Bộ TƯ PHáP
VIệN KHOA HọC PHáP Lý
Báo cáo tổng hợp
kết quả nghiên cứu Đề tài cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng
luật phổ biến, giáo dục pháp luật
Chủ nhiệm đề tài: PGS. TS. Nguyễn Tất Viễn
8217
1.3. Các văn bản, chương trình, kế hoạch liên tịch, liên ngành
30
2. Tổ chức quản lý công tác PBGDPL 33
3. Nhân lực làm công tác PBGDPL
35
3.1. Cán bộ chuyên trách và bán chuyên trách thực hiện công tác phổ
biến, giáo dục pháp luật
35
3.2. Những người khác tham gia PBGDPL
36
4. Kết quả hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật 37
4.1. Về đối tượng được tuyên truyền
37
4.2. Nội dung pháp luật được tuyên truyền.
37
4.3. Các hình thức, biện pháp tuyên truyền
38
4.4. Đầu tư cơ sở vật chất cho công tác PBGDPL
43
2
4.5. Hp tỏc quc t trong lnh vc PBGDPL
44
5. Hn ch ca hot ng PBGDPL hin nay 45
III. KINH NGHIM HOT NG PBGDPL MT S NC TRấN
TH GII V KH NNG VN DNG I VI VIT NAM
47
1. Thỏi Lan 47
2. Singapore 48
3. an Mch 49
nước của công dân
4.2. Đảm bảo tính phù hợp với đối tượng, địa bàn, tính khả thi, tính
hiệu quả của hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật
71
5. Những thuận lợi, khó khăn trong phổ biến, giáo dục pháp luật 73
5.1. Thuận lợi
73
5.2. Hạn chế, khó khăn
74
6. Các tiền đề xây dựng Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật 76
6.1. Chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật
77
6.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác tuyên truyền pháp luật - Tiền
đề tư tưởng xây dựng Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật
79
7. Hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật - yếu tố cần tính
đến khi xây dựng Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật
84
8. Phạm vi điều chỉnh và những nội dung chủ yếu của Luật Phổ biến,
giáo dục pháp luật
88
8.1. Sự cần thiết xây dựng Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật
88
8.2. Dự báo tác động của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật
90
8.3. Nội dung chủ yếu của Luật
91
Kết luận
95
Phạm Thị Hoà 176
7. Quá trình thể chế hoá đường lối, chính sách của
Đảng trong lĩnh vực phổ biến, giáo dục pháp luật,
kinh nghiệm và những vấn đề đặt ra đối với việc xây
dựng Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật
Phạm Minh Tuấn 190
8. Vấn đề xã hội hoá đối với công tác Phổ biến, giáo
dục pháp luật - nhu cầu, thực trạng và những định
hướng cơ bản
Đinh Ngọc Vượng 204
5
9. Giáo dục pháp luật trong nhà trường ở Việt Nam -
thực trạng và giải pháp
Nguyễn Tất Viễn 219
10. Phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động
xét xử của Toà án
Nguyễn Bích Thảo 232
11. Mối tương quan giữa Luật Tiếp cận thông tin và
Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật
Nguyễn Thị Hạnh 244
12. Tổ chức và hoạt động thông tin, tuyên truyền và phổ
biến pháp luật ở một số nước trên thế giới và khả
năng vận dụng trong điều kiện của Việt Nam hiện
nay
Quách Dương 254
7
Lời nói đầu
1. Sự cần thiết nghiên cứu Đề tài
Chỉ thị số 32 - CT/TW ngày 09 tháng 12 năm 2003 của Ban Bí thư Trung ương
Đảng (khóa IX) đã xác định phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) là một bộ phận
của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị
đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân,
vì nhân dân của Đảng đã được thể chế hóa trong Hiến pháp củ
a Nhà nước ta (sửa
đổi, bổ sung năm 2001) đòi hỏi một tinh thần thượng tôn pháp luật trong xã hội.
