Đề tài:
Phân tích cơ sở lý luận và thực
tiễn của việc ban hành luật thuế
thu nhập doanh nghiệp 2008
Giảng viên hướng dẫn :
Sinh viên thực hiện :
Lớp :
MỤC LỤC
Đề tài: 1
Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của việc ban hành luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 1
MỤC LỤC 2
LỜI MỞ ĐẦU
Tại Việt Nam, hệ thống pháp luật về thuế nhìn chung còn khá non trẻ và đi sau
các nước trên thế giới một khoảng cách rất lâu dài. Trong quá trình đổi mới cơ chế
quản lý kinh tế của đất nước, hệ thống pháp luật nói chung và hệ thống pháp luật về
thuế nói riêng đã được chú trọng xây dựng, từng bước hoàn thiện, góp phần cải thiện
môi trường đầu tư, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, động viên mọi nguồn lực tài chính
vào ngân sách nhà nước. Mặc dù qua nhiều lần sửa đổi nhưng luật hiện hành vẫn còn
một số hạn chế nhất định cần khắc phục kịp thời. Do đó để đảm bảo tính thống nhất,
đồng bộ trong quá trình cải cách hệ thống pháp luật về thuế, cần sửa đổi để bao quát
hết các đối tượng nộp thuế, các khoản thu nhập chịu thuế, đảm bảo tính công bằng,
minh bạch trong căn cứ tính thuế và đáp ứng kịp thời những yêu cầu thực tiễn đặt ra.
Với sự cấp thiết trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật thuế hiện
hành, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp - một trong những đạo luật quan trọng có ảnh
hưởng lớn đến sự thu hút cho môi trường đầu tư của một quốc gia đã được quốc hội
nước ta thông qua vào năm 2008. Với mục đích đi sâu phân tích, đánh giá những cơ
sở lý luận và thực tiễn của việc ban hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 để
góp phần nhìn nhận hệ thống pháp luật thuế Việt Nam trong điều kiện phát triển, hội
nhập kinh tế hiện nay, nhóm em xin lựa chọn Đề tài số 06 : Phân tích cơ sở lý luận
và thực tiễn của việc ban hành luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008.
Trong quá trình làm bài tập thể nhóm đã cố gắng nhiều, song với trình độ hiểu
Thuế TNDN mới này đã góp phần củng cố chính sách về thuế của nước ta nhằm đáp
ứng nhu cầu hội nhập và phát triển hiện nay.
B. CƠ SỞ BAN HÀNH LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NHIỆP 2008
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Cơ sở ra đời thuế thu nhập doanh nghiệp
Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) là loại thuế trực thu đánh giá trên phần
thu nhập sau khi trừ đi các khoản chi phí được trừ liên quan đến thu nhập của cơ sở
sản xuất kinh doanh, dịch vụ.
Thuế thu nhập doanh nghiệp xuất hiện rất sớm trong lịch sử phát triển của
thuế . Hiện nay ở các nước phát triển, thuế thu nhập doanh nghiệp giữ vai trò đặc biệt
quan trọng trong việc đảm bảo ổn định nguồn thu ngân sách Nhà nước và thực hiện
phân phối thu nhập. Mức thuế cao hay thấp áp dụng cho các chủ thể thuộc đối tượng
nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là khác nhau, điều đó phụ thuộc vào quan điểm điều
tiết thu nhập và mục tiêu đặt ra trong phân phối thu nhập của từng quốc gia trong
từng giai đoạn lịch sử nhất định. Thuế thu nhập doanh nghiệp ra đời bắt nguồn từ các
lý do chủ yếu sau:
- Thuế thu nhập doanh nghiệp ra đời bắt nguồn từ yêu cầu thực hiện chức năng
tái phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội.
- Sự ra đời của thuế thu nhập doanh nghiệp xuất phát từ nhu cầu tài chính của
Nhà nước.
- Thuế thu nhập là công cụ để nhà nước quản lý và điều tiết các hoạt động kinh
tế xã hội.
1.2. Mục đích của thuế thu nhập doanh nghiệp
Thuế thu nhập doanh nghiệp ra đời nhằm mục đích :
Thứ nhất là làm tăng ngân sách nhà nước. Thuế thu nhập doanh nghiệp là một
khoản thuế nộp vào ngân sách nhà nước thông qua thu nhập chịu thuế của các doanh
nghiệp, các tổ chức kinh tế và các hộ kinh doanh…
Thứ hai, điều tiết nền kinh tế. Nhà nước sử dụng sắc thuế để điều tiết vĩ mô cho
phù hợp với từng ngành nghề, từng lĩnh vực kinh doanh và từng khu vực.
