Đề tài : Nghiên cứu so sánh cơ sở lý luận và thực tiễn của việc áp dụng trách nhiệm hình sự đối với tổ chức - Pdf 13

VIỆN KHOA HỌC PHÁP LÝ BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU SO SÁNH CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
CỦA VIỆC ÁP DỤNG TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
ĐỐI VỚI TỔ CHỨC CNĐT : CAO THỊ OANH 8987


việc áp dụng TNHS đối với tổ chức" được thể hiện trên ba phương diện cơ bản
sau đây:
- Thứ nhất, về phương diện chính trị - pháp lý: Ngày 24-5-2005, Bộ
Chính
trị đã có Nghị quyết số 48/NQ-TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật Việt Nam và một trong những quan điểm chỉ đạo là xây dựng và
hoàn thiện pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng, đáp ứng yêu cầu
của quá trình cải cách tư pháp ở Việt Nam và quá trình hội nhập. Ngày 02-6-
2005, Bộ Chính trị lại ban hành Nghị quyết số 49/NQ-TW về Chiến lược Cải

2
cách tư pháp đến năm 2020, theo đó, cải cách tư pháp phải kế thừa truyền thống
pháp lý dân tộc, các thành tựu đã đạt được của nền tư pháp xã hội chủ nghĩa Việt
Nam; tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của nước ngoài phù hợp với hoàn
cảnh nước ta và yêu cầu chủ động hội nhập quốc tế đáp ứng được xu thế phát
triển của xã hội trong t
ương lai
1
.
Trong phạm vi đề tài, chúng tôi đi sâu nghiên cứu nội dung cơ sở lý luận
và thực tiễn của việc áp dụng TNHS đối với tổ chức nhằm đưa ra các kết quả
nghiên cứu lý luận về áp dụng TNHS đối với tổ chức, phân tích các yếu tố kinh tế
- xã hội, lịch sử, truyền thống, cách tiếp cận về vấn đề áp dụng TNHS đối với tổ
chức ở
các nước, đồng thời phân tích các yếu tố tương ứng ở Việt Nam. Trên cơ
sở đó đề xuất áp dụng kinh nghiệm của nước ngoài vào việc hoàn thiện quy định
của pháp luật hình sự Việt Nam, đáp ứng đòi hỏi của công cuộc đổi mới và hoàn
thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng do Đảng Cộng
sản và Nhà nước Việt Nam khởi xướng.
- Thứ hai, về

pháp) như hiện nay, có thể khẳng định rằng, nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn
của việc áp dụng TNHS đối với tổ chức là việc làm có tính cấp thiết nhằm định
hướng cho sự vận động phù hợp của pháp luật, nắm bắt những kinh nghi
ệm của
thế giới trong việc áp dụng TNHS đối với tổ chức để đề ra phương hướng đổi
mới pháp luật hình sự của Việt Nam.
- Thứ ba, về phương diện thực tiễn: Trong những năm gần đây, với sự phát
triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, hành vi gây thiệt hại đáng kể cho xã
hội do tổ chức th
ực hiện ngày càng trở nên phổ biến, đặc biệt là các hành vi gây
thiệt hại về kinh tế, về môi trường. Ví dụ: việc gây ô nhiễm môi trường của Công
ty Vedan Việt Nam làm thiệt hại hàng trăm tỷ đồng cho nông dân các tỉnh Đồng
Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Hồ Chí Minh; sự cố tràn dầu của tàu Neptune Aries
(Singapore) ngày 03-10-1994 tại cảng Cát Lái gây thiệt hại ước tính 20.000.000
USD; vấn đề dìm giá vì mục đích lợi nhuận của Tổng công ty xi măng ở nh
ững
năm cuối thế kỷ XX và gần đây là hoạt động kinh doanh trái pháp luật của tập
đoàn Than khoáng sản Việt Nam, tập đoàn Vinasin gây thiệt hại đặc biệt lớn
cho nền kinh tế cũng như xã hội nước ta. Ngoài ra, việc núp bóng dưới danh
nghĩa pháp nhân để phạm tội ngày càng tăng, tính chất nguy hiểm ngày càng cao.
Các hành vi phạm tội do pháp nhân thực hiện trong thời gian qua không ít như
buôn lậu, buôn bán hàng cấm, gian lận thương mại, kinh doanh trái phép, tr
ốn
thuế, lừa dối khách hàng, cố ý làm trái các quy định quản lý kinh tế, quảng cáo
gian dối, làm hàng giả, buôn bán hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, sở
hữu công nghiệp, tẩy rửa tiền hoặc có những hành vi phạm tội khác liên quan tới
lĩnh vực tài chính - ngân hàng… Đa số những trường hợp trên là do lãnh đạo,
người đại diện của pháp nhân thực hiện vì lợi ích của pháp nhân hoặc trong

