo glycogen ở gan bị rượu ức chế.
Xử lý: Đối với một số người bệnh, rất khó khuyên họ hạn chế uống rượu. Cho nên phải
cho họ biết có tăng nguy cơ hạ glucose máu, và phải hạn chế tối đa uống rượu. Tránh
Phân tích: Rượu tạo thuận lợi cho các thuốc chống tiểu đường gây hạ glucose máu
theo một cơ chế chưa hiểu rõ hoàn toàn. Có thể vì sự tân tạo glycogen ở gan bị ức
chế do rượu. Thêm vào đó, hiệu ứng antabuse (kiểu disulfiram) với clorpropamid
(Diabinese*), và ở mức độ ít hơn với tolbutamid (Dolipol*), glibenclamid (Daonil*,
Euglucan*), glipizid (Glibenese*, Minidiab*), do có tác động đến chuyển hoá của rượu.
Một lượng bất thường acetaldehyd sẽ tích lũy ở mô (ức chế enzym) gây ra một số dấu
hiệu lâm sàng như: cơn vận mạch (mặt đỏ bừng), giãn mạch mạnh, tim đập nhanh,
tăng nhiệt độ, buồn nôn, nôn, ban đỏ ngoài da, đôi khi hạ huyết áp và trụy tim mạch.
Các triệu chứng này nặng hay nhẹ là tuỳ theo lượng rượu uống vào nhiều hay ít.
Xử lý: Đối với một số người bệnh, luôn luôn có khó khăn trong việc khuyên họ giảm
uống rượu. Cần phải nhắc họ cảnh giác với nguy cơ hạ glucose máu sẽ tăng lên và
nên uống rượu càng ít càng tốt. Đặc biệt cần tránh uống rượu lúc đói. Nếu đã biết
226