Khẩu hiệu “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” phải trở thành hành động
thực tế của mỗi thành viên. Quá trình hội nhập ngày càng sâu vào đời sống quốc tế
của Việt Nam đòi hỏi pháp luật phải minh bạch, công khai, được thực thi nghiêm
chỉnh nhằm bảo vệ lợi ích chung của Nhà nước, của xã h
ội và lợi ích chính đáng của
các tổ chức, cá nhân. Tuy nhiên, theo đánh giá chung hiện nay, ý thức pháp luật và
thái độ chấp hành pháp luật trong xã hội còn kém. Hiện tượng vi phạm pháp luật do
không hiểu biết pháp luật hoặc có hiểu biết nhưng vẫn vi phạm ở một bộ phận cán
bộ và nhân dân tiếp tục diễn ra. Một số loại tội phạm có diễn biến phức tạp, chưa bị
đẩy lùi, gây bức xúc trong xã hộ
i. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng
trên là do công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật chưa đáp ứng được
1945 đến nay, tập trung vào thời kỳ đổi mới, đặc biệt là từ năm 1998 đến nay.
- Đề xuất xây dựng Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật trên cơ sở nhu cầu điều
chỉnh bằng pháp luật đối với lĩnh vực hoạt động này.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận củ
a chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong Đề tài là phương pháp
lịch sử cụ thể, hệ thống, thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp.
5. Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận để xây dựng Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật,
lịch sử của công tác này và thực trạng phổ
biến, giáo dục pháp luật từ khi có Chỉ thị
32/CT - TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư trung ương Đảng đến nay. 9
*Các tài liệu trong tập này gồm:
- Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu
- Các chuyên đề khoa học của đề tài
* Cơ cấu của Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài gồm 4 phần:
I. Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về công tác phổ biến, giáo dục pháp
luật từ năm 19456 đến nay
II. Thực trạng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay
III. Kinh nghiệm hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật ở một số nước trên thế
giới và khả năng vận dụng đối với Việt Nam
IV. Những vấn đề đặt ra khi xây dựng Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật
Nhóm nghiên cứu xin chân thành cám ơn Viện khoa học pháp lý, Vụ Phổ biến,
giáo dục pháp luật, Bộ Tư pháp, Thường trực Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL
của Chính phủ; Sở Tư pháp các tỉnh: Nghệ An, Hà Tĩnh, Bình Định, Cần Thơ, Tiền
a Nhà nước pháp quyền XHCN.
Nhìn lại quá trình hình thành và phát triển của Nhà nước ta có thể thấy trong
hoàn cảnh nào, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cũng được quan tâm và chú ý,
tuy có thể ở các mức độ khác nhau.
1. Công tác phổ biến giáo dục pháp luật giai đoạn 1945 – 1960
Sau khi cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 28/8/1945, trong Tuyên cáo
của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã công bố Danh sách
Nội các thống nhất quốc gia có 13 Bộ trưởng do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu.
Ngay trong phiên họp của Chính phủ ngày 03 tháng 9 năm 1945, trong số những
nhiệm vụ cấp bách của chính quyền nhân dân còn non trẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã đề nghị mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện
cần, kiệm, liêm, chính, chống lại những thói xấu mà thực dân Pháp đã đầu độc nhân
dân ta sau 80 năm thống trị.
Bộ Tư pháp và Bộ Thông tin - Tuyên truyền (năm 1946 đổi thành Bộ Tuyên
truyền và cổ động, năm 1954 đổi thành Bộ Tuyên truyền) là những bộ được thành
lập ngay từ ngày đầu, có vai trò rất quan trọng trong phổ biến, tuyên truyền chính
sách và pháp luật của nhà nước ta. Ngày 01/12/1945, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban
hành Nghị định số 37 về tổ chức Bộ Tư pháp, trong đó quy định nhiệm vụ tuyên
11
truyền pháp luật. Nghị định này là văn bản pháp lý đầu tiên đặt nền móng cho công
tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật. Liên quan đến hoạt động tuyên
truyền pháp luật, Điều 1 của Nghị định đã quy định một số đơn vị thuộc Bộ có
trách nhiệm triển khai hoạt động này như: Phòng sự vụ nội bộ thuộc Phòng Nhất
thực hiện nhiệm v
ụ Thư tín chính trị - Phân phát công văn - Việc xin yết kiến -
Việc công bố các đạo luật và sắc lệnh – Đưa các bản đăng công báo – Giao thiệp
với Nghị viện và Chính phủ - Triệu tập các uỷ ban…Trông coi thư viện và các báo
chí của Bộ - Giữ các kiềm ấn.
