SỞ Y TẾ THÀNH PHỐ CẦN THƠ
TRUNG TÂM Y TẾ DỰ PHÒNG QUẬN Ô MÔN
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ
KHẢO SÁT KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ
VỀ PHÒNG LÂY NHIỄM HIV/AIDS VÀ MỘT SỐ
YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở HỌC SINH TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LƯU HỮU PHƯỚC,
QUẬN Ô MÔN NĂM HỌC 2015 – 2016
Ô Môn - 2015
SỞ Y TẾ THÀNH PHỐ CẦN THƠ
TRUNG TÂM Y TẾ DỰ PHÒNG QUẬN Ô MÔN
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ
KHẢO SÁT KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ
VỀ PHÒNG LÂY NHIỄM HIV/AIDS VÀ MỘT SỐ
YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở HỌC SINH TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LƯU HỮU PHƯỚC,
QUẬN Ô MÔN NĂM HỌC 2015 – 2016
Chủ nhiệm đề tài: Võ Việt Xuân
Cộng sự:
1/. Nguyễn Hải Đăng;
2/. Trần Thị Ngọc Huyền;
3/. Lê Hồng Tươi.
4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu và nguồn thông tin về
phòng lây nhiễm HIV/AIDS..................................................................... 52
4.2. Kiến thức và thái độ về phòng lây nhiễm HIV/AIDS của học sinh
trường trung học phổ thông Lưu Hữu Phước ............................................ 54
4.3. Các yếu tố liên quan đến kiến thức và thái độ đúng trong phòng lây
nhiễm HIV/AIDS của học sinh trường trung học phổ thông Lưu Hữu Phước
................................................................................................................. 60
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.................................................................... 64
5.1. Kết luận ............................................................................................. 64
5.2. Kiến nghị........................................................................................... 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................................
PHỤ LỤC........................................................................................................
Phụ lục 1: Bảng câu hỏi phỏng vấn...............................................................
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
AIDS
Acquired Immune Deficiency Syndrome
Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người
ARV
Thuốc kháng vi rút sao chép ngược
CBYT
Quan hệ tình dục
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông
TTGDSK
Truyền thông giáo dục sức khỏe
TTYTDP
Trung tâm Y tế dự phòng
WHO
World Health Organization
Tổ chức Y tế Thế giới
DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 1.1. Số trường hợp nhiễm mới và tử vong do HIV/AIDS của
thành phố Cần Thơ từ năm 2006 đến 9 tháng đầu năm 2013
6
Bảng 3.7. Đối tượng nghiên cứu có hay chưa có người yêu
36
Bảng 3.8. Phân bố về thứ tự trong gia đình
36
Bảng 3.9. Phân bố kết quả học tập của đối tượng nghiên cứu
36
Bảng 3.10. Nguồn cung cấp thông tin về phòng lây nhiễm HIV/AIDS
37
Bảng 3.11. Phân bố học sinh đã từng nghe nói về HIV/AIDS
37
Bảng 3.12. Kiến thức chung cơ bản về HIV/AIDS
38
Bảng 3.13. Phân bố kiến thức về các đường lây truyền HIV
39
Bảng 3.14. Phân bố kiến thức về các nhóm có nguy cơ cao nhiễm HIV
Bảng 3.21. Thái độ tham gia các hoạt động phòng lây nhiễm
HIV/AIDS
43
Bảng 3.22. Thái độ thực hiện các biện pháp phòng lây nhiễm
HIV/AIDS
44
Bảng 3.23. Mối liên quan giữa khối lớp với kiến thức chung đúng về
phòng lây nhiễm HIV/AIDS
45
Bảng 3.24. Mối liên quan giữa giới tính với kiến thức chung đúng về
phòng lây nhiễm HIV/AIDS
45
Bảng 3.25. Mối liên quan giữa số thành viên trong gia đình với kiến
thức chung đúng về phòng lây nhiễm HIV/AIDS
46
Bảng 3.26. Mối liên quan giữa có người yêu với kiến thức chung đúng
về phòng lây nhiễm HIV/AIDS
46
Bảng 3.33. Mối liên quan giữa có người yêu với thái độ chung đúng
về phòng lây nhiễm HIV/AIDS
50
Bảng 3.34. Mối liên quan giữa kết quả học tập với thái độ chung đúng
về phòng lây nhiễm HIV/AIDS
50
Bảng 3.35. Mối liên quan giữa kiến thức với thái độ về phòng lây
nhiễm HIV/AIDS
50
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 3.1. Tỷ lệ kiến thức chung đúng về phòng lây nhiễm HIV/AIDS .....42
Biểu đồ 3.2. Tỷ lệ thái độ chung đúng về phòng lây nhiễm HIV/AIDS .........44
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tính từ đầu vụ dịch (năm 1981) đến nay trên thế giới đã có 60 triệu
người nhiễm HIV, trong đó có khoảng 25 triệu người đã chết do các bệnh có
liên quan đến AIDS [8].