4

ương hướng đổi mới pháp luật hình sự Việt Nam về vấn đề này.

5
Ở nước ngoài, có nhiều tài liệu liên quan đến đề tài như: 1) Mireille
Delmas-Marty, Mingxuan Gao, Association de recherches pénales européennes
(France, Pierre Truche, Section de science criminelle, Institut universitaire de
France), Criminalité économique et atteintes à la dignité de la personne: Bilan
comparatif et propositions, Edition: 2, Editions MSH, 1997; 2) Benoît Chabert et
Pierre-Olivier Sur, Droit pénal général, Dalloz, 2
ème.
éd., 1997; 3) Frédéric
Debove et François Falletti, Précis de droit pénal et de procédure pénale, PUF,
2001; 4) Harald Renout, Droit pénal général, CPU, 2002; Ann Jacobs, Adrien
Masset, Actualités de droit pénal et de procédure pénale (I), Larcier, 2003; 5) B.
Fisse, "Reconstructing Corporate Criminal Law: Deterrence, Retribution, Fault,
and Sanctions", (1983) 56 South. Cal. L. R. 1141; 6) B. Fisse, "Corporate
Criminal Responsibility", (1991) 15 Crim. L.J. 166; 7) B. Fisse et J. Braithwaite,
"The Allocation of Responsibility for Corporate Crime: Individualism,
Collectivism and Accountability", (1988) 11 Sydney L. Rev. 468; 8) B. Fisse,
"The Attribution of Criminal Liability to Corporations : A Statutory Model",
(1991) 13 Sydney L.R. 277; 9) L. Leigh, "The Criminal Liability of Corporations
and Other Groups: A Comparative View", (1981-82) 80 Michigan L. Rev. 1508,
1513-1514; 10) P. Prench, "The Corporation as a Moral Person", (1979) 16
American Philosophical Quarterly; 11) P. French, Collective and Corporate
Responsibility, 1984, New York, Columbia University Press; 12) Halsbury's law
of England, 4 éd., vol. 11, London 1976; 13) I. H. Leigh, The Criminal Liability
of Corporations in English Law (1969); 14) J.C. Smith and B. Hogan, Criminal
Law, 1996; 15) The Law Commission Working Paper No 44; 16) J. Groia & L.
Adams, " Searching for a Soul to Damn and a Body to Kick: The Liability of
Corporate Officers and Directors", (1990) Meredith Mem. Lect. 127; 17) J. C.

hay không?, Tạp chí Luật học, số 6/1999; 9) Lê Cảm, TNHS của pháp nhân - Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 3, 4/2000;10)
PGS.TSKH. Lê Cảm (chủ biên), Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần chung),
Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2001; 11) Trịnh Quốc Toản, TNHS của pháp
nhân trong luật hình sự nước Anh, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội,
Kinh tế-Luật, T.XVIII, Số 3. 2002; 12) PGS.TS. Võ Khánh Vinh (chủ biên), Giáo
trình luật học so sánh, Nxb. Công an nhân nhân, Hà Nội, 2002; 13) Viện khoa
học pháp lý, Những vấn đề c
ơ bản về pháp luật hình sự của một số nước trên thế
giới Thông tin khoa học pháp lý số 8/2002; 14) Viện khoa học pháp lý, Một số

