giới thiệu và làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng và hoàn thiện nội dung pháp luật về bảo vệ môi trường biển, nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong bảo vệ môi trường biển ở việt nam - Pdf 34

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài:
“Biển và đại dương chiếm 71% diện tích bề mặt của trái đất”. Loài người
chúng ta luôn gắn liền với biển. Sự phát triển của con người càng cao, nền kinh tế
càng hiện đại thì giá trị của biển càng được coi trọng. Tuy nhiên, cùng với sự phát
triển thì nhu cầu ngày càng tăng từ các giá trị của biển của con người đã và đang
tạo ra những hậu quả nghiêm trọng khó lường cho biển.
“Việt Nam có diện tích 329.314 km² bao gồm khoảng 327.480 km² đất liền
và hơn 4.200 km² biển nội thuỷ, với hơn 3.000 hòn đảo, bãi đá ngầm lớn nhỏ,
với lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa khoảng trên 1 triệu km²”
(theo số liệu trên trang web: www.bqlkcnthainguyen.gov.vn) cho thấy nước ta có
tiền năng về biển rất lớn.
Theo nhận xét của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Chu Hồi - Phó Tổng cục
trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam: Nhờ điều kiện khí hậu và tự nhiên
thuận lợi, cùng với giao thông và truyền thông dễ dàng của nhiều địa điểm ở vùng
bờ, nên đã khuyến khích và hấp dẫn sự định cư của con người ở đây từ lâu đời.
Đến nay, “khoảng 1/3 dân số nước ta sống ở các huyện ven biển và khoảng trên
50% dân số sống ở 28 tỉnh, thành phố ven biển, với khoảng 50% các đô thị của đất
nước tập trung ở vùng này” (theo số liệu của bogiaoduc.edu.vn).
Hơn nữa, theo nhiều số liệu về vùng biển Việt Nam cho thấy, vùng biển
nước ta còn án ngữ các tuyến hàng không và hàng hải chiến lượt “giữ Ấn Độ
Dương và Thái Bình Dương, giữa châu Á, Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật
Bản và các nước trong khu vực”. “Bờ biển Việt Nam bao bọc cả lãnh thổ đất nước


Việt Nam cả ba mặt Đông, Nam và Tây Nam, tính trung bình cứ 100km 2 đất liền
có 1km bờ biển (tỉ lệ này cao gấp 6 lần so với tỉ lệ trung bình của thế giới)” (theo
số liệu từ: bogiaoduc.edu.vn). Vì vậy, vùng biển Việt Nam rất thuận lợi để phát
triển các ngành kinh tế mũi nhọn như: dầu khí, hải sản, vận tải biển, cảng biển, du
lịch biển và các ngành dịch vụ khác,…Theo Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành

lĩnh vực pháp luật môi trường biển. Do sự hiểu biết còn hạn hẹp, ở đây em chỉ nêu
một vài công trình tiêu biểu như: Đề tài luận án tiến sĩ của tác giả Lưu Ngọc Tố
Tâm về vấn đề Pháp luật Kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động
Hàng hải được công bố năm 2012;
3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của đề tài:
a. Mục đích: Đề tài nhằm giới thiệu và làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn
của việc xây dựng và hoàn thiện nội dung pháp luật về bảo vệ môi trường biển,
nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong bảo vệ môi trường biển ở Việt
Nam.
b. Nhiệm vụ: Để thực hiện được những mục đích trên, luận văn đề ra các
nhiệm vụ sau:
+ Thứ nhất là làm rõ sự cần thiết của việc bảo vệ môi trường biển bằng pháp
luật, việc tiếp cận của pháp luật quốc tế trong vấn đề bảo vệ môi trường biển,
những quan điểm, nội dung của pháp luật Việt Nam trong việc bảo vệ môi trường
biển.


+ Thứ hai là làm rõ quá trình hình thành và phát triển nội dung, từ đó hoàn
thiện hệ thống pháp luật trong bảo vệ môi trường biển ở Việt Nam với tính chất là
một bộ phận của hệ thống pháp luật môi trường và trong mối quan hệ tác động qua
lại mật thiết cùng với các yêu cầu về phát triển kinh tế của đất nước, đáp ứng các
đòi hỏi về an ninh chính trị, văn hóa, an ninh quốc phòng…
+ Thứ ba, tìm hiểu các quy định trong pháp luật môi trường của một số
quốc gia phát triển trên thế giới để có những kinh nghiệm và có thể đưa vào việc
phát triển và hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở Việt Nam.
c. Phạm vi nghiên cứu: Bảo vệ môi trường thuộc phạm vi nghiên cứu của
nhiều ngành khoa học khác nhau như khoa học quản lý môi trường biển, kinh tế
môi trường biển, xã hội học môi trường biển… Bảo vệ môi trường biển cũng
thuộc đối tượng điều chỉnh của nhiều hệ thống pháp luật khác nhau như hệ thống
pháp luật quốc tế, các điều ước quốc tế có liên quan và hệ thống pháp luật của