Thứ ba, khuyến khích đầu tư trong và ngoài nước thông qua các chính sách về
những ngành, lĩnh vực và những vùng, miền mà Nhà nước có chiến lược ưu tiên phát
triển trong từng giai đoạn nhất định.
Thứ tư, thuế thu nhập doanh nghiệp còn là một trong những công cụ quan
trọng của Nhà nước trong việc thực hiện chứng năng điều tiết các hoạt động kinh tế -
xã hội trong từng thời kỳ phát triển kinh tế nhất định.
Nhà nước sử dụng chính sách thuế để điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Vì lợi ích xã
hội, Nhà nước có thể tăng thuế hoặc giảm thuế đối với thu nhập của các doanh nghiệp
để kích thích hoặc hạn chế sự phát triển các lĩnh vực, các ngành nghề khác nhau của
nền kinh tế. Cụ thể trong những năm khủng khoảng hoặc suy thoái kinh tế, nhà nước
có thể hạ thấp mức thuế, tạo ra những điều kiện thuận lợi kích thích tiêu dùng, tăng
đầu tư và mở rộng sản xuất. Ngược lại trong thời kỳ nền kinh tế phát triển quá mức,
có nguy cơ dẫn đến mất cân đối, bằng cách tăng thuế thu hẹp đầu tư, Nhà nước có thể
giữ vững nhịp độ tăng trưởng theo mục tiêu đã đặt ra.
Thư năm, thuế thu nhập doanh nghiệp là công cụ thực hiện kiểm tra, kiểm
soát các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Thông qua khai báo thuế của các doanh nghiệp, công ty và thông qua công tác
kiểm tra, kiểm soát của cơ quan thuế, có thể kiểm tra, kiểm soát và nắm được thực
trạng các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, từ đó có thể phát hiện
ra những vấn đề gian lận thương mại, lậu thuế, khai báo sai tình hình sản xuất kinh
doanh trong thực tế, góp phần chấn chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh và nâng
cao vai trò giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh trong xã hội của cơ quan thuế.
1.4. Những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với thuế thu nhập
doanh nghiệp
Để góp phần thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và chủ động thực hiện thắng lợi hội nhập kinh
tế quốc tế, Bộ Chính trị đã thông qua chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2010
và Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 201/2004/QĐ-TTg ngày
06/12/2004 về việc phê duyệt chương trình cụ thể để thực hiện chiến lược nêu trên.
Theo Quyết định này, thì pháp luật về thuế TNDN cần được hoàn thiện “theo hướng
giảm mức thuế suất, giảm diện miễn, giảm thuế; thống nhất mức thuế suất và ưu đãi
đầu tư, kinh doanh. Luật thuế TNDN 2003 đã bỏ thu thế bổ sung và hạ mức thuế từ
32% xuống 28% đối với doanh nghiệp trong nước; bãi bỏ thuế chuyển lợi nhuận ra
nước ngoài (3%, 5%, 7%) đối với nhà đầu tư nước ngoài để chuyển từ mức thuế
TNDN 25% sang áp dụng chung mức thuế 28% như các doanh nghiệp trong nước.
Việc điều chỉnh giảm mức thuế đối với doanh nghiệp mới thành lập mà còn tạo thêm
tiềm lực tài chính cho các doanh nghiệp đang hoat động (chủ yếu là doanh nghiệp
trong nước) đổi mới thiết bị , bổ sung vốn đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, nâng
cao năng lực cạnh tranh. Theo số liêu thống kê năm 2006, chỉ tính riêng 45 tập đoàn
kinh tế, Tổng công ty nhà nước, vôn kinh doanh đã được tích lũy, bổ sung thêm gần
5.300 tỷ đồng, quỹ đầu tư phát triển tăng gần 13.000 tỷ đồng và quỹ dự phòng tài
chính để phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh tăng khoảng 2000 tỷ đồng. Luật thuế
TNDN 2003 cũng quy định chính sách ưu đãi trên cơ sở chọn mức ưu đãi thuế cao
nhất của luật khuyến khích đầu tư trong nước và Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
để áp dụng chung cho doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp đầu tư nước ngoài
đã khắc phục sự khác biệt đối xử trong ưu đãi đầu tư, tạo ra môi trường cạnh tranh
bình đẳng, thúc đẩy đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài cùng phát triển, góp phần
quan trọng vào tăng trưởng kinh tế cao trong những năm vừa qua.
