ĐẶT VẤN ĐỀ
“Ung thư_một căn bệnh chết người”. Hai chữ “ung thư” thường gieo
vào trong chúng ta một nỗi sợ hãi. Xã hội ngày càng phát triển sức khỏe
con người càng đứng trước nhiều mối đe dọa, nguy cơ nguy hiểm hơn. Và
ung thư là một trong số đó. Theo ước tính và thống kê của Tổ chức y tế thế
giới (WHO) thì hàng năm trên toàn cầu có khoảng 9-10 triệu người mới
mắc bệnh ung thư và một nửa trong số đó chết vì căn bệnh này.
Ung thư cổ tử cung (UTCTC) là bệnh phổ biến trong các loại ung thư
đối với phụ nữ trên toàn thế giới chỉ sau ung thư vú. Và nó là nguyên nhân
hàng đầu gây tử vong do ung thư cho phụ nữ. Các số liệu thống kê về
UTCTC cho thấy cứ hàng năm lại có khoảng 466.000 trường hợp UTCTC
mới được phát hiện trên toàn cầu. Gần 80% các trường hợp này là ở các
nước đang phát triển như nước ta.
[tạp chí y học thực hành bộ y tế]
Ung thư cổ tử cung có thể xảy ra với bất kỳ ai và đặc biệt, bệnh
thường tấn công vào phụ nữ ở 35-40
[4]
tuổi trở đi. Đây là giai đoạn cực kỳ
quan trọng trong cuộc đời của một người phụ nữ với nhiều thiên chức lớn
lao: làm vợ, làm mẹ, là người chăm sóc gia đình và hơn thế nữa, ở độ tuổi
này phụ nữ cũng đồng thời đã tạo dựng được sự nghiệp của mình. Nếu
không có các biện pháp can thiệp sàng lọc, dự phòng và điều trị UTCTC
thì trong vòng 20 năm nữa, tỷ lệ mắc mới và tử vong do căn bệnh này sẽ
tăng thêm khoảng 25%.[1] Ước tính năm 2008 trên thế giới có 529.409 ca
mới mắc, 274.883 ca tử vong. Tại Việt Nam, ung thư cổ tử cung là ung thư
thường gặp thứ năm ở phụ nữ với xuất độ chuẩn tuổi là 11,4/100.000, tử
suất là 5,7/100.000. Ước tính năm 2008 có 5.174 ca mới mắc và 2.472 ca
tử vong. Tại thành phố Hồ Chí Minh, ung thư cổ tử cung là ung thư thường
gặp thứ nhì ở nữ với xuất độ chuẩn tuổi 15,4/100.000 vào năm 2008.[2]
Năm 2012, ở Việt Nam đã có gần 6.200 phụ nữ được chẩn đoán mắc mới
ung thư cổ tử cung và đã có trên 2.400 phụ nữ tử vong do ung thư cổ tử
đoạn muộn chiếm đa số . UTCTC là bệnh có thể phòng ngừa được, do đó
kiến thức và thực hành về phòng ngừa UTCTC của phụ nữ là yếu tố quan
trọng để đạt được các mục tiêu của chương trình. Nâng cao kiến thức và
thực hành phòng bệnh UTCTC đúng cho đối tượng có nguy cơ sẽ là biện
pháp can thiệp cộng đồng có hiệu quả lâu dài nhằm giảm gánh nặng
bệnh tật.[2][4] Thấy được vai trò và ý nghĩa quan trọng của việc chủng
ngừa, phát hiện sớm bệnh ung thư cổ tử cung ở phụ nữ chúng tôi quyết
định tiến hành đề tài nghiên cứu: “ Khảo sát Kiến thức- Thái độ- Thực
hành trong phòng chống ung thư cổ tử cung của phụ nữ từ 15 đến 49
tuổi ở Thành phố Huế” với 3 mục tiêu sau:
1. Xác định mức độ hiểu biết và thái độ của đối tượng về bệnh ung
thư cổ tử cung làm cơ sở xây dựng các chương trình can thiệp
truyền thông tại nước ta.
2. Đánh giá những hành vi của đối tượng liên quan đến việc phòng
chống bênh ung thư cổ tử cung.
3. Đưa ra những giải pháp thích hợp để phòng chống ung thư cổ tử
cung hiệu quả.