7
vấn đề về cải cách tư pháp ở Trung Quốc, Thông tin khoa học pháp lý số
12/2003; 15) Trịnh Quốc Toản, TNHS của pháp nhân trong luật hình sự Vương
quốc Bỉ, Tạp chí Nhà nước & Pháp luật, số 3/2003; 16) Trịnh Quốc Toản, TNHS
của pháp nhân trong luật hình sự Hà Lan, Tạp chí Kiểm sát, số 5/2003; 17) Trịnh
Quốc Toản, Phạm vi và điều kiện áp dụng TNHS của pháp nhân trong luật hình
sự Anh, Tạp chí Khoa học Đạ
i học Quốc gia Hà Nội, Kinh tế-Luật, T.XIX, số 1.
2003; 18) Trịnh Quốc Toản, Những vấn đề cơ bản về TNHS của pháp nhân trong
luật hình sự Thụy Sỹ, Tạp chí Toà án nhân dân, số 7 tháng 4-2005; 19) Trịnh
Quốc Toản, TNHS của pháp nhân trong luật hình sự Canada, Tạp chí Nhà nước
& Pháp luật, số 4/2006; 20) Hoàng Thị Tuệ Phương, TNHS pháp nhân, Luận văn
Thạc sỹ luật học, Đại học luậ
t thành phố Hồ Chí Minh, 2006; 21) PGS.TS. Phạm
Văn Lợi (chủ biên), Nghiên cứu, so sánh pháp luật hình sự của một số nước
Asean, sách chuyên khảo, Nxb. Tư pháp, 2010. Ngoài ra, Bộ luật hình sự một số
nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Thụy Điển, Cộng hòa Pháp, Mỹ đã được dịch
ra tiếng Việt cũng có giá trị tham khảo nghiên cứu về vấn đề này.
Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh v

phải chịu TNHS ở các nước cũng không giống nhau. Có những nước quy định tổ
chức có thể phải chịu TNHS về mọi tội phạm nhưng có nước lại quy định tổ chức
chỉ chịu TNHS trong những trường hợp pháp luật quy định. Quy định về các lo
ại
hình phạt áp dụng đối với tổ chức cũng có sự khác biệt. Bên cạnh các nước quy
định phạt tiền là hình phạt duy nhất áp dụng đối với tổ chức lại có những nước áp
dụng nhiều loại hình phạt khác nhau đối với tổ chức như: phạt tiền, tịch thu tài
sản của pháp nhân, giải thể pháp nhân, cấm tiến hành hoạt động nhất định, niêm
yết bả
n án, quyết định đã được Tòa án tuyên hoặc thông báo quyết định đó trên
các phương tiện nghe nhìn… Do tính chất phức tạp của vấn đề TNHS của tổ chức
mà ngay ở những nước quy định vấn đề này cũng có những quan điểm khác
nhau.
3. Những vấn đề mới đặt ra nghiên cứu về lý luận và thực tiễn
Đây là công trình đầu tiên trong khoa học pháp lý hình sự Việt Nam
"Nghiên cứu so sánh cơ sở lý luậ
n và thực tiễn của việc áp dụng TNHS đối với tổ
chức", mà trong đó, bằng việc phân tích khoa học sẽ giải quyết một cách đồng bộ,
có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc áp dụng TNHS đối với tổ
chức. Từ nhận thức chung đó, đề tài đặt ra những vấn đề mới cần nghiên cứu là:
- Thứ nhất:
Nghiên cứu TNHS của tổ chức trong luật hình sự một số nước
đại diện cho các hệ thống pháp luật khác nhau. Tìm ra và cố gắng luận giải những