và quan hệ tình dục không an toàn có liên quan đến lây nhiễm HIV/AIDS. Vì
vậy, chúng tôi quyết định chọn đối tượng học sinh trung học phổ thông để tìm
hiểu kiến thức và thái độ về phòng, chống HIV/AIDS để từ đó có cơ sở và bổ
sung những thông tin hợp lý cho lứa tuổi này. Nghiên cứu được tiến hành
mong muốn sẽ giúp cho y tế cũng nhưng chính quyền tại địa phương có biện
pháp thông tin, giáo dục và truyền thông phòng, chống HIV/AIDS tại địa
phương hiệu quả hơn nữa, góp phần làm tăng kiến thức, thái độ đúng về
phòng, chống HIV/AIDS và giảm lây truyền HIV/AIDS nhất là trong môi
trường trường học.
Vì những lý do trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Khảo sát
kiến thức, thái độ về phòng lây nhiễm HIV/AIDS và một số yếu tố liên quan
ở học sinh trường trung học phổ thông Lưu Hữu Phước, quận Ô Môn năm
học 2015 – 2016”. Nghiên cứu được tiến hành với các mục tiêu sau:
1. Xác định tỷ lệ kiến thức, thái độ đúng về phòng lây nhiễm
HIV/AIDS của học sinh trường trung học phổ thông Lưu Hữu Phước
năm học 2015 – 2016.
2. Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thái độ đúng
về phòng lây nhiễm HIV/AIDS của học sinh trường trung học phổ thông
Lưu Hữu Phước năm học 2015 – 2016.
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Lịch sử và tình hình bệnh HIV/AIDS
1.1.1. Tình hình bệnh HIV/AIDS trên thế giới
AIDS đang là một thảm họa toàn cầu của thế kỷ 21, bởi vì từ trường
hợp phát hiện đầu tiên ở Hoa Kỳ năm 1981 cho tới nay nó đã trở thành đại
nằm ở sự chi phối lẫn nhau giữa hành vi nghiện chích ma túy (NCMT) và
hành vi quan hệ tình dục (QHTD) không an toàn. Trong khi đó cũng theo
UNAIDS và WHO, các chiến lược dự phòng ở Châu Á vẫn còn ít hoặc chưa
đủ mạnh, chưa phản ứng đúng thực tế về sự tồn tại của sự liên kết giữa hai
nhóm hành vi nguy cơ cao nói trên ở hầu hết các nước trong châu lục này.
Theo báo cáo của ủy ban về AIDS ở Châu Á, mặc dù đã có những tấm gương
sáng về ứng phó hiệu quả và tập trung ở châu Á, như ở Campuchia, Thái Lan
và ở một số bang của Ấn Ðộ, nhưng các ứng phó nhiều khi vẫn chưa kịp thời
hoặc không duy trì được hiệu quả lâu dài. Các quốc gia vẫn chưa coi đây là
nhiệm vụ cấp thiết và các ứng phó còn thiếu sự gắn kết với nhau.