việc xây dựng chương trình phổ biến, tuyên truyền pháp luật bảo vệ môi trường
biển, các “Điều ước quốc tế về biển” mà Việt Nam là thành viên. Như vậy, nó sẽ
đảm bảo thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, đi đôi với việc bảo vệ môi trường
biển và các tài nguyên của biển.
6. Bố cục của luận văn:
Luận văn gồm: phần mở đầu, nội dung, kết luận, danh mục tài liệu tham
khảo. Nội dung được bố cục làm ba chương. Tên của các chương cụ thể như sau:
- Chương 1. Những vấn đề về pháp luật bảo vệ môi trường biển.


-

Chương 2. Thực trạng pháp luật về bảo vệ môi trường biển của Việt

-

Nam.
Chương 3. Giải pháp để nâng cao hiệu quả pháp luật về bảo vệ môi
trường biển ở Việt Nam.

Chương1.
NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

1.1 KHÁI NIỆM MÔI TRƯỜNG VÀ MÔI TRƯỜNG BIỂN.
1.1.1 Khái niệm môi trường
“Môi trường là một tổ hợp của các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh bên
ngoài của một hệ thống nào đó. Chúng tác động lên hệ thống này, xác định xu
hướng và tình trạng tồn tại của nó. Môi trường có thể coi là một tập hợp, trong đó
hệ thống đang xem xét là một tập hợp con.” ( Nguồn từ cokhimoitruong.com.vn).
Môi trường của một hệ thống đang xem xét cần phải có tính tương tác với hệ

phát triển của từng quốc gia và ở từng thời kì.
+ Môi trường cũng là nơi cung cấp những nhu cầu về các tài nguyên cho con
người như: đất, đá, tre, nứa, tài nguyên sinh vật...Tất cả các tài nguyên này đều
được môi trường cung cấp và giá trị của những tài nguyên này phụ thuộc vào trình
độ của chủ thể sử dụng và mức độ khan hiếm của nó trong xã hội.


+ Môi trường là nơi chứa đựng, phân hủy các chất thải của con người và các
sinh vật khác trong quá trình sử dụng các tài nguyên thải vào môi trường. Các tài
nguyên sau khi hết giá trị sử dụng, chúng bị thải vào môi trường dưới dạng các
chất thải. Các chất thải này bị các quá trình vật lý, hóa học, sinh học phân hủy
thành các chất vô cơ, vi sinh quay trở lại phục vụ con người. Tuy nhiên, chức năng
là nơi chứa đựng chất thải của môi trường là có giới hạn. Nếu con người và các
sinh vật khác thải vượt quá giới hạn có thể chứa đựng này thì sẽ làm mất cân bằng
về hệ sinh thái và ô nhiễm môi trường.
1.1.2 Khái niệm môi trường biển
“Môi trường biển” là một thuật ngữ chưa có thời gian dài, nó mới xuất hiện
và cũng ít được định nghĩa một cách đầy đủ và toàn diện. Thuật ngữ này mới xuất
hiện ở nửa cuối thế kỷ XX và được nhận biết như một từ ghép giữa từ “môi
trường” và “biển”. Quá trình phát triển của con người cho thấy một thời kỳ người
ta chỉ nói đến từ “biển” hoặc “ biển cả” mà chưa đề cập đến từ ngữ “ môi trường
biển”. Điều này cũng dể hiểu, bởi từ thời xa xưa người ta chỉ biết đến biển như
một món quà được ban tặng bởi thiên nhiên, mà không phải chịu bất cứ một trách
nhiệm, một nghĩa vụ nào và coi biển là một nguồn tài nguyên vô hạn. Con người
thời đó, coi biển là rất rộng lớn, có thể hấp thụ và chuyển hóa mọi chất thải mà
con người đưa đến nên từ ngữ “môi trường biển” chưa được chỉ ra.
Sau những năm 1960, với sự quan tâm nhiều hơn của cộng đồng thế giới đến
bảo vệ môi trường thì từ ngữ “môi trường biển” cũng dần xuất hiện. Ở thời kỳ
này, từ ngữ “môi trường biển” chưa tồn tại một cách độc lập mà chỉ xuất hiện
trong những vấn đề liên quan đến bảo tồn tài nguyên biển, bảo vệ ô nhiễm môi


a. Dân số gia tăng, nghèo đói:

