MỞ ĐẦU
Thực tế hiện nay, vấn đề thu hồi đất (THĐ) là một vấn đề hết sức phức tạp và
nan giải, đặc biệt là ở nước ta, vì nước ta là một nước nông nghiệp, đất đai thuộc sở
hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Tuy nhiên nhà nước không trực tiếp
chiếm hữu, sử dụng đất (SDĐ) mà giao quyền chiếm hữu, sử dụng đất cho người
dân, trong quá trình chiếm hữu, sử dụng đất, người sử dụng đã đầu tư và cải tạo làm
tăng giá trị của đất đai. Đó chính là thành quả lao động, kết quả đầu tư của người sử
dụng đất được pháp luật ghi nhận và bảo hộ.
Ngày nay khi dân số càng tăng, đất đai ngày càng thu hẹp, giá đất mỗi ngày
một lên cao thì việc quản lý nhà nước đối với đất đai lại càng khó khăn. Nếu không
có những chính sách hợp lý, nếu không quan tâm tới lợi ích của nhân dân thì khi
thực hiện các chính sách về đất đai, đặc biệt là thu hồi đất sẽ làm nảy sinh nhiều vấn
đề như khiếu nại, tố cáo, biểu tình hay chống đối lại chính quyền. Do đó, khi nhà
nước thu hồi đất cần phải tiến hành bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người có đất
bị Nhà nước thu hồi. Nhưng việc Nhà nước xây dựng các quy định về bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư khi thu hồi đất như vậy đã hợp lý chưa, đã thoả mãn được lòng dân
chưa thì bài viết dưới đây em xin đi “Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của việc
xây dựng các quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất ở nước ta”.
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ
KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
1. Khái niệm bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
1.1. Khái niệm bồi thường
Khoản 6 Điều 4 Luật đất đai 2003 quy định: “Bồi thường khi Nhà nước thu
hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu
hồi cho người bị thu hồi đất”. Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất có một số đặc
điểm cơ bản sau:
1
- Bồi thường là trách nhiệm của Nhà nước nằm bù đắp tổn thất về quyền và
- Bồi thường bằng tiền để tự lo chỗ ở mới (Điều 4).
Căn cứ vào quy định này và nội dung các quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư khi nhà nước THĐ của Luật đất đai năm 2003 và các văn bản hưỡng dẫn thi
hành, ta có thể hiểu “Tái định cư là việc người sử dụng đất được bố trí nơi ở mới
bằng một trong các hình thức: Bồi thường bằng nhà ở mới hoặc bồi thường bằng
giao đất ở hoặc bồi thường bằng tiền để tự lo chỗ ở mới khi họ bị Nhà nước thu hồi
đất và phải di chuyển chỗ ở”.
2. Cơ sở của việc quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất
2.1. Cơ sở pháp lý
- Luật đất đai năm 2003
- Nghị định của Chính phủ số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/08/2009 quy định bổ sung về
quy hoạch sử dụng đất, giá đất, THĐ, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
- Nghị định chính phủ số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007 quy định bổ sung về việc
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, THĐ, thực hiện quyền SDĐ, trình tự, thủ
tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước THĐ và giải quyết khiếu nại về đất
đai.
- Nghị định chính phủ số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi hành luật đất đai
- Nghị định chính phủ số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 về bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư khi Nhà nước THĐ
- Thông tư của Bộ tài nguyên và môi trường số 14/2009/TT-BTNMT ngày
01/10/2009 quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự thủ tục
THĐ, giao đất, cho thuê đất.
2.2. Cơ sở lý luận
Thứ nhất, vấn đề bồi thường khi Nhà nước THĐ được đặt ra dựa trên cơ sở
quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo hộ.
Thứ hai, xét về bản chất Nhà nước ta là Nhà nước do nhân dân lao động thiết
lập lên, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân; phục vụ và chăm lo
cho lợi ích, sự phồn vinh của người dân. Hiến Pháp nước ta ghi nhận quyền tự do
của việc THĐ gặp rất nhiều khó khăn, phức tạp. Việc giải quyết tốt vấn đề bồi
4
thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước THĐ sẽ mang lại ý nghĩa to lớn trên nhiều
phương diện.
II. THỰC TIỄN VIỆC XÂY DỰNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ BỒI THƯỜNG HỖ
TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT Ở NƯỚC TA
Ở nước ta, các quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ngày
càng phù hợp hơn với yêu cầu của thực tế cũng như yêu cầu của các quy luật kinh tế.
Quan tâm tới lợi ích của những người bị THĐ, Nghị định 197/2004/NĐ-CP sau một
thời gian thực hiện, đặc biệt là sau sự ra đời của NĐ 84/2007/NĐ-CP đã thể hiện
được tính khả thi và vai trò tích cực của các văn bản pháp luật. Vì thế, công tác bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư trong thời gian qua đã đạt được các kết quả khá khả
quan, thể hiện trên một số khía cạnh chủ yếu sau:
Thứ nhất, tạo cơ sở pháp lý đưa công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng đi
vào nề nếp; góp phần nâng cao tính dân chủ, công khai, minh bạch trong việc bồi
thường, GPMB; góp phần giải quyết quỹ đất “sạch” đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp
hoá, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; góp phần đáng kể vào việc bảo vệ
quyền và lợi ích của NSDĐ, giúp họ nhanh chóng ổn định đời sống và sản xuất.