9
điểm tương đồng và khác biệt trong quy định của luật hình sự của các nước đó
trong bối cảnh chính trị, kinh tế, xã hội cụ thể của họ.
- Thứ hai: Tìm ra được cơ sở lý luận và thực tiễn của việc quy định và áp
dụng TNHS đối với tổ chức ở một số nước.
- Thứ ba: Đánh giá sự cần thiết và khả năng áp dụng TNHS

chức là xu thế tất yếu hiện nay trong pháp luật hình sự thế gi
ới, nhưng cũng có
không ít nước vẫn chưa chấp nhận chế định này. Vì vậy, trong khoa học luật hình
sự trên thế giới vẫn tồn tại hai quan điểm lý luận trái ngược nhau về vấn đề này:
quan điểm phản đối và quan điểm ủng hộ TNHS của tổ chức trong luật hình sự.
1.1.1. Quan điểm phản đối trách nhiệm hình sự của tổ chức
Nghiên c
ứu vấn đề TNHS của tổ chức trong luật hình sự nhiều nước trên
thế giới cho thấy các lý do để những người không ủng hộ TNHS của tổ chức mà
đại diện chủ yếu là các nhà hình sự học theo học thuyết cổ điển (hay còn gọi là
học thuyết truyền thống) đưa ra để bác bỏ chế định này là: 1/ TNHS của tổ chức
không phù hợp với nguyên tắc hành vi và nguyên tắc l
ỗi trong luật hình sự; 2/
TNHS của tổ chức không phù hợp với nguyên tắc cá thể hóa TNHS và mục đích
giáo dục của hình phạt; 3/ khả năng áp dụng hình phạt (hình thức TNHS) đối với
tổ chức; và 4/ TNHS của tổ chức không phù hợp với quan niệm đạo đức, nguyên
tắc công bằng trong luật hình sự
2
.
- Theo học thuyết cổ điển, truyền thống, tội phạm là tổng hợp các dấu hiệu
thuộc hành vi khách quan (actus reus - Lat.) và dấu hiệu lỗi chủ quan (mens rea -
Lat.). Hành vi khách quan của tội phạm phải do chính người phạm tội trực tiếp
thực hiện. Pháp nhân là một thực thể pháp lý trừu tượng. Pháp nhân là một người
vô hình, do các thành viên hợp lại, và đại diện cho tất cả các thành viên. Do 2
Xem: Trịnh Quốc Toản, TNHS của pháp nhân trong luật hình sự nước Anh, Tạp chí khoa học Đại học quốc gia
Hà Nội, kinh tế - luật, số 3. 2002; TNHS của pháp nhân trong luật hình sự vương quốc Bỉ, Tạp chí Nhà nước &
pháp luật, số 3/2003; TNHS của pháp nhân trong luật hình sự Hà Lan, Tạp chí Nghiên cứu châu Âu, số

sự trừu tượng được xem như là các quyết định của chính bản thân pháp nhân, một
sự đại diện như thế loại trừ ý chí theo đúng nghĩa”
6
. Như vậy, có thể nói là
không có lỗi nào có thể được quy kết cho pháp nhân - một thực thể trừu tượng
không có nhận thức và cũng không thể có ý chí
7
.
Nói tóm lại, theo quan điểm truyền thống này thì nếu đối với các thể nhân,
có thể quy kết hành vi vật chất khách quan của vụ việc phạm tội và thái độ chủ
quan tội lỗi của chính họ cho mỗi tội phạm thì pháp nhân dưới lăng kính của học
thuyết cổ điển, vì không có thể hành động trực tiếp, không có sự bấu víu trực tiếp
nào vào thực tế khách quan và thiếu tự do ý chí, khả
năng nhận thức nên nó (pháp 3
Xem M.F.C Von Savigny, Traité de droit romain, trad. de ch. ruenoux, Paris, librairie firmin didot 1841, t.2, 311
et s.
4
Xem Leffort, Precis de droit criminel, Paris, Sirey, 1877, 218,219.
5
Xem M.F.C Von Savigny, Traité de droit romain, trad. tài liệu đã dẫn, p. 312.
6
Xem M.F.C Von Savigny, Traité de droit romain, trad. p. 312.
7
Xem A. Braas, Précis de droit criminel, Bruxlles- liège, Bruylant, 1946, no 122.