Biển và vùng bờ là nơi giàu có và đa dạng

các loại hình tài nguyên, cũng như chứa đựng tiềm năng phát triển kinh tế đa dạng.
Bởi vậy, đây cũng là nơi tập trung sôi động các hoạt động phát triển của con người
có “trên 50% số đô thị lớn, gần 60% dân số tính theo đơn vị cấp tỉnh, phần lớn các
khu công nghiệp và khu chế xuất, các vùng nuôi thuỷ sản, các hoạt động cảng biển
– hàng hải và du lịch sẽ được xây dựng ở đây đến năm 2010” (số liệu này từ
biendoikhihau.gov.vn). Tỷ lệ tăng dân số ở vùng này cũng thường cao hơn trung
bình cả nước. Đi kèm các hoạt động trên là sự gia tăng di dân tự do, tăng nhu cầu
sử dụng tài nguyên thiên nhiên và hình thành thói quen tiêu thụ tài nguyên lãng
phí. Kết quả, gây sức ép lớn đến môi trường biển, khu dân cư ven biển, làm suy
giảm và suy thoái tài nguyên biển ở những vùng ven bờ. Trong khi vùng biển gần
bờ nước ta còn rất ít tôm cá, thì cuộc sống của khoảng “600.000 ngư dân và gia
đình” (theo số liệu trên: biendoikhihau.gov.vn) họ vẫn cần có thức ăn hằng ngày
và bản năng tồn tại vẫn buộc họ phải khai thác nhiều tôm cá hơn nên nguồn lợi từ
biển ngày càng cạn kiệt.
b. Lối sống và trình độ dân trí còn thấp: Không giống trong đất liền, người
dân cư ven biển chủ yếu đến từ nhiều nguồn, họ là dân tứ xứ, thậm trí có cả một
bộ phận dân cư dược du nhập từ ngoài đất Việt. Họ vốn chỉ là những người nghèo,
rời quê hương đến những vùng ven biển hoặc các đảo nước ta để sinh sống. Họ tập
trung sống thành những “vạn chài”, cuộc sống hàng ngày đối mặt với tính tàn
khốc, khó khăn của biển cả, sống gắn liền với sông nước và con thuyền được xem
là mái nhà của họ, nên tư duy của những người vạn chài này là hết sức giản đơn
họ chỉ cần có cái ăn, cái mặt là được. Do vậy, những khái niệm về bảo vệ nguồn
lợi từ biển và môi trường biển coi như vẫn còn rất xa vời với họ. Tập quán và
phong tục sống còn lạc hậu, cộng thêm trình độ học vấn chưa cao do những điều
kiện học tập không có. Cũng chính vì thế, mà nhận thức về môi trường và những

dẫn đến ngày càng nhiều các phương tiện vận tải hoạt động, “lượng dầu mỡ gây ô
nhiễm tới 50% nguồn gây ô nhiễm” (Theo số liệu caonguyenxanhgroup.vn).
1.2.2 Yếu tố tự nhiên
a. Các vi sinh vật gây hại: Do các loại vi sinh vật biển, vi tảo biển gây hại
ngày một gia tăng về số lượng, tham gia vào hiện tượng thuỷ triều đỏ, làm suy
giảm số lượng các sinh vật biển có lợi.
b. Các hoạt động địa chất như: núi lửa, bão… làm chết hàng loạt sinh vật
biển, xác của chúng không được xử lý đã gây ô nhiễm vùng biển đới bờ. Bên cạnh
đó, sự đứt gãy của vỏ trái đất làm rò rỉ những mỏ dầu ở đáy đại dương cũng đã
góp phần gây ra tình trạng ô nhiễm biển.
c. Không khí ô nhiễm: Các hoạt động tương tác biển – khí cũng kéo theo hiện
tượng lắng đọng các chất gây ô nhiễm xuống biển. Loại này khó theo dõi và quản
lý vì thường phát tán trên diện rộng. Nồng độ CO2 được hòa tan vào trong nước
biển tăng lên nhanh chóng cùng với nhiều chất nguy hại và bụi kim loại nặng được
không khí mang ra biển. Sự gia tăng nhiệt độ trong khí quyển của trái đất do hiệu
ứng nhà kính đã kéo theo sự dâng cao của mực mước biển và thay đổi môi trường
sinh thái biển.
1.3 KHÁI NIỆM PHÁP LUẬT TRONG VIỆC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN
1.3.1 Khái niệm pháp luật
“Pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà
nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các mối
quan hệ xã hội theo mục tiêu định hướng cụ thể.” (trích dẫn từ luatminhgia.vn).