- Thứ hai, góp phần bảo đảm nguồn thu quan trọng của NSNN. Mặc dù đã hạ
mức thuế và áp dụng các mức ưu đãi cao nhưng số thu NSNN vể thuế TNDN vẫn bảo
đảm tăng trưởng do có tác động cải thiện môi trường đầu tư, doanh nghiệp trong nước
và doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đều phát triển về số lượng, quy mô và hiệu quả
kinh doanh, mức thuế hợp lý tác động đến việc tự giác sự tuân thủ tốt hơn…Trong
giai đoạn 2004 – 2007, số thu thuế TNDN (không kể thu từ dầu khí) đạt mức bình
quân trên 30 nghìn tỷ đồng/năm với mức tăng trưởng bình quân hàng năm gần 17%.
Luật thuế TNDN đã góp phần bảo đảm nguồn thu quan trọng của NSNN, đáp ứng
nhu cầu chi tiêu ngày càng tăng về đầu tư phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, củng cố
an ninh, quốc phòng của đất nước.
- Thứ ba, thúc đẩy cải cách hành chính trong quản lý thuế và ưu đãi đầu tư: Luật
thuế TNDN áp dụng cơ chế doanh nghiệp tự tính, tự khai, tự chịu trách nhiệm trước
pháp luật về tính trung thực của số liệu đã kê khai thay cho cơ chế cơ quan thuế tính
được yêu cầu về phát triển kinh tế theo vùng và lãnh thổ, nhất là thu hút đầu tư vào
các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Qua thống kê cho thấy có
tới 90% số lượng ngành kinh tế cấp II và 33% ngành kinh tế cấp III được hưởng ưu
đãi thuế. Trong khi đó, theo tiêu chí địa bàn thì có tới 32% huyện trong cả nước thuộc
diện ưu đãi và 24% số huyện thuộc diện đặc biệt ưu đãi. Bên cạnh đó, còn có gần 200
Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu kinh tế, do Trung ương thành lập (bình quân
mỗi tỉnh có 3 Khu) và hàng trăm khu công nghiệp nhỏ và vừa, cụm công nghiệp do
cấp tỉnh thành lập, chưa kể các điểm công nghiệp cũng thuộc diện ưu đãi. Thực tế
quản lý cho thấy các nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài, tập trung chủ yếu
vào các Khu công nghiệp, Khu chế xuất hoặc những địa bàn thuận lợi (TP. Hồ Chí
Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa Vũng Tàu, Vĩnh Yên, Hải
Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh). Rõ ràng là : khi chúng ta vừa áp dụng các ưu đãi theo
địa bàn, lại vừa có ưu đãi thuế theo ngành nghề, lĩnh vực thì các nhà đầu tư không dại
gì đầu tư vào địa bàn khó khăn và đặc biệt khó khăn. Như vậy, trên giác độ phân bổ
nguồn lực thì việc sử dụng các ưu đãi thuế để phục vụ cho chính sách ưu đãi đầu tư
đã không đạt được mục tiêu đề ra do các nhà đầu đã lựa chọn tiêu chí ngành nghề để
bỏ vốn đầu tư.
Qua tham khảo các nước trong khu vực và trên thế giới cho thấy xu hướng gần
đây của các nước đã chuyển từ ưu đãi theo ngành sang ưu đãi theo diện rộng, khuyến
khích tổng thể nền kinh tế bằng chính sách điều tiết thuế TNDN hợp lý, thu hẹp phạm
vi ngành và chỉ tập trung cho rất ít ngành mũi nhọn và vùng đặc biệt khó khăn. Ví dụ,
Trung Quốc đã hạ thuế suất 33% xuống còn 25% đồng thời với việc xoá bỏ (theo lộ
trình 5 năm) hầu hết các ưu đãi thuế, kể cả ưu đãi đối với FDI đã cấp trước đây. Về
lĩnh vực, Trung quốc chỉ còn ưu tiên cho DN có công nghệ cao đồng thời là công
nghệ mới nhưng họ dành ưu đãi thuế cho các DN đầu tư vào các vùng tự trị và khó
khăn ở phía Tây.