Chương I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1. SƠ LƯỢC VỀ UNG THƯ CỔ TỬ CUNG
1.1. Khái niệm
Ung thư cổ tử cung là sự biển đổi ác tính của các lớp biểu mô cổ tử
cung, 95% ung thư xuất phát từ lớp biểu mô lát tầng. Đây là bệnh lý ác tính
thường gặp ở phụ nữ, đứng hang đầu trong các ung thư đường sinh dục nữ.
[12]
1.2. Các yếu tố nguy cơ
- Nhiễm virus, đặc biệt là nhiễm HPV. HPV đã được xác định là
nguyên nhân gây ung thư cổ tử cung. Đã có trên 100 type HPV tuy nhiên
chỉ có 4 type chính (nguy cơ cao) liên quan đến ung thư cổ tử cung là các
type 16, 18, 31,35.
khác của cơ thể, đây chính là giai đoạn nguy hiểm nhất của bệnh. Khoảng
1% bệnh nhân ở giai đoạn 2 phát triển thành loại ung thư nguy hiểm này.
1.4. Biểu hiện lâm sàng
Kết hợp với xói mòn cổ tử cung: thông thường bệnh nhân ung thư cổ
tử cung thường bị xói mòn cổ tử cung, cổ tử cung bị xói mòn nghiêm trọng
chính là nguyên nhân gây ra bệnh ung thư.
Chảy máu khi quan hệ: chảy máu khi quan hệ là triệu chứng nổi bật
nhất của bệnh ung thư cổ tử cung, có đến 70% - 80% bệnh nhân ung thư có
hiện tượng xuất huyết âm đạo. Các biểu hiện thường thấy như sau khi quan
hệ xong hoặc kiểm tra phụ khoa, khí hư có lẫn máu.
Xuất huyết âm đạo bất thường: đối với phụ nữ mãn kinh nhiều năm,
bỗng nhiên ra máu không lí do. Lượng máu không nhiều, hơn nữa không
kèm theo các triệu chứng đau bụng, đau lưng, thì không được bỏ qua dễ
dàng những triệu chứng này. Hiện tượng chảy máu bất thường này là triệu
chứng của ung thư cổ tử cung giai đoạn sớm, có rất nhiều chị em phụ nữ
lớn tuổi khi thấy hiện tượng này đã đến để kiểm tra, phát hiện sớm bệnh
ung thư cổ tử cung và được điều trị kịp thời.
Đau: thường xuất hiện triệu chứng đau bụng dưới hoặc đau thắt lưng,
đôi lúc còn đau ở bụng trên, đùi và các khớp, mỗi khi đến kì kinh, đại tiện
hoặc quan hệ sẽ đau trầm trọng hơn, đặc biệt dây chằng xương cùng tử
cung hoặc lan rộng dọc theo dây chằng dưới cùng, có thể hình thành nên
viêm mô liên kết cổ tử cung mãn tính, khi dây chằng chính cổ tử cung mở
rộng, triệu chứng đau sẽ nhiều hơn. Mỗi khi tiếp xúc vào cổ tử cung thì sẽ
thấy đau dấy lên vùng hố chậu, thắt lưng, thậm chí có một số bệnh nhân
ung thư cổ tử cung còn có hiện tượng buồn nôn.
Tiết dịch âm đạo nhiều: trong lâm sàng có đến 75-85% bệnh nhân ung
thư cổ tử cung đều có tiết dịch âm đạo nhiều ở mức độ khác nhau. Đại đa
số đều là huyết trắng nhiều, sau đó kèm theo có mùi và thay đổi màu sắc.
Do sự kích thích mầm bệnh, khí hư ở tuyến cổ tử cung cường giáp, gây
nên tiết dịch kèm màu trắng. Biểu hiện bất thường của huyết trắng này
Cho đến nay, HPV được xác định là nguyên nhân hàng đầu gây ra
ung thư cổ tử cung
vì ADN của vi rút hiện diện trong 99,7-100% các mẩu
mô cổ tử cung ung thư.
Do đó, các nhà khoa học chú ý nhiều đến loạinguyên nhân này và
hiện nay đãcó vaccin phòng ngừa nhiễm HPV .