1.1.2. Tình hình bệnh HIV/AIDS ở Việt Nam
Ở Việt Nam sau gần 20 năm kể từ trường hợp nhiễm HIV đầu tiên phát
hiện ở Thành phố Hồ Chí Minh tháng 12/1990. Năm 1993, dịch HIV bùng nổ
trong nhóm NCMT ở Thành phố Hồ Chí Minh, đến tháng 12/1998, dịch đã
lan tràn ra toàn quốc. Tính đến ngày 31/12/2009, cả nước hiện có 160.019
trường hợp nhiễm HIV hiện còn sống, số bệnh nhân AIDS hiện tại là 35.603
người, số người nhiễm HIV đã tử vong là 44.540 trường hợp [7]. Dịch
HIV/AIDS ở nước ta vẫn trong giai đoạn tập trung, các trường hợp nhiễm
HIV chủ yếu tập trung cao nhất trong nhóm NCMT với tỷ lệ hiện nhiễm là
18,4% và gái mại dâm (GMD) tỷ lệ nhiễm HIV là 3,2%, bên cạnh đó số liệu
giám sát phát hiện cho thấy trên 50% người nhiễm HIV là NCMT. Về cơ bản,
chương trình HIV/AIDS đã kiềm chế được tốc độ gia tăng của đại dịch thể
5
hiện tỷ lệ hiện nhiễm HIV dưới 0,3% so với mục tiêu của chiến lược quốc gia
đề ra [7].
Theo ước tính và dự báo nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam năm 20072012, vào năm 2010, toàn quốc có 254.000 người nhiễm HIV, con số này sẽ
tăng lên đến 280.000 vào năm 2012. Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm
trường hợp nhiễm HIV, trong đó có 84 bệnh nhân AIDS và 18 trường hợp tử
vong do AIDS. So với cùng kỳ số trường hợp nhiễm HIV mới phát hiện giảm
24,7%; số bệnh nhân AIDS giảm 3,4%; số tử vong do AIDS gảm 40%. Đa số
các quận huyện đều có người nhiễm mới HIV giảm, riêng huyện Thới Lai có
số bệnh nhân mới nhiễm HIV tăng 8 trường hợp, huyện Phong Điền tăng 15
trường hợp, quận Bình Thủy tăng 14 trường hợp [40].
Bảng 1.1. Số trường hợp nhiễm mới và tử vong do HIV/AIDS của thành
phố Cần Thơ từ năm 2006 đến 9 tháng đầu năm 2013
[2], [3], [4], [5], [32], [40]
Số nhiễm
Tích lũy
Số bệnh
Số tử vong
mới HIV
HIV
nhân AIDS
do AIDS
2006
733
7.011
149
75
2010
638
7.649
81
31
2011
462
8.111
96
31
2012
465
Bảng 1.2. Số trường hợp nhiễm mới và tử vong do HIV/AIDS ở quận Ô
Môn từ năm 2012 đến 2014
Năm
Số nhiễm
Tích lũy
Số bệnh
Số tử vong
mới HIV
HIV
nhân AIDS
do AIDS
2012
2013
2014
1.2. Đặc điểm dịch tễ học của bệnh HIV/AIDS
1.2.1. Vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người
1.2.1.1. Đặc điểm
Bệnh do vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch ở người (Human
Immunodeficiency Virus, viết tắt là HIV) được thông báo lần đầu năm 1981
tại Mỹ. Đây là một retrovirus (vi rút có khả năng sao chép ngược) có ái tính
cao với các tế bào Lympho [9].
do HIV nhiều hơn tế bào TCD4 mới được cơ thể sản sinh thay thế, vì vậy,
theo thời gian thì lượng TCD4 sẽ giảm dần với các tốc độ khác nhau [9].
1.2.2. Một số khái niệm cơ bản về HIV/AIDS
- HIV: là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh "Human Immunodeficiency
Virus" là vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người, làm cho cơ thể suy giảm khả
năng chống lại các tác nhân gây bệnh [29].