Bộ Tư pháp phải đảm đương nhiều công việc khác nhau nhưng hoạt động phổ
ắc lệnh số 13 ngày
24/1/1946), thông qua đó giáo dục nhân dân ý thức chấp hành pháp luật.
Để triển khai thực hiện các nhiệm vụ, trong đó có nhiệm vụ phổ biến giáo dục
pháp luật, đội ngũ cán bộ Tư pháp rất được coi trọng. Chính phủ đã coi cán bộ tư
pháp là “bậc trí thức” có “trách nhiệm nặng nề và vẻ vang”, là phải “làm gương cho
dân trong mọi việc”. Cán bộ Tư pháp là “viên chức của Chính phủ cộng hoà”, do
đ
ó “phải tuyệt đối trung thành với chính quyền dân chủ”, “là những người phụ
trách thi hành pháp luật, lẽ tất nhiên phải nêu cao cái gương “phụ công thủ pháp”,
“chí công vô tư” cho nhân dân noi theo”.
1
Cán bộ tư pháp, những người trực tiếp
thi hành pháp luật đồng thời là người đưa pháp luật đến với nhân dân, thực hiện
công việc phổ biến, giáo dục pháp luật, trực tiếp nắm bắt tình hình thực tế, từ đó
làm cho dân hiểu, dân tin như Bác Hồ đã dạy: “Trong công tác xử án phải công
bằng, liêm khiết, trong sạch. Như thế cũng chưa đủ…, phải gần dân, hiểu dân, giúp
dân, họ
c dân” .
2
Năm 1950 đã diễn ra cuộc cải cách tư pháp lần thứ nhất trên 3 phương diện: về
luật pháp, về tố tụng và về tổ chức nhằm dân chủ hoá thêm một bước tổ chức và
hoạt động tư pháp phù hợp với lời nói đầu của Hiến pháp năm 1946, “đảm bảo các
quyền tự do, dân chủ, thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân”.
Cuộ
c cải cách đã thay đổi nhiều về cơ cấu tổ chức, một trong những sự thay đổi đó
tập trung vào việc đẩy mạnh công tác hoà giải: ở cấp huyện cho thành lập Hội đồng
hoà giải gồm thẩm phán và hội thẩm nhân dân. Trong điều kiện kháng chiến khó
khăn, gian khổ, hoạt động này đã góp phần tích cực, ghi những dấu ấn đầu tiên
trong việc thực hiện
luật, Trường cán bộ tư pháp, Văn phòng và một số phòng giúp việc do Bộ trưởng
Bộ Tư pháp quyết định thành lập sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn.
Với những quy định này, lần đầu tiên công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
được xác lập là một nhiệm vụ chủ yếu của ngành Tư pháp. Nghị định số 01 tạo lập
cơ sở pháp lý đầu tiên ghi nhận và đánh giá tầm quan trọng của công tác này, đưa
hoạt động phổ biến giáo dục pháp luật chính thứ
c trở thành một nhiệm vụ không
thể thiếu của ngành tư pháp nói riêng và của Nhà nước nói chung.
2. Công tác phổ biến giáo dục pháp luật giai đoạn 1961 đến 1972
Đại hôi Đảng toàn quốc lần thứ III năm 1960 đã khẳng định: “Nhà nước dân
chủ nhân dân có nhiệm vụ tiến hành công tác giáo dục, tổ chức và hướng dẫn nhân 3
C«ng b¸o n−íc ViÖt nam D©n chñ céng hoµ sè 19/55, tr. 192
14
dân thực hiện sự nghiệp cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội;
xây dựng và củng cố sự nhất trí về chính trị và tinh thần của nhân dân. Nhà nước
có trách nhiệm bảo đảm mọi quyền lợi của nhân dân, không ngừng mở rộng dân
chủ, thi hành đúng Hiến pháp và các luật lệ đã ban hành, xây dựng pháp chế xã hội
chủ nghĩa và giáo dục mọi người tôn tr
ọng pháp luật; phát huy tinh thần làm chủ,
nâng cao trình độ chính trị, vǎn hóa của nhân dân”.