2.2. Tỷ lệ mắc bệnh trên thế giới
Tỷ lệ mắc HPV trên thế giới
Ngày nay, ung thư cổ tử cung (UTCTC) xếp thứ hai trong số các ung thư của
phụ nữ trên thế giới. Ung thư CTC hiện là mối quan tâm đặc biệt của ngành y
tế trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân vì đây là một trong những
nguyên nhân gây tử vong hàng đầu của phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ ở các nước
đang phát triển. Với ước tính khoảng 530 000 trường hợp mới mắc trong năm
2012 chiếm 7,5% các ca tử vong ung thư phụ nữ. Trong số ước tính gần 270
000 người tử vong do ung thư cổ tử cung mỗi năm, hơn 85% trong số này xảy
ra ở các vùng kém phát triển.[25]Trong cùng một năm, 266 000 phụ nữ chết vì
ung thư cổ tử cung trên toàn thế giới; gần 9/10 tức là 231 000 phụ nữ trong
tổng số, sống và chết trong các nước có thu nhập thấp và thu nhập trung bình.
Ngược lại, 35 000, hoặc chỉ 1/10phụ nữ, sống vàqua đời ở các nước có thu
nhập cao tỷ lệ mắc UTCTC cao nhất ở các nước đang phát triển như quốc gia ở
châu Phi cận Sahara, nhiều người ở châu Á (bao gồm cả Ấn Độ), và một số các
nước Trung và Nam Mỹ.
Trong tiểu vùng Sahara Châu Phi,hàng năm, 34,8 trường hợp ung thư cổ tử
cung được chẩn đoán mỗi 100 000 phụ nữvà 22,5 trong 100 000 phụ nữ tử
vong vì căn bệnh này. Những con số này so sánh với 6,6 và 2,5 trong100 000
phụ nữ tương ứng ở Bắc Mỹ. Sự khác biệt mạnh mẽ có thể được giải thíchbởi
thiếu tiếp cận với sàng lọc hiệu quả và các dịch vụ để tạo điều kiện phát hiện
sớm vàđiều trị.Ở các nước phát triển, các chương trình được đưa ra mà cho
phép phụ nữ được sàng lọc, làm cho hầu hết các tổn thương tiền ung thư ở giai
Nam có trên 5.000 phụ nữ được chẩn đoán là UTCTC và tỷ lệ mắc mới
căn bệnh này là 13,6/100.000 phụ nữ.
Theo Báo cáo của IARC (2008) cho thấy cả nước ta có 5.174 trường
hợp mắc mới và 2.472 trường hợp tử vong do UTCTC, chiếm 11,65% số
trường hợp mới mắc của các nước Đông Nam Á (44.404 trường hợp)
[17]. Tỷ lệ mắc là 11,7/100.000. So với các nước trong khu vực thì tỷ lệ
UTCTC tương đương với các nước như Indonesia, Philippines và Brunei
[17]. Theo kết quả khám sàng lọc UTCTC tại 7 tỉnh thành trên cả nước
(2008-2010) cho thấy tỷ lệ phát hiện UTCTC xấp xỉ 19,9/100.000 người
với 28,6% ở giai đoạn I và 21,4% ở giai đoạn 2 [1]. Năm 2010, Việt Nam
ước tính có khoảng 5.664 phụ nữ mắc UTCTC và tỷ lệ mắc mới là
13,6/100.000 phụ nữ[3].
Tỷ lệ tử vong có sự khác nhau theo nhóm tuổi trong đó các trường
hợp tử vong phổ biến nhất ở nhóm phụ nữ trên 65 tuổi với 844 trường
hợp, chiếm 34,1%[17]. Phân bố theo tuổi mắc UTCTC cả nước cũng theo
xu hướng chung của thế giới với số trường hợp mới mắc tập trung cao
nhất ở nhóm tuổi từ 15-44 tuổi chiếm tỷ lệ 40,9%; nhóm tuổi từ 45-54
chiếm 27,7%, nhóm 55-64 chiếm 18,5% và thấp nhất ở nhóm trên 65
tuổi chiếm 12,9%[17]. Tỷ lệ mắc phân bố chênh lệch giữa 2 miền Nam-
Bắc, trong đó tỷ lệ mắc tại miền Nam là 28,8/100.000 dân, trong khi ở
miền Bắc là 6,8/100.000 dân[15]. So sánh tỷ lệ UTCTC trong số các ung
thư giữa TP. Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh thì tỷ lệ mắc UTCTC có sự khác
biệt trong đó ở quần thể phụ nữ tại TP. Hà Nội, tỷ lệ này chiếm 7,7%, xếp
vị trí thứ ba sau ung thư vú và ung thư dạ dày, còn tại TP. Hồ Chí Minh là
28,6% cao nhất trong các loại ung thư ở phụ nữ.[6]
Ước tính đến năm 2025, số trường hợp mới mắc UTCTC của cả
nước tăng lên khoảng 40% so với năm 2008, tỷ lệ tử vong do UTCTC
tăng lên từ 62% (ở nhóm<65 tuổi) hoặc 75% (ở nhóm trên 65 tuổi) so
với năm 2008 [17].