Thứ hai, đối tượng được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ngày càng được xác
định đầy đủ, chính xác, phù hợp với tình hình thực tế của đất nước, giúp cho công
tác quản lý đất đai của Nhà nước được nâng cao, người nhận đền bù cũng thấy thỏa
đáng.
Thứ ba, mức bồi thường hỗ trợ ngày càng cao tạo điều kiện cho người dân bị
THĐ có thể khôi phục lại tài sản bị mất. Một số biện pháp hỗ trợ đã được bổ sung và
quy định rất rõ ràng, thể hiện được tinh thần đổi mới của Đảng và Nhà nước nhằm
giúp cho người dân ổn định về đời sống và sản xuất.
Thứ tư, việc bổ sung quy định về quyền tự thỏa thuận của các nhà đầu tư cần
đất với người sử dụng đất đã góp phần giảm sức ép cho các cơ quan hành chính
Nhà nước THĐ có nhiều ưu điểm tuy nhiên vẫn không tránh khỏi những hạn chế,
bất cập, đặc biệt là vấn đề giá đền bù, gây những tác động tiêu cực đối với thị trường
bất động sản. Vẫn còn tình trạng người dân được bồi thường đất thuộc diện quy
hoạch với giá thấp và những người này lại phải mua đất tái định cư (TĐC) với giá
6
cao. Trong khi đó đất của họ bị thu hồi thì lại được doanh nghiệp chia lô để bán
thành khu TĐC mới cho những người có nhu cầu gây nên bức xúc, khiếu kiện kéo
dài. Một số dự án chưa có khu TĐC hoặc chưa giải quyết TĐC đã quyết định THĐ.
Những trường hợp bị THĐ ở thì tiền bồi thường không đủ để mua nhà ở mới tại khu
TĐC. Giá đất bồi thường thấp hơn giá đất cùng loại trên thị trường, đặc biệt là đối
với đất nông nghiệp trong khu đô thị, khu dân cư nông thôn. Tiền bồi thường đất
nông nghiệp thường không đủ để nhận chuyển nhượng diện tích đất nông nghiệp
tương tự hoặc không đủ để nhận chuyển nhượng đất sản xuất kinh doanh phi nông
nghiệp để chuyển sang làm ngành nghề khác.
Pháp luật đã quy định giá đất để tính bồi thường sát với giá chuyển nhượng
quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường, nhưng trên
thực tế lại diễn ra những bất cập xung quanh vấn đề này, cụ thể:
- Xuất hiện tình trạng hai giá đất trên cùng một thị trường, một bên là mức giá
để tính bồi thường cho nông dân rất thấp và bên kia là giá đất sau khi chuyển đổi
mục đích SDĐ từ đất nông nghiệp tăng lên rất cao. Đó là một kẽ hở lớn, tạo điều
kiện cho nạn quan liêu, tham nhũng, đầu cơ và tạo động lực chuyển đổi các khu đất
thuận lợi nhất cho sản xuất nông nghiệp sang mục đích sử dụng khác.
- Cơ chế mới về giải phóng mặt bằng (GPMB) sẽ gây khó khăn cho các bên
thực thi, nhất là chủ đầu tư dự án phát triển kinh tế. Bởi vì, do giá đất để tính bồi
thường khi Nhà nước thu hồi đất theo Nghị định số 69/2009/NĐ-CP tăng lên rất
nhiều so với các quy định trước đây và được tính kể từ thời điểm Nghị định này có
hiệu lực (ngày 01/10/2009), khi đó, những dự án kéo dài nhiều năm, người dân đã
bàn giao mặt bằng thì nhận mức giá bồi thường ở thời điểm thời điểm đó thấp,
Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước THĐ chưa giải
quyết mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa Nhà nước, chủ đầu tư và người bị THĐ
cũng như chưa xử lý được mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa người bị THĐ ở phải
di chuyển chỗ ở với người không phải di chuyển chỗ ở được hưởng lợi từ việc THĐ.
III. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ BỒI
THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
Một là, sửa đổi, bổ sung quy định về thời hạn thông báo việc THĐ cho người
dân quy định tại Khoản 2 Điều 39 Luật đất đai năm 2003 theo hướng rút ngắn thời
8
hạn này; bởi lẽ việc THĐ dựa trên quy hoạch, kế hoạch SDĐ đã được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền xét duyệt và được công bố công khai cho mọi người sử dụng
đất biết.
Hai là, sửa đổi quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người có đất bị
thu hồi.
- Sửa đổi quy định về thời điểm tính giá bồi thường cho người SDĐ khi bị
Nhà nước thu hồi theo giải pháp sau:
+ Nên quy định việc tính giá bồi thường theo thời điểm trả tiền bồi thường
trên thực tế;
+ Đối với trường hợp THĐ nông nghiệp của nông dân thì ngoài việc họ được
bồi thường theo giá đất nông nghiệp tại thời điểm THĐ cần quy định một tỷ lệ hỗ trợ
nhằm để thưởng, khuyến khích đối với những người bị THĐ chấp hành nghiêm
chỉnh, nhanh chóng việc bàn giao mặt bằng cho các nhà đầu tư. Khoản hỗ trợ này
được trích từ khoản chênh lệch giữa giá đất bồi thường với giá đất sau khi đã chuyển
mục đích SDĐ nông nghiệp
+ Cần nghiên cứu, xây dựng quy định về bồi thường thiệt hại về tinh thần cho
người bị THĐ
- Quy định về việc thành lập cơ quan chuyên trách với chức năng theo dõi,
cung cấp thông tin về giá đất, xác định giá đất làm căn cứ đề xác định giá bồi
10