12
nhân) về bản chất là những thực thể không tương thích cho việc thực hiện hành vi

- Những người theo học thuyết cổ điển chống lại TNHS của pháp nhân
không chỉ bằng lý lẽ là pháp nhân không có khả năng phạm tội, không thể có lỗi
mà hơn thế, họ cho rằng các chế tài hình sự, là sự kết án về mặt đạo đức và mệnh
lệnh bắt buộc trái với ý muốn của các thể nhân, nhất thiết không thể áp dụng 8
Xem Haus, Principes généraux de droit pénal belge, Gand, Librairie générale ad. hoste, no 266.
9
Xem A. Braas, Précis de droit criminel. Tài liệu đã dẫn, số 122; J. Constant, traité élémentaire de droit pénal,
liège, imp. nationales, 1965, t.1, 155.
10
Xem R. Garraud, Traité de droit criminel, Paris, Sirey, 1926, 69.
11
Xem Donnedieu De Vabres, Traite de droit criminel et de législation pénale comparée. Tài liệu đã dẫn, tr. 149.

13
được cho pháp nhân, tổ chức. Dù sao chăng nữa các pháp nhân cũng không thể
chịu một hình phạt nào đó có hữu ích
12
.
Đã một thời gian dài các nhà hình sự học theo học thuyết cổ điển nói về sự
không thể trừng trị pháp nhân hoặc chí ít cũng là khó khăn về mặt thực tế khi áp
dụng chế tài hình sự cho pháp nhân
13
. Các hình phạt được coi là đặc trưng, truyền
thống và có hiệu quả trong luật hình sự như tử hình, phạt tù… không thể áp dụng
được đối với pháp nhân. Người ta có thể phạt tù, bắt giam như thế nào đối với
một thực thể mà bản chất của nó là vô hình? làm thế nào có thể tước mạng sống
của một chủ thể giả tưởng mà bản chất của nó là thiếu sự tồ

13
Xem S. Glaser, L’etat en personns morales et le probleme de leur reponsabilité pénale, r.d.p.c., 1948-1949, 444.
14
Xem Donnedieu De Vabres, Traite de droit criminel et de législation pénale comparée, Paris, Sirey, 1947,149.
15
Xem A. Huss, Sanctions pénales et les personns morales, r.d.p.c., 1975-1976, 674.
16
Xem Thomas Hobbes, Léviathan, Trad. par f. tricaud, Paris, Sirey, 1971, 247.

14
càng ngày càng có nhiều nhà hình sự học ủng hộ TNHS của tổ chức. Những
người theo quan điểm này không chỉ bác bỏ các lập luận của những người theo
học thuyết cổ điển, mà còn nhìn nhận vấn đề từ góc độ nhận thức hiện đại, từ
thực tiễn và nhu cầu phát triển xã hội hiện đại. Các nhà hình sự học ủng hộ việc
áp dụng TNHS của pháp nhân c
ũng đã có những lập luận khoa học để bảo vệ
quan điểm của mình. Với kết quả nghiên cứu của mình, chúng tôi hoàn toàn chia
sẻ các lập luận khoa học đó.
- Quan điểm cho rằng chỉ duy nhất các thể nhân mới trực tiếp thực hiện
hành vi phạm tội, có năng lực biểu lộ ý chí của chính mình khi thực hiện hành vi
phạm tội và vì vậy, chỉ có th
ể nhân thực hiện tội phạm mới phải chịu TNHS.
Quan niệm cho rằng các pháp nhân chỉ là những trừu tượng pháp lý (fiction
juridique) ngày nay đã không còn được chấp nhận, không còn phù hợp với thực
tế tồn tại của các pháp nhân với tư cách là “đại diện cho các sức mạnh của thời
đại”
17
.
Các học thuyết pháp lý và thực tiễn xét xử của toà án nhiều nước đã thoát
khỏi quan niệm trên và hình thành nên nhận thức mới về vị trí, vai trò của pháp