3. KHẢ NĂNG PHÁT HIỆN, ĐIỀU TRỊ, DỰ PHÒNG
kết luận, nguy cơ phát triển UTCTC ở những phụ nữ không sàng lọc
bằng Pap cao gấp 3-10 so với nhóm có sàng lọc[14]
• Phương pháp quan sát bằng mắt thường với axit axetic (VIA):
Là phương pháp thay thế cho xét nghiệm thế bào hoặc có thể
được sử dụng cùng với sàng lọc Pap. Phương pháp sử dụng dung
dịch axit axetic 3-5% được bôi lên cổ tử cung và quan sát bằng
mắt thường sau 1 phút. Nhóm đối tượng được Tổ chức Y tế Thế
giới khuyến cáo khám sàng lọc UTCTC cụ thể như sau[23]:
1. Các chương trình sàng lọc mới nên bắt đầu ở những phụ nữ từ
30 tuổi trở lên và gồm những phụ nữ trẻ tuổi hơn chỉ khi
nhóm nguy cơ cao đã được bao phủ. Các chương trình đã
triển khai không nên bao gồm sàng lọc cho nhóm phụ nữ dưới
25 tuổi;
2. Đối với những phụ nữ chỉ được sàng lọc duy nhất một lần
trong đời thì độ tuổi phù hợp nhất là từ 35-45 tuổi;
3. Đối với những phụ nữ trên 50 tuổi, nên khám định kỳ 5 năm/1
lần;
4. Đối với nhóm từ 25-49 nên khám định kỳ 3 năm/1 lần nếu
nguồn lực cho phép;
5. Đối với phụ nữ từ 65 tuổi trở lên, có thể ngừng sàng lọc nếu
kết quả xét nghiệm của 2 lần trước đó là âm tính.
3.2. Hoạt động phòng chống UTCTC tại Việt Nam
Hoạt động phòng chống ung thư, bao gồm UTCTC được triển khai
trên quy mô quốc gia từ năm 2008, trong đó sàng lọc UTCTC là một trong
những mục tiêu ưu tiên nhằm phát hiện sớm và điều trị kịp thời các trường
hợp UTCTC. Tuy nhiên, chương trình sàng lọc UTCTC hiện tại ở Việt
nam vẫn chưa mang tính định kỳ, có tổ chức, vì vậy không tiếp cận được
toàn bộ các khách hàng có nhu cầu. Trong giai đoạn 2008-2010, chương
trình sàng lọc đã triển khai tại 7 tỉnh/thành phố và đã khám được tổng số
70.980 phụ nữ từ 35-60 tuổi[1].
giả Trần Thị Lợi và Bùi Thị Hồng Nhung, với tỷ lệ là 18,5%[9].
Nhiễm vi rút gây u nhú ở người (HPV) cũng là một trong các nguyên
nhân gây UTCTC, hiện tại đã có vắc xin phòng HPV chủng 16, 18 tại Việt
Nam. Hai chủng này gây ra khoảng 70% các trường hợp UTCTC hiện nay,
tuy nhiên, hiểu biết về HPV còn rất hạn chế. Một nghiên cứu gần đây cho
thấy tỷ lệ người đã từng nghe/xem/đọc các thông tin về HPV là 33,3%
trong các phụ nữ đã lập gia đình tại Huế, Cần Thơ và Thái Nguyên [8].