Thực tiễn nước ta trong thời gian vừa qua cũng như kinh nghiệm của các nước
như đã nêu ở phần trên cho thấy: mặc dù chính sách ưu đãi thuế của Việt Nam có
mức ưu đãi hấp dẫn hơn so với nhiều nước nhưng nếu như không sửa đổi để thu hút
đầu tư có lựa chọn thì hiệu quả thu hút đầu tư trong nước cũng như nước ngoài để
đãi đối với bất động sản. Tuy nhiên, thực hiện quy định của Luật đất đai, các trường
hợp được giao đất để kinh doanh bất động sản đều phải thực hiện đấu giá quyền sử
dụng đất hoặc nộp theo giá đất do UBND địa phương quy định (được điều chỉnh hàng
năm). Do thay đổi về cơ chế xác định giá đất theo giá thị trường, chính sách thu đối
với đất đai đã điều tiết được các khoản lợi nhuận tăng do chênh lệch giá đất và giảm
bớt lợi nhuận của doanh nghiệp. Vì vậy, không cần thiết phải duy trì việc thu bổ sung
đối với hoạt động chuyển quyền sử dụng đất của doanh nghiệp, thay vào đó cần áp
dụng chính sách thuế chung đối với kinh doanh bất động sản, trong đó có việc kinh
doanh quyền sử dụng đất.
Thứ tư, về quyền và nghĩa vụ đối với nơi tiến hành kinh doanh : Luật thuế
TNDN 2003 được ban hành trong điều kiện doanh nghiệp thường có trụ sở điều hành
tại địa phương nơi kinh doanh; Luật quản lý thuế quy định nộp thuế TNDN tại nơi
đóng trụ sở chính đã tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong hạch toán tập trung, điều
hành. Tuy nhiên, thực tế ngày càng có nhiều doanh nghiệp đặt cơ sở kinh doanh tại
địa phương khác với nơi đặt trụ sở chính. Tại những nơi này, chính quyền địa phương
phải cung cấp nhiều dịch vụ phục vụ cho sản xuất - kinh doanh như: bệnh viện,
trường học, nhà ở công nhân, vệ sinh môi trường, trật tự trị an nhưng không có
nguồn thu vì thuế TNDN đã được nộp tại nơi đóng trụ sở chính. Để giải quyết tốt vấn
đề này phù hợp trong giai đoạn hiện nay, cần thiết phải sửa đổi Luật thuế TNDN theo
hướng tạo điều kiện cho doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ đóng góp cho ngân sách địa
phương.
Thứ năm, một số vấn đề liên quan đến cam kết quốc tế và thông lệ.
- Liên quan đến cam kết quốc tế : Hiện nay, chúng ta đã tham gia nhiều cam
kết ở cấp Chính phủ có liên quan đến thuế TNDN như: xác định nghĩa vụ thuế đối với
DN nước ngoài để bảo đảm quyền thu thuế của Việt Nam, quy định về tránh đánh
thuế hai lần, Qua tổng kết, đánh giá cho thấy trong thời gian vừa qua các cam kết
này đã được thực hiện ổn định và đi vào cuộc sống, nhưng chưa được thể hiện rõ
trong Luật thuế TNDN. Vì vậy, cần phải đưa các nội dung cam kết này vào Luật thuế
TNDN để đảm bảo tính minh bạch và pháp lý cao hơn, đồng thời tạo thuận lợi tối đa
để những doanh nghiệp có tầm cỡ quốc gia có thể vươn tay ra đầu tư kinh doanh tại
nhất định và cần được phát huy thì vẫn còn tồn tại nhiều điểm hạn chế cần khắc phục.
Từ yêu cầu thực tế này, sự cấp thiết là phải sửa đổi, bổ xung luật thuế thu nhập doanh
nghiệp 2003 để đáp ứng được nhu cầu thực tiễn nhằm tạo điều kiện phát triển kinh tế
đất nước và đây cũng chính là cơ sở thực tiễn để ban hành Luật thuế TNDN 2008.
C. KẾT LUẬN
Luật thuế TNDN 2008 ra đời đã khắc phục được yếu điểm còn tồn tại, đồng
thời kế thừa và phát huy được những thế mạnh của Luật thuế TNDN 2003 đáp ứng
kịp thời tình hình phát triển kinh tế nước ta. Nó đã đem lại nhiều lợi ích tích cực cho
nền kinh tế Việt Nam như: khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh, khuyến
khích đầu tư và thay đổi cơ cấu kinh tế; điều tiết được hầu hết các khoản thu nhập từ
hoạt động sản xuất, kinh doanh; tạo nguồn thu tương đối ổn định cho ngân sách nhà
nước; Thúc đẩy các cở sở sản xuất, kinh doanh tăng cường hạch toán, củng cố công
tác kế toán, hóa đơn, chứng từ, tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh
doanh. Có thể nói Luật thuế TNDN 2008 ra đời là tất yếu khách quan.