tổng số các ý chí riêng của các thành viên tập đoàn. Pháp nhân, tổ chức hoàn toàn
có ý chí của riêng mình bởi vì nó sinh ra, tồn tại và phát triển bằng sự gặp gỡ
giữa các ý chí cá nhân củ
a các thành viên của mình.
“Pháp nhân không phải là một thể nhân, mà là một tổ chức - tập hợp của
nhiều người - được pháp luật trao cho tư cách của một người trong các quan hệ
pháp luật. Hoạt động của một người (thể nhân) có thể bị chi phối bởi lý do tình
cảm, lý trí nhưng một hoạt động của pháp nhân thì không. Pháp nhân chỉ theo
đuổi những mục tiêu đặt ra trong văn kiện sáng lập tổ chức đó”
20
. "Trên thực tế,
hành vi nguy hiểm cho xã hội có thể do một tập thể gây ra do kết quả của việc
đưa ra những quyết định sai trái. Một số tội phạm, trên thực tế, cũng có thể do cá
nhân hoặc tổ chức gây ra. Ví dụ, các tội phạm về kinh tế, về môi trường có thể là
kết quả của hành vi tập thể của xí nghiệp công nghiệp, đơn vị kinh doanh nào
đó”
21
.
Nói tóm lại, pháp nhân không phải là một chủ thể trừu tượng mà là một chủ
thể độc lập, có ý chí. Pháp nhân có thể, với nhiều danh nghĩa, được so sánh với
con người. “Nó có bộ não, có hệ thần kinh trung ương kiểm tra những gì nó làm.
nó cũng có tay để cầm công cụ và hành động theo các mệnh lệnh của hệ thần
kinh trung ương”
22
. Như vậy, pháp nhân rõ ràng là một thực thể có ý chí, có
mong muốn riêng của mình, được xử sự tự do và hưởng quyền tự chủ của chủ thể
có thể so sánh với quyền tự chủ của cá nhân và vì vậy có năng lực thực hiện tội
phạm một cách có lỗi và đương nhiên có thể bị xử lý về hình sự. Theo quan niệm
đã được thừa nhận chung, lỗi trong luật hình sự là thể hiệ
n tự do ý chí của chủ thể

chí, mong muốn của riêng mình cùng với tư cách như các cá nhân. Theo quy định
của pháp luật, quy chế, điều lệ củ
a pháp nhân thì người đại diện, người lãnh đạo
được thay mặt cho pháp nhân ra các quyết định, thực hiện các hành vi thuộc thẩm
quyền của pháp nhân, vì lợi ích của pháp nhân. Mọi hậu quả có lợi cũng như bất
lợi phát sinh từ hành vi theo sự lựa chọn trên cơ sở tự do ý chí của người đại diện,
người lãnh đạo đều do pháp nhân thụ hưởng hoặc gánh chịu. Vì vậy, khi người
đại diện, người lãnh đạ
o thực hiện nghĩa vụ hoặc nhiệm vụ của pháp nhân thì ý
chí và hành vi của họ được đồng nhất hoá với pháp nhân, tức là được coi như là ý
chí và hành vi của pháp nhân
24
.
- Các nhà hình sự học ủng hộ TNHS của pháp nhân cũng đã phản bác quan
điểm cho rằng các pháp nhân về bản chất là những thực thể vô hình nên không
thể áp dụng hình phạt đối với nó.
Theo các nhà hình sự học theo quan điểm này, cùng với sự phát triển
mạnh mẽ của khoa học về hình phạt, quan điểm không thể áp dụng hình phạt với
pháp nhân đã không còn có sức thuyết phục. Mặc dù tử hình hoặ
c các hình phạt 23
Các học thuyết về cơ sở TNHS của pháp nhân sẽ được phân tích cụ thể hơn ở mục 1.2 của đề tài.
24
Xem Phạm Hồng Hải, Pháp nhân có thể là chủ thể của tội phạm hay không? Tài liệu đã dẫn, tr.16.