4
Theo Luật Tổ chức Hội đồng Chính phủ được thông qua ngày 14/7/1960,
trong Chính phủ không có Bộ Tư pháp. Các chức năng của Bộ Tư pháp được
chuyển giao cho các cơ quan như Toà án nhân dân tối cao, Văn phòng Phủ Thủ
tướng (Vụ Pháp chế Phủ Thủ tướng) và một số cơ quan khác. Công tác phổ biến,
nhân dân…” (Điều 6).
Như vậy, trong suốt một thời gian hơn 10 năm (1961-1972), hoạt động phổ
biến, giáo dục pháp luật trên thực tế chia tách thành nhiệm vụ của nhiều cơ quan,
đơn vị, bộ, ngành cùng triển khai thực hiện. Điều này ít nhiều làm hoạt động này
thiếu tập trung, hạn chế về hiệu quả hoạt
động. Trước yêu cầu tập trung đẩy mạnh
hoạt động pháp chế, trong đó có công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đáp ứng yêu
cầu tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, quản lý Nhà nước bằng pháp luật, phục
vụ tốt hơn nữa cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, năm 1972, theo Nghị
quyết số 133-NQ/QH/K4 ngày 14/9/1972 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Uỷ
ban
Pháp chế của Hội đồng Chính phủ được thành lập. Đây là cơ quan có trách nhiệm
“quản lý thống nhất công tác pháp chế của Hội đồng Chính phủ theo đường lối,
chính sách của Đảng và Hiến pháp của Nhà nước, làm cho pháp chế trở thành sức
mạnh, uy quyền của Nhà nước dân chủ nhân dân trong việc quản lý kinh tế và các
lĩnh vực công tác khác”.
Theo Nghị định số 190/CP ngày 9/10/1972 của Chính phủ, nhiệm vụ, quyền
hạ
n và tổ chức bộ máy của Uỷ ban Pháp chế, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
là một trong những nội dung rất cơ bản được quy định như sau:
…2. Về thi hành pháp luật:
- Phối hợp với các ngành để tuyên truyền, phổ biến pháp luật và hướng dẫn
việc thi hành pháp luật;
- Theo dõi việc thi hành pháp luật ở các ngành, các cấp và trong nhân dân; đề
nghị với Hội đồng Chính phủ những biện pháp thích hợp nhằ
m thúc đẩy việc thi
hành đó.
Điều 4 của Nghị định quy định trong Uỷ ban pháp chế có Vụ Tuyên truyền,
phổ biến pháp luật. Triển khai các công việc ban đầu của Uỷ ban pháp chế, hoạt
động tuyên truyền đã tập trung vào việc ra tờ Thông tin pháp chế, hình thức báo
chế nghiêm chỉnh, thật sự tôn trọng quyền làm chủ tập thể và bảo đảm quyền lợi
của công dân.
6
6
Vn kin ng Ton tp, tp 37, tr 562 , NXB Chớnh tr Quc gia, H Ni, 2004 17
3. Cụng tỏc ph bin, giỏo dc phỏp lut t 1981 n nay
3.1. T 1981 n 1998
Sau khi Hin phỏp nm 1980 c thụng qua, cụng tỏc ph bin, giỏo dc phỏp
lut giai on ny c ỏnh du bi nhiu s kin quan trng. Thỏng 3 nm 1982,
i hi ng ton quc ln th V ó din ra ti H Ni. i hi ch rừ: Nhà nớc
ta phải sử dụng đầy đủ cả quyền lực chính trị và quyền lực kinh tế để giữ vững kỷ
cơng xã hội, đấu tranh có hiệu quả chống các hành vi phạm pháp và các tệ nạn xã
hội, khắc phục cho đợc tình hình không bình thờng là nhiều luật và pháp lệnh đã
ban hành không đợc thi hành nghiêm chỉnh, thậm chí không đ
ợc thi hành. Các cơ
quan nhà nớc ở trung ơng và địa phơng cần có thái độ kiên quyết và biện pháp
cứng rắn ngăn ngừa và loại trừ các hành động vi phạm quyền làm chủ tập thể của
nhân dân, thẳng tay trấn áp bọn phản cách mạng; trừng trị bọn bóc lột không chịu cải
tạo, bọn lu manh, côn đồ, bọn đầu cơ, buôn lậu, tham ô; xử lý nghiêm minh những
cán bộ, nhân viên lợi dụng chức quyền để làm trái pháp luật.