Kiến thức về UTCTC và phòng ngừa UTCTC của phụ nữ ở các nhóm
tuổi khác nhau đã được nhiều nghiên cứu đề cập tới. Mặc dù các nghiên
cứu có nhiều sự khác biệt, ví dụ khác nhau về mục đích nghiên cứu, đối
tượng, địa lý, nhưng các kết quả đều xác định được nhiều phụ nữ chưa có
kiến thức đúng và đầy đủ liên quan đến phòng ngừa UTCTC. Hầu hết các
nghiên cứu tập trung tìm hiểu kiến thức về dấu hiệu lâm sàng của bệnh
UTCTC, sàng lọc UTCTC hoặc phòng nhiễm HPV mà có rất ít nghiên cứu
đánh giá kiến thức một cách tổng thể về các vấn đề nêu trên.
3.4. Thực hành phòng chống UTCTC
Hiện nay, chỉ có một vài nghiên cứu tìm hiểu về thực hành phòng
UTCTC ở phụ nữ. Một vài nghiên cứu đã ghi nhận các hành vi phòng
UTCTC, bao gồm khám phụ khoa và xét nghiệm phết tế bào CTC. Nghiên
cứu của Lê Thị Phương Mai (2007) trên nhóm các bà mẹ có con gái đang ở
độ tuổi vị thành niên cho thấy tỷ lệ đã từng khám phụ khoa 6-12 tháng/lần
là 50,0% và tỷ lệ làm xét nghiệm Pap chỉ có 7,0%[10]. Nghiên cứu tại Hồ
Chí Minh trên nhóm phụ nữ nội trợ cho thấy tỷ lệ nữ nội trợ, những người
đã có quan hệ tình dục, có được khám phụ khoa trong vòng 3 năm gần đây
là 23,3% và tỷ lệ nữ nội trợ chủ động đi khám phụ khoa định kỳ 6-12 tháng
là 12,0%[4]. Nghiên cứu đánh giá hiệu quả thử nghiệm mô hình can thiệp
dự phòng ung thư vú và UTCTC dựa vào cộng đồng tại 1 xã của tỉnh Hải
Dương chỉ ra rằng có 24,0% phụ nữ có trên 2 con và tỷ lệ từng tiêm vắc
xin HPV đạt 0,7%[26].
Theo Lê Thị Yến Phi và Vũ Thị Nhung: Tỷ lệ khách hàng có kiến
hoá bất thường, có một số tác giả mô tả thay đổi hình thái này là cận sừng
(parakeratosis) hay là giả cận sừng (pseudoparakeratosis). Trong một số
trường hợp, nghịch sừng là dấu hiệu duy nhất của nhiễm HPV, nếu có hình
ảnh này cũng nên chẩn đoán là nhiễm HPV cho dù không có hình ảnh tế
bào rỗng
3.5.2. Xét Nghiệm HPV (HPV Test)
Xét nghiệm này ứng dụng kỹ thuật sinh học phân tử nhằm xác định
DNA của virus trong mẫu bệnh phẩm lấy từ cổ tử cung, bất kỳ mẫu bệnh
phẩm đó đang ở giai đoạn phát triển nào của bệnh, kể cả lúc chưa có tổn
thương tế bào rõ rệt. Kỹ thuật này được khuyên dùng theo dõi cho những
phụ nữ có kết quả xét nghiệm tế bào học (PAP) nghi ngờ.
3.5.3. Phối Hợp Xét Nghiệm Trong Chẩn Đoán HPV
Trong chẩn đoán nhiễm HPV, người ta thường dùng xét nghiệm HPV
như là xét nghiệm bổ trợ để làm tăng độ nhạy và làm giảm bớt tỷ lệ dương
tính giả. Một nghiên cứu(5) cho thấy nếu chỉ dung xét nghiệm HPV, độ
nhạy đạt được 74% trong phát hiện CIN, nhưng nếu phối hợp để dung cho
những ca có xét nghiệm Pap là LSIL, HSIL hay ung thư thì độ nhạy tăng
lên đến 91%.[28].