Do đó, pháp luật là khuôn mẫu, chuẩn mực để hướng dẫn cách cư xử cho mọi
người trong xã hội, giúp cho mọi chủ thể trong xã hội đều có thể tìm được cách cư
xử phù hợp với ý chí, mong muốn của nhà nước và giúp nhà nước quản lý xã hội,
thiết lập và giữ gìn trật tư xã hội. Các lĩnh vực đời sống xã hội mà pháp luật điều
chỉnh bao trùm rộng khắp, trong đó có môi trường biển.
1.2.3 Khái niệm pháp luật trong việc bảo vệ môi trường

1.3 VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TRONG VIỆC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN
Hệ thống pháp luật đã bảo vệ môi trường biển bằngviệc thể chế hóa các
chính sách, kế hoạch của Đảng, nhà nước trong công tác bảo vệ môi trường biển
và quy định các phương tiện, biện pháp, nhân lực,... để đảm bảo thực hiện các
chính sách, kế hoạch đó. Chính vì thế, pháp luật về bảo vệ môi trường biển đã trở
thành một công cụ hữu hiệu để quản lý và bảo vệ môi trường biển. Đặc biệt, thời
gian qua pháp luật về bảo vệ môi trường biển ở nước ta đã từng bước được xây
dựng và hoàn thiện, góp phần điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến lĩnh
vực môi trường biển.
1.3.1 Pháp luật quy định các quy tắc xử sự cho con người khi tác động vào môi
trường biển
Pháp luật đã định hướng các hành vi con người theo hướng có lợi cho môi
trường biển, đảm bảo các hành vi của con người không xâm hại tới môi trường
biển, hạn chế những tác hại, ngăn chặn suy thoái và ô nhiễm môi trường biển.


Ví dụ: Luật bảo vệ môi trương năm 2014 quy định về những hành vi bị
nghiêm cấm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường biển như: Phá hoại, khai thác, đánh
bắt các nguồn tài nguyên biển; đánh bắt các nguồn tài nguyên sinh vật bằng
phương tiện, công cụ, phương pháp huỷ diệt, không đúng thời vụ và sản lượng
theo quy định của pháp luật; Qui trình xử lý chất độc, chất phóng xạ, chất thải và
chất gây hại cho biển khác không đúng nơi quy định và quy trình kỹ thuật về bảo
vệ môi trường biển;Thải chất thải chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường; các
chất độc, chất phóng xạ và chất nguy hại khác vào đất, nguồn nước; Thải khói,
bụi, khí có chất hoặc mùi độc hại vào không khí; phát tán bức xạ, phóng xạ, các
chất ion hóa vượt quá tiêu chuẩn môi trường cho phép; Nhập khẩu, quá cảnh chất
thải dưới mọi hình thức...
1.3.2 Pháp luật quy định các chế tài ràng buộc con người thực hiện những đòi hỏi
của pháp luật để bảo vệ môi trường biển
Trong thực tế các chủ thể khi tham gia hoạt động kinh tế- xã hội thường chỉ

Nhà nước về môi trường biển.
Ngoài ra, vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ môi trường biển còn thể hiện
ở việc ban hành các tiêu chuẩn môi trường biển.


KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
1. Bảo vệ môi trương biển là toàn bộ hoạt động của nhà nước, các tổ chức và cá
nhân có những hoạt động liên quan đến môi trường biển nhằm kiểm tra, xem xét
để ngăn ngừa những sai phạm, từ đó ta có thể loại trừ , hạn chế những tác động
xấu đối với môi trường biển, phòng ngừa ô nhiễm biển, suy thoái tài nguyên biển.
Đồng thời khắc phục, xử lý hậu quả do ô nhiễm môi trường biển gây ra nên góp
phần vào duy trì, cải thiện và phát triển nền kinh tế biển Việt Nam.
2. Bảo vệ môi trường biển là một hoạt động trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết của
các quốc gia có biển, việc bảo vệ có thể được thực hiện bằng nhiều biện pháp khác
nhau. Một trong những phương pháp hữu hiệu được nhiều nước phát triển sử dụng
và nó cong phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị cũng như ý thức của người dân
Việt Nam ta là bằng Pháp luật.
3. Pháp luật về bảo vệ môi trường biển là một bộ phận của pháp luật môi trường,
bao gồm các nguyên tắc điều chỉnh những mối quan hệ phát sinh và tồn tại giữa
các chủ thể coa những hoạt động liên quan đến môi trường biển nhằm mục đích
hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại cho môi trường biển, khắc phục và xử
lí hậu quả nhằm nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững. Pháp luật về bảo vệ môi
trường biển là một công cụ phòng ngừa ô nhiễm biển, nâng cao ý thức của người
dân, góp phần thay đổi nhận thức của người dân về môi trường biển và thúc đẩy
phát triển nền kinh tế biển của Việt Nam.