- AIDS: là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh "Acquired Immune
Deficiency Syndrome" là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải do HIV gây
ra, thường được biểu hiện thông qua các nhiễm trùng cơ hội, các ung thư và
có thể dẫn đến tử vong [29].
9
- Suy giảm miễn dịch: là giảm sức đề kháng của cơ thể đối với tác nhân
gây bệnh như các vi sinh vật và các yếu tố có khả năng gây bệnh khác. HIV
có nhiều nhất trong máu, tinh dịch, dịch âm đạo, niêm mạc âm đạo và cổ tử
cung. Ngoài ra, HIV còn tìm thấy trong nước bọt, nước mắt, sữa mẹ, nước
tiểu, nước não tủy của những người bị nhiễm, nhiều cuộc nghiên cứu dịch tễ
học và xét nghiệm cho thấy chỉ có máu, tinh dịch và dịch tiết âm đạo đóng vai
trò quan trọng trong việc làm lan truyền HIV .
- Kỳ thị người nhiễm HIV: là thái độ khinh thường hay thiếu tôn trọng
người khác vì biết hoặc nghi ngờ người đó nhiễm HIV hoặc vì người đó có
quan hệ gần gũi với người nhiễm HIV hoặc bị nghi ngờ nhiễm HIV [29].
- Phân biệt đối xử với người nhiễm HIV: là hành vi xa lánh, từ chối,
tách biệt, ngược đãi, phỉ báng, có thành kiến hoặc hạn chế quyền của người
khác vì biết hoặc nghi ngờ người đó nhiễm HIV hoặc vì người đó có quan hệ
gần gũi với người nhiễm HIV hoặc bị nghi ngờ nhiễm HIV [29].
1.2.3. Các phương thức lây truyền của HIV
Các nghiên cứu cho thấy mặc dù HIV có mặt ở mọi mô và dịch thể của
đạo của nữ) với đủ lượng có thể làm lây truyền từ người này sang người khác,
cho nên về nguyên tắc mọi sự tiếp xúc trực tiếp với dịch sinh dục của người
mà ta không biết chắc chắn là chưa nhiễm HIV có nguy cơ bị nhiễm HIV.
Ngoài ra, trong khi quan hệ tình dục HIV còn có thể lây truyền qua đường
máu (máu kinh nguyệt, máu từ các vết thương hoặc vết loét, vết xước ở cơ
quan sinh dục do động tác giao hợp gây ra) [11].
Vì vậy, có thể nói tất cả các hình thức quan hệ tình dục (dương vật –
hậu môn, dương vật – âm đạo, dương vật – miệng) với một người nhiễm HIV
đều có nguy cơ lây nhiễm HIV. Các kiểu quan hệ tình dục không xâm nhập
nếu có tiếp xúc trực tiếp với dịch sinh dục cũng có nguy cơ nhiễm HIV nếu
một trong hai bạn tình đã bị nhiễm HIV. Tuy nhiên, mức độ nguy cơ là khác
nhau, nếu xếp theo thứ tự các kiểu quan hệ tình dục xâm nhập phổ biến thì
nguy cơ từ cao đến thấp là: quan hệ tình dục qua đường hậu môn, qua đường
11
âm đạo và cuối cùng là qua đường miệng. Nhìn chung, cả 3 kiểu quan hệ tình
dục này thì người nhận tinh dịch có nguy cơ lây nhiễm HIV cao hơn [11].
1.2.3.2. Lây truyền HIV qua đường máu
Bao gồm tiếp xúc trực tiếp với máu, các sản phẩm máu hoặc các tạng
hay mô cấy ghép bị nhiễm HIV.
HIV có nhiều trong máu toàn phần cũng như trong các thành phần của máu
như hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu, huyết tương và các yếu tố đông máu. Do đó,
HIV có thể lây truyền qua máu hoặc các chế phẩm của máu có nhiễm HIV [11].