3.6. Điều trị UTCTC
Trong điều trị ung thư nói chung và UTCTC nói riêng tùy vào từng
giai đoạn khác nhau của mỗi bệnh nhân có các cách điều trị khác nhau. Có
các loại phương pháp điều trị phổ biến đối với bệnh ung thư là: Phẩu thuật,
điều trị bằng hóa chất và điều trị bằng xạ trị( sử dụng máy gia tốc).[30]
Đối với những giai đoạn sớm nhất của ung thư cổ tử cung, phẫu thuật hoặc
xạ trị kết hợp với hóa trị có thể được sử dụng. Đối với giai đoạn sau, bức
xạ kết hợp với hóa trị thường là điều trị chính. Hóa trị liệu thường được sử
dụng để điều trị ung thư cổ tử cung.
Tỷ lệ sống sót thường được sử dụng bởi các bác sĩ như một cách tiêu
chuẩn của thảo luận về tiên lượng của một người. Theo số liệu thông kế
của Hiệp hội ung thư Mỹ (American Cancer Society ) năm 2010 tỷ lệ sống
- Nghề nghiệp:
+ Còn nhỏ < 6 tuổi
+ Học sinh, sinh viên
+ Nghề nông, ngư
+ Nghề buôn bán, kinh doanh
+ Công nhân viên chức
+ Hưu trí, đối tượng chính sách, hưởng trợ cấp của nhà nước
+ Nội trợ
+ Nghề khác
- Trình độ học vấn:
+ Mù chữ: Không biết đọc biết viết
+ Tiểu học: Biết đọc, biết viết, từ lớp 1 - 5
+ Trung học cơ sở: Từ lớp 6 - 9
+ Trung học phổ thông: Từ lớp 10 – 12
+ Trên THPT
- Tình trạng hôn nhân
- Thu nhập hàng tháng: là mức lương đối tượng nhận được
Thông tin về hiểu biết của đối tượng:
- Nghe thông tin về UTCTC
- Có ý định tìm hiểu nhiều hơn về UTCTC
- Thông tin về UTCTC được nghe ở đâu:
+ Bạn bè/ người thân
+ CBYT
+ Thông tin đại chúng
+Nguồn khác
- Có biết UTCTC nguy hiểm không
- Có lo lắng việc mình sẽ mắc UTCTC
- Có ý định đi khám sàng lọc UTCTC
- Biết ai bị mắc UTCTC
- UTCTC có phòng ngừa
- Đối tượng có nguy cơ mắc UTCTC
+ Phụ nữ 15- 30 tuổi
+ Phụ nữ 30- 45 tuổi
+ Phụ nữ trên 45 tuổi
3.3. Mô tả quần thể nghiên cứu
Thành phố Huế thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế với tổng số 350 345 người
trên tổng diện tích 71,69 km
2
với tổng số nữ là 180 756 người. Địa bàn
phân bố với 27 phường, xã. Trong số đó có một số phường có dân số
đông cũng như số phụ nữ nhiêu: phường Tây Lộc, phường Vỹ Dạ,
phường An Cựu, phường Phước Vĩnh.[Niên giám thống kê năm 2013]
3.4. Mẫu nghiên cứu
Tất cả các phụ nữ từ 15 – 49 tuổi trên địa bàn thành phố được chọn
theo phương pháp chọn mẫu đã được đưa ra và đủ điều kiện tham gia
vào nghiên cứu.
Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Phụ nữ từ 15 – 49 tuổi trên địa bàn thành phố Huế tự nguyện tham
gia và tham gia đầy đủ trong suốt thời gian thực hiện nghiên cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ:
- Người không có khả năng giao tiếp bình thường
- Người không có mặt tại thời điểm điều tra.
3.5. Cỡ mẫu
Sử dụng công thức ước lượng tỷ lệ [18] để tính số phụ nữ khảo sát
2
2
2/
)1(
d
ppZ
tổng số 27 phường của thành phố Huế. Sau đó, lập tỷ lệ số phụ nữ giữa
các phường (14 phường bốc chọn) rồi lấy 3000 chia đều cho 14 phường
theo tỷ lệ đã tính, ta sẽ thu được kết quả là số phụ nữ từ 15-49 tuổi sẽ
tham gia vào nghiên cứu trong mỗi phường (lưu ý : luôn làm tròn lên ).