Chương 2


THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN CỦA

Tình trạng kém phát triển của hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường biển
trong thời kì này do các nguyên nhân sau:
+ Trong xu thế chung của thế giới, thời kì này, luật pháp quốc tế và pháp
luật của các quốc gia về biển và bảo vệ môi trường biển chưa được chú trọng phát
triển.
Mặc dù, những văn bản phát luật quốc tế và quốc gia đầu tiên đã được ban
hành từ giữa thế kỉ XV, nhưng nó chưa hình thành một hệ thống với những
nguyên tắc và các chế định rõ rang. Hơn nữa, đó chỉ là những qui ước sơ khai về
việc phân chia ranh giới trên biển, chưa có liên quan đến bảo vệ môi trường của
biển. Hệ thống pháp luật về biển và môi trường biển chỉ mới chính thức hình
thành từ giữa thế kỉ XX, đánh dấu bằng những tuyên bố về biển của các Tổng
thống Mỹ 1945, của Santiago 1952, của Lima 1970...Hội Nghị lần thứ nhất về luật
biển quốc tế được tổ chức lần một vào năm 1958 tại Giơ-ne-vơ, lần thứ hai năm
1960. Liên quan trực tiếp đến bảo vệ môi trường biển, Hội nghị Hàng hải quốc tế
đã họp tại Oashinton năm 1926 giải quyết các vấn đề liên quan đến ô nhiễm môi
trường biển do dầu từ hoạt động tàu thuyền, Tổ chức hàng hải quốc tế được thành
lập năm 1948 và được đi vào hoạt động năm 1959, thậm chí Công ước UNLOS
1982 cũng được kí kết,…Mặc dù vậy, tất cả những Hội nghị quốc tế, Điều ước
quốc tế nêu trên mới chỉ là tiền đề để hình thành một hệ thống pháp luật về bảo vệ
môi trường và môi trường biển quốc tế. Vì vậy, trong bối cảnh đó, việc hình thành
một hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt Nam là chưa thật sự cấp thiết.


+ Trước năm 1986, đặc biệt là trước năm 1975, Việt Nam trong hai cuộc
kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ, điều kiện kinh tế xã hội còn
nghèo nàn. Khi đó, toàn xã hội tập trung sức người, sức của cho chiến tranh, nền
kinh tế rất khó khăn, đời sống người dân vô cùng bần cùng, trình độ dân trí thấp.
Vì vậy, việc bảo vệ môi trường nói chung hay bảo vệ môi trường biển nói riêng
chưa được dành sự quan tâm nhiều cũng như sự đầu tư từ nhà nước và đây cũng là
tình trạng chung của nhiều ngành pháp luật khác ở Việt Nam trong thời kì chiến

thứ tham gia Hội nghị Thượng đỉnh trái đất về bảo vệ môi trường tại Jio De
Janeiro năm 1992 và sự ban hành của hiến pháp 1992, Luật bảo vệ môi trường
1993 được ban hành và bây giời là Luật bảo vệ môi trường 2014. Hàng loạt các
văn bản và chế định cơ bản của pháp luật môi trường đã được ban hành và ngày
càng hoàn thiện như pháp luật bảo vệ môi trường biển, pháp luật về bảo tồn đa
dạng sinh học, pháp luật về bảo vệ các nguồn tài nguyên biển, pháp luật về kiểm
soát ô nhiễm các thành phần tài nguyên, pháp luật về việc giải quyết các tranh
chấp môi trường,… Những chế định này đặt nền móng cho hoạt động bảo vệ môi
trường, trong đó có bảo vệ môi trường biển.
Có được sự thay đổi tích cực đó là do hệ thống pháp luật này chụi những ảnh
hưởng cơ bản sau:
+ Trên thế giới, sự hợp tác quốc tế cũng như hệ thống pháp luật quốc tế về
bảo vệ môi trường biển ngày càng phát triển theo chiều hướng tích cực. Sau thập
kỉ phi thực dân hóa những năm 1970, nhiều quốc gia độc lập ra đời dẫn tới cuộc
đấu tranh của các nước thuộc thế giới thứ ba đòi thay đổi trật tự pháp lí cũ trên
biển. Hàng loạt các chế định, qui định về biển đã được hình thành. Có thể kể đến