Các cấp uỷ đảng, các cơ quan nhà nớc và các đoàn thể phải thờng xuyên phổ
biến, giải thích pháp luật trong các tầng lớp nhân dân, đa việc giáo dục về pháp
luật vào các trờng học, các cấp học, xây dựng ý thức sống có pháp luật và tôn
trng tõm, mi nhn ca ngnh T phỏp. Cụng tỏc ph
bin, giỏo dc phỏp lut
bc u ó i vo nn np, theo k hoch tuyờn truyn c ban hnh hng nm.
Ngnh T phỏp ó tp trung trin khai nhiu hot ng nghip v v ph bin phỏp
lut n nhõn dõn c s nh: a cỏn b ca B xung xó lm vic trong thi gian
di; t chc tip xỳc vi cỏc i tng cỏc la tui, gi
i, trỡnh khỏc nhau
ph bin cỏc lut l v rung t, hụn nhõn v gia ỡnh, trt t an ton xó
hiNhiu a phng mi thnh lp S T phỏp nh thnh ph H Ni, thnh
ph H Chớ Minh, Hi Phũng, Nng, Cao Bngcng thc hin theo k hoch
ph bin, giỏo dc phỏp lut ca B T phỏp.
Trờn c s ú, cụng tỏc ph bin giỏo dc phỏp lu
t c c bit nhn mnh
v khng nh vai trũ ca mỡnh trong vic gúp phn qun lý nh nc bng phỏp
lut khi ngy 07/12/1982, Ch tch Hi ng B trng ó ban hnh Ch th s
315/CT V vic y mnh tuyờn truyn, ph bin giỏo dc phỏp lut.
i hi ng ton quc ln th VI (nm 1986) ó ra ng li i mi
ton din t n
c, v cng ỏnh giỏ rt cao vai trũ ca cụng tỏc PBGDPL khi
khng nh Quản lý đất nớc bằng pháp luật, chứ không chỉ bằng đạo lý. Pháp
luật là thể chế hóa đờng lối, chủ trơng của Đảng, thể hiện ý chí của nhân dân,
phải đợc thực hiện thống nhất trong cả nớc. Tuân theo pháp luật là chấp hành
đờng lối, chủ trơng của Đảng. Quản lý bằng pháp luật đòi hỏi phải quan tâm
xây dựng pháp luật. Coi trọng công tác giáo dục, tuyên truyền, giải thích pháp luật.
19
Đa việc dạy pháp luật vào hệ thống các trờng của Đảng, của Nhà nớc (kể cả các
trờng phổ thông, đại học), của các đoàn thể nhân dân. Cán bộ quản lý các cấp từ
trung ơng đến đơn vị cơ sở phải có kiến thức về quản lý hành chính và hiểu biết về
pháp luật. Cần sử dụng nhiều hình thức và biện pháp để giáo dục, nâng cao ý thức
8
Vn kin ng Ton tp, tp 47, tr.803 , NXB Chớnh tr Quc gia, H Ni, 2006.
9
Vn kin i hi ng ton quc ln th VII, NXB S tht, H Ni, 1991
10
Vn kin i hi ng ton quc ln th VIII, NXB S tht, H Ni, 1996
20
Các văn kiện, chủ trương của Đảng về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
thời kỳ này đều được định hướng theo quan điểm: phổ biến, giáo dục pháp luật là
một bộ phận quan trọng, không tách rời công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; và
theo phương châm: thường xuyên tăng cường tuyên truyền, phổ biến và giáo dục
pháp luật nhằm nâng cao hiểu biết và ý thức tôn trọng pháp luật, s
ống và làm việc
theo Hiến pháp và pháp luật của cán bộ, nhân dân, bảo đảm cho pháp luật được thi
hành một cách nghiêm minh và thống nhất.
Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, Hiến pháp năm 1992 được thông qua.
Luật Tổ chức Chính phủ cũng được ban hành ngay trong năm 1992. Theo Luật Tổ
chức Chính phủ thì một trong những nhiệm vụ của Chính phủ là “Quyết định các
biện pháp chỉ đạo và kiểm tra việc thi hành Hiến pháp, pháp luậ
t, các quyết định
của Chính phủ trong các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị
vũ trang nhân dân và công dân; tổ chức và lãnh đạo công tác tuyên truyền, giáo dục
Hiến pháp và pháp luật; báo cáo với Quốc hội về công tác phòng ngừa và chống vi
phạm pháp luật và tội phạm”(Điều 18).