Chọn đối tượng nghiên cứu thuộc các phường với cỡ mẫu đã xác
định: Lập danh sách tất cả các phụ nữ trong độ tuổi 15-49 tại các
phường nghiên cứu. Sau đó tiến hành chọn ngẫu nhiên số lượng phụ nữ
cần thiết từ danh sách trên. Trường hợp sinh viên trong danh sách
không có mặt tại địa bàn ở thời điểm nghiên cứu hay không đồng ý tham
gia nghiên cứu thì sẽ chọn bổ sung để đủ cỡ mẫu điều tra. Tiến hành điều
tra tại các phường đã chọn.
3.7. Kỹ thuật thu thập số liệu
Kỹ thuật thu thập thông tin: điều tra viên giới thiệu mục đích
nghiên cứu, xin phép sự tham gia nghiên cứu tự nguyện của đối tượng,
sử dụng bộ câu hỏi có cấu trúc.
Đối tượng phỏng vấn: Tất cả các đối tượng đã được chọ mẫu điều
tra.
Người thu thập số liệu: Các cán bộ ý tế cơ sở tại địa bàn trên thành
phố Huế đã được tập huấn kỹ thuật và phương pháp phỏng vấn trước
khi điều tra.
Số liệu được kiểm tra, làm sạch, mã hóa và nhập trên Microsoft
Excel 2003
Xử lý thống kê sử dụng phần mềm SPSS 11.5 và Epidata 6.0
3.8. Đạo đức nghiên cứu
Mọi thông tin đối tượng cung cấp trong quá trình nghiên cứu
được giữ bí mật tuyệt đối.
Mọi bảng hỏi sẽ được mã hóa theo mã số phiếu, thông tin về người
điều tra và đối tượng nghiên cứu được mã hóa trong cơ sở dữ liệu.
Những đối tượng trước khi tham gia nghiên cứu được thông báo
đầy đủ về nội dung nghiên cứu, thời gian nghiên cứu, trách nhiệm của
Tiếng việt:
1. Bùi Diệu và cộng sự (2010), "Kết quả sàng lọc phát hiện sớm ung
thư vú và ung thư cổ tử cung tại một số tỉnh thành giai đoạn 2008-2010",
Tạp chí ung thư học Việt Nam, 1, tr. 152-155.
2. Bùi Diệu và cộng sự (2010), "Khảo sát kiến thức, thực hành về
phòng một số bệnh ung thư phổ biến của cộng đồng dân cư tại một số tỉnh
thành năm 2008-2010", Tạp chí ung thư học Việt Nam, 1, tr. 118-122.
3. Nguyễn Bác Đức và cộng sự (2011), "Báo cáo sơ bộ kết quả thực
hiện dự án quốc gia về phòng chống ung thư giai đoạn 2008 - 2010", Tạp
chí ung thư học việt nam, 1.
4. Nguyễn Thanh Hiệp và cộng sự (2010), "Khảo sát kiến thức, thái
độ, hành vi về tầm soát ung thư cổ tử cung của nữ nôi trợ từ 18 - 65 tuổi
tại Hồ Chí Minh năm 2008", Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh, 14 (2), tr. 80-
85.
5. Phương Liên (2010), Bước tiến mới trong phòng chống ung thư cổ
tử cung ở Việt Nam, Tạp chí y học dự phòng
6. Bệnh viện K (2010), Dự án quốc gia về phòng chống ung thư giai
đoạn 2008-2010, tại trang web http://benhvienk.com/pcut/du-an-quoc-gia-
ve-pcut, truy cập ngày 15/11/2012
7. Trần Đặng Ngọc Linh- Hiệu quả xạ trị trong ung thư cổ tử cung
giai đoạn IIB- IIIB
8. Nguyễn Thùy Linh và Vũ Thị Hoàng Lan (2012), "HPV và nhu cầu
thông tin ở phụ nữ 18-65 tuổi tại Thái Nguyên, Huế và Cần Thơ", Tạp chí
Y học Quân sự, 37(5)
9. Trần Thị Lợi và Bùi Thị Hồng Nhung (2004), "Tầm soát ung thư cổ
tử cung ở phụ nữ quanh tuổi mãn kinh tại thành phố Hồ Chí Minh năm
2003", Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh, 8 (1), tr. 116-119.
10. Lê Thị Phương Mai và cộng sự (2010), "Kiến thức, thái độ và
thực hành trong phòng chống bệnh ung thư cổ tử cung của cha mẹ các em
gái trong tuổi vị thành niên tại Việt Nam", Tạp chí Y học dự phòng 7(20),