Quy tắc về đánh giá tổn thất trong các vụ đâm va hàng hải (Quy tắc Lisbon 1988);
Công ước về vận chuyển chất thải xuyên biên giới (Basel 1989); Công ước về sẵn
sàng ứng phó và hợp tác phòng chống ô nhiễm dầu (OPRC 1990); Nghị định thư
sửa đổi năm 2005; hay Công ước trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại do ô nhiễm
từ dầu nhiên liệu năm 2001,… Bên cạnh đó, nhiều công ước đã được kí kết trong
giai đoạn trước thì cũng được sửa đổi bổ sung theo hướng hoàn thiện hơn như
Công ước đối với thiệt hại do ô nhiễm dầu từ CLC 1969 đã được bổ sung năm
1992… Các điều ước nêu trên đã đặt ra trách nhiệm đối với các quốc gia thành
viên, trong đó có Việt Nam, việc phải hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia môi
trường và bảo vệ môi trường biển. Chính vì vậy, pháp luật về bảo vệ môi trường
biển đã có nhiều chuyển biến tốt.
+ Các quốc gia có biển trên thế giới tích cực hoàn thiện hệ thống pháp luật

biển, các hoạt động liên quan đến biển, đặc biệt là vận tải hàng hải phát triển. Điều
này đã tạo ra một sức ép lớn cho môi trường và môi trường biển. Do vậy, nhu cầu
bảo vệ môi trường biển trở thành cấp thiết hơn bao giờ hết.Trong xu thế đó, hệ
thống pháp luật về bảo vệ môi trường biển của Việt Nam cũng đã ngày được hình
thành, xây dựng và hoàn thiện hơn.
Với sự phát triển không ngừng cả về số lượng lẫn chất lượng của pháp luật
môi trường, pháp luật biển và pháp luật bảo vệ môi trường ngày nay cũng đang
được thay đổi theo chiều hướng tích cực với các nội dung của nó. Nhìn nhận
khách quan, sự ghi nhận của pháp luật Việt Nam đối với việc bảo vệ môi trường
biển với các nội dung của nó đã đánh dấu một bước ngoặc phát triển của hệ thống
pháp luật môi trường. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm thì các quy định pháp
luật về bảo vệ môi trường còn nhiều hạn chế. Cụ thể được phân tích ở phần sau.


2.2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN Ở VIỆT NAM
2.2.1 Thực trạng về xây dựng và thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ
môi trường biển
Bất cập của pháp luật và chính sách bảo vệ môi trường biển tại Việt Nam.
Hiện nay, có khá nhiều các văn bản liên quan đến môi trường biển trong hệ thống
pháp luật ở nước ta có thể kể đến như: Luật Bảo vệ môi trường, Luật hàng hải,
Luật Đa dạng sinh học biển, Luật Tài nguyên nước, Luật Tài nguyên và Khoáng
sản biển, Luật Bảo tồn các vi sinh vật biển…. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng tham
gia vào nhiều Công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển tiêu biểu như Công
ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu, Công ước luật biển UNLOS
1982, Công ước về phòng ngừa ô nhiễm dầu Marpol… Thế nhưng, việc tham gia
những Công ước chưa có sự gắn kết với những văn bản, chính sách của Nhà nước,
nên đã tạo ra những bất cập và còn nhiều hạn chế như văn bản luật còn thiếu, chưa
cụ thể, chưa phù hợp với thực tế, bộc lộ những vướng mắc trong quá trình thực
hiện, hiệu lực thi hành còn thấp. Đồng thời, sự gắn kết giữa các Công ước quốc tế
liên quan chưa có sự nhất thống, còn mờ nhạt.

để xác nhận;
- Không có giấy phép quản lý chất thải nguy hại;
- Không có văn bản báo cáo hoặc báo cáo không đúng thời hạn theo quy định
cho Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi thực hiện dự án về nội dung quyết định phê
duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường;



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status