Ngày 04/6/1993, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 38/CP về chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và tổ ch
ức của Bộ Tư pháp (thay thế Nghị định số 143-HĐBT
nguồn quan trọng cho việc đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Theo
đó, công tác này trong thời gian qua đã đạt nhiều kết quả quan trọng, đó là: Lãnh
đạo các cấp, các ngành đã có sự
chuyển biến trong nhận thức về vai trò của pháp
luật và công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong quản lý, chỉ đạo, điều hành của
mình. Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được triển khai rộng khắp theo cơ chế
phối hợp, thông qua hoạt động của Hội đồng phối hợp công tác phổ biến giáo dục
pháp luật các cấp. Đội ngũ cán bộ làm công tác phổ biến giáo dục pháp luật t
ừng
bước được xây dựng, củng cố. Bên cạnh đội ngũ cán bộ chuyên trách của ngành tư
pháp, đã thu hút được một lực lượng đông đảo báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp
luật, cộng tác viên tham gia. Các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật phong phú,
đa dạng và thiết thực với người dân hơn như: tuyên truyền miệng; biên soạn tài liệu
pháp luật, đưa pháp luật vào giảng dạy trong trường học, tuyên truyền pháp luật
trên các ph
ương tiện thông tin đại chúng, xây dựng Câu lạc bộ pháp luật, xây dựng,
quản lý và khai thác tủ sách pháp luật, thi tìm hiểu pháp luật, thông qua hoạt động
22
hoà giải ở cơ sở; thông qua tư vấn pháp luật và trợ giúp pháp lý; thông qua các
phiên toà xét xử công khai, lưu động…
Nhìn chung, hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật dần đi vào nền nếp, theo
kế hoạch, chương trình cụ thể, được thực hiện thường xuyên, có trọng tâm hơn
trước. Nội dung phổ biến pháp luật đã chú trọng gắn với từng nhóm đối tượng và
phù hợp với nhiệ
m vụ chính trị, kinh tế, xã hội ở địa phương, yêu cầu nhiệm vụ của
bộ, ngành. Nhiều nội dung pháp luật đã đi vào cuộc sống, đến được với các tầng
lớp nhân dân. Qua tổng kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 02, Quyết định số 03 của
Thủ tướng Chính phủ cho thấy công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đã góp phần
tạo sự chuy
ẫn việc xây dựng, quản lý, sử dụng tủ sách pháp luật ở xã, phường,
thị trấn, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và trường học.
Một số đạo luật cũng đã quy định rõ nhiệm vụ của các tổ chức, cơ quan trong
phổ biến, giáo dục pháp luật. Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 1999 quy định
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có nhiệ
m vụ “tuyên truyền, động viên nhân dân phát
huy quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nghiêm
chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật” “tập hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân để
phản ánh, kiến nghị với Đảng và Nhà nước”. Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy
ban nhân dân năm 2003 quy định HĐND có nhiệm vụ quyết định biện pháp bảo
đảm việc thi hành Hiến pháp, luật, các v
ăn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và
nghị quyết của mình ở địa phương. Còn Ủy ban nhân dân có nhiệm vụ tổ chức, chỉ
đạo và kiểm tra việc thi hành Hiến pháp, luật, các văn bản quy phạm pháp luật của
cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp; tổ chức
thực hiện công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật ở địa phương.
Trong những bướ
c chuyển mạnh của công tác phổ biến giáo dục pháp luật
những năm đầu của thế kỷ XXI, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ
Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới đặt
ra mục tiêu hoạt động của công tác này: “Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến
giáo dục pháp luật với nhiều hình thức phong phú, sinh động… nâng cao ý thức
pháp luật cho cán bộ
, nhân dân”.
Đối với ngành tư pháp, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giai đoạn này
vẫn được coi là một trong những mũi nhọn của ngành Tư pháp. Để tiếp tục thực
24
hiện Chỉ thị số 02, Quyết định số 03 của Thủ tướng Chính phủ, tạo đà cho công tác
phổ biến, giáo dục pháp luật được thường xuyên, liên tục, dài hơi hơn, ngày
công bằng, dân chủ, văn minh. Chỉ thị xác định công tác phổ biến giáo dục pháp