Tiếp xúc trực tiếp với mẫu máu đã bị nhiễm HIV có thể xảy ra khi:
- Truyền máu mà mẫu máu đó không được xét nghiệm sàng lọc phát
hiện HIV [8];
- Sử dụng chung bơm kim tiêm, nhất là đối với các người tiêm chích
ma túy (người nhiễm HIV tiếp tục có hành vi tiêm chích chung bơm kim tiêm
đường tiêu hóa (nếu đường tiêu hóa hoàn toàn lành lặn). Trong quá trình bú
mẹ, nếu trẻ mắc các bệnh viêm loét, nấm,... làm tổn thương niêm mạc miệng,
sẽ tạo điều kiện để HIV từ sữa mẹ, xây xát núm vú, bệnh lý tại vú của người
mẹ lây truyền sang cho trẻ. Nguy cơ và tỷ lệ lây truyền HIV từ mẹ sang con
trong thời kỳ cho bú tỷ lệ thuận với thời gian cho trẻ bú.
Vậy, nguy cơ lây truyền HIV từ mẹ HIV (+) cho con tính chung cả 3
thời kỳ không được can thiệp là 25 – 40%. Điều trị dự phòng bằng thuốc
kháng HIV (ARV) và nuôi con bằng sữa thay thế sẽ làm giảm nguy cơ lây
truyền HIV từ mẹ HIV (+) sang con xuống khoảng 12% hoặc 5% thậm chí
thấp hơn nữa [9].
1.3. Phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS
Để phòng chống lây truyền HIV qua đường máu, chúng ta phải thực
hiện các biện pháp sau:
- Bảo đảm 100% các chai máu được sàng lọc HIV trước khi truyền,
cũng như kiểm tra tình trạng nhiễm HIV của những người cho máu trước khi
lấy máu.
13
- Khi thực hiện tiêm chích, châm cứu, các thủ thuật qua da, thực hiện
thụ tinh nhân tạo....phải bảo đảm các dụng cụ được tiệt khuẩn. Tuyệt đối
phòng ngừa hiện tượng lây chéo xảy ra trong chăm sóc dịch vụ y tế.
1.4. Các công trình nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về phòng,
chống HIV/AIDS tại Việt Nam
Nguyễn Trần Hiển và cộng sự (2004) cho thấy, tỷ lệ nhiễm HIV ở người
nghiện chích ma túy là 32%, có 50,7% người nghiện chích ma túy có dùng
chung bơm kim tiêm trong 6 tháng vừa qua, Chỉ có 39,6% thường xuyên dùng
bao cao su với gái mại dâm trong 12 tháng vừa qua. Tình trạng nhiễm HIV liên
quan đến các yếu tố sau: trên 20 tuổi, có nghề nghiệp, tiêm chích ma túy hơn 2
nhân, nhưng chỉ có 50,34% luôn luôn sử dụng bao cao su. Có mối liên quan có
ý nghĩa thống kê giữa nhóm tuổi với kiến thức, kiến thức với thái độ, kiến thức,
tình trạng hôn nhân với thực hành. Qua đó, cho thấy giáo dục sức khỏe là vô
cùng cấp thiết và nhấn mạnh nhiều hơn vào các đường lây, các biện pháp
phòng lây nhiễm với đối tượng ưu tiên là những người trẻ dưới 20 tuổi [16].
Châu Nhật Ly và Nguyễn Đỗ Nguyên (2007) cho thấy, thái độ chấp
nhận các biện pháp phòng lây nhiễm cao gồm: 87,69% sử dụng bao cao su
trong quan hệ tình dục, trên 90% sử dụng các dụng cá nhân. Thực hành đúng
trong phòng lây nhiễm là tốt. Những yếu tố liên quan đến thực hành đúng:
nam giới, tuổi từ 40 trở lên, học vấn trên lớp 5 và kiến thức đúng [26].
Nhóm tác giả Nguyễn Quốc Anh, Nguyễn Việt Hồng và Lê Cự Linh
(2007) qua nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ nhiễm HIV ở đối tượng nghiện chích
ma túy là 58,6%; kiến thức phòng, chống HIV/AIDS đạt là 27,9%; thái độ
tích cực là 77,5%; thực hành đúng là 25,3%. Tình trạng nhiễm HIV của học
viên có liên quan đến những yếu tố như: hình thức sử dụng thuốc, dùng chung
bơm kim tiêm, xăm mình, quan hệ tình dục với gái mại dâm. Việc truyền
thông về phòng, chống HIV/AIDS cho các đối tượng này rất cần thiết [1].
Nhóm tác giả Trịnh Thị Sang, Lê Cự Linh và Nguyễn Thanh Nga
(2007) qua nghiên cứu cho thấy: tỷ lệ người nghiện ma túy dùng chung bơm
kim tiêm là 41,5%. Người nghiện ma túy không thường xuyên sử dụng bao
15
cao su khi quan hệ với vợ/chồng, người yêu là 72,0%; với gái mại dâm/đàn
ông làng chơi là 35,7%; với bạn tình bất chợt là 50,0%. Kiến thức phòng lây
nhiễm HIV không đạt là 36,3%. Các yếu tố tuổi, giới, thời gian tiêm chích, số
lần tiêm chích trong ngày, kiến thức về HIV có ảnh hưởng đến hành vi không
thường xuyên sử dụng bơm kim tiêm sạch và không thường xuyên sử dụng
bao cao su với các loại bạn tình của người nghiện ma túy [31].
cứu cho thấy, tỷ lệ học sinh THPT có kiến thức chung đúng về phòng, chống
HIV/AIDS là 48,3% và thái độ chung đúng là 20,6%. Có mối liên quan giữa
kiến thức chung với thái độ chung. Học sinh có kiến thức chung đúng có thái
độ chung đúng cao gấp 2 lần những học sinh không có kiến thức chung đúng
với (RR = 2; KTC 95% = 1,4 – 2,8). Qua đó đề nghị cần tăng cường và củng
cố kiến thức về HIV/AIDS của học sinh, phối hợp thông tin giáo dục truyền
thông giữa nhà trường và ban ngành y tế, đẩy mạnh hai nguồn thông tin chính
quy này ở học sinh, cần chú trọng hơn nữa những nội dung về khả năng điều
trị, khái niệm về AIDS; đặc biệt là hành vi lây truyền [19].
Trương Văn Rạng (2011) nghiên cứu cho thấy, 100% đã từng nghe nói về
HIV, 98,7% thân nhân người nhiễm HIV có kiến thức đúng về phòng lây nhiễm
HIV từ mẹ sang con, 98% có kiến thức đúng về lây nhiễm HIV qua đường máu,
92,1% có kiến thức đúng về lây nhiễm HIV qua đường tình dục, 51,7% thân
nhân người nhiễm có kiến thức chung đúng về HIV. 95,4% người thân người
nhiễm HIV có thái độ đồng ý cho trẻ có HIV đến trường, 94,0% đồng ý sử dụng
lao động có HIV, 47,0% đồng ý cho bệnh nhân có HIV nằm chung phòng khi
vào viện. 53,0% sử dụng bao cao su trong quan hệ tình dục ngoài hôn nhân.
94,0% người thân đồng ý sử dụng chung nhà vệ sinh với người nhiễm HIV,
88,1% đồng ý tiếp tục ăn chung với người nhiễm, 90,7% đồng ý ngủ chung với
người nhiễm, 72,8% đồng ý giặt chung đồ với người nhiễm [30].
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Bá Ngọc và Nguyễn Cảnh Phú (2011)
cho thấy, trong các đường lây truyền HIV/AIDS tỷ lệ học sinh trung học phổ
thông (THPT) hiểu đúng cao nhất là dùng chung bơm kim tiêm (100%), tỷ lệ