17
tước hoặc hạn chế quyền tự do thân thể không thể áp dụng với pháp nhân phạm
tội nhưng những loại hình phạt khác dần dần được phát triển tương hợp hoàn toàn

a; liên quan đến hoạt động của nó như cấm tiến hành những hoạt động
nhất định; hoặc liên quan đến tài sản như phạt tiền, tịch thu tài sản… các hình
phạt này không chỉ có tính cưỡng chế, mà còn có giá trị phòng ngừa cao. 25
The pharmaceutical society. v. The London and provincial supply association ltd (1880) 5 app. cas. 857, 869,
870.

18
- Quan điểm cho rằng việc quy kết TNHS và áp dụng hình phạt với pháp
nhân sẽ không công bằng và không phù hợp với nguyên tắc cá thể hoá hình phạt
là không phù hợp với quan điểm hình sự học hiện đại. Ngược lại, có thể nói việc
áp dụng hình phạt đối với pháp nhân phạm tội còn thể hiện nguyên tắc công bằng
và bình đẳng, nguyên tắc mọi hành vi phạm tội không thoát khỏi sự trừng trị của
pháp lu
ật hình sự được củng cố.
Theo khoa học hình sự hiện đại thì nguyên tắc cá thể hoá hình phạt không
thể tách rời khỏi nhận thức về chế tài áp dụng đối với pháp nhân, tổ chức. Nếu
pháp nhân, tổ chức là những thực thể có khả năng phạm tội thì có lý nào các pháp
nhân lại không bị chịu sự trách cứ về hình sự của nhà nước khi nó phạm tội. Chế
tài hình sự buộc ph
ải áp dụng trực tiếp và chỉ đối với chính bản thân chủ thể
phạm tội, tức là đòi hỏi việc trừng trị nhằm trực tiếp vào những tổ chức, khi các
thực thể này phạm tội
26
. Công bằng không có nghĩa là phải trừng trị cá nhân này
hoặc cá nhân khác, thành viên của tổ chức hoặc pháp nhân có liên quan nhiều
hơn mà công bằng chính là buộc tổ chức cụ thể phạm tội phải chịu hình phạt.
Không có lý lẽ công bằng nào mà lại buộc cá nhân những người cấp dưới vốn

phạm và hình phạt. Nguyên tắc cá thể hóa hình phạt đòi hỏi hình phạt áp dụng
đối với pháp nhân, tổ chức phạm tội phải tương xứng với tính chất, mức độ nguy
hiểm của hành vi phạm tội, tương xứng với các đặc điểm của tổ chức bị truy cứu
TNHS. Có như vậy, hình ph
ạt được áp dụng mới đạt được tính hiệu quả trong
trừng trị cũng như phòng ngừa.
Quan điểm cho rằng việc áp dụng hình phạt đối với pháp nhân phạm tội là vi
phạm nguyên tắc cá thể hoá hình phạt, theo chúng tôi đã có sự nhầm lẫn về
nguyên tắc này. Thực tế cho thấy tất cả các bản án đều có thể gây ra những hậu
quả cho người thứ ba vô can. Bắt giam một ng
ười hoặc phạt họ với một hình phạt
tiền nghiêm khắc có thể cướp đi của gia đình họ một khoản thu nhập nhưng nó
không trái với nguyên tắc cá thể hoá hình phạt, bởi vì bản án không trực tiếp
nhằm chống lại các thành viên của gia đình người bị kết án mà là đối với người
phạm tội. Bản án kết tội đối với một pháp nhân khác với bản án có thể
xảy ra của
các thành viên pháp nhân, nó không nhằm vào cá nhân các thành viên của pháp
nhân mà là chính pháp nhân - chủ thể chịu TNHS.
Tóm lại, có thể nói rằng về mặt lý luận, khoa học hình sự hiện đại đã giải
quyết tương đối cơ bản, có cơ sở khoa học và thực tiễn, phù hợp với xu thế phát
triển của thời đại, vấn đề TNHS của pháp nhân. Ngày nay, việc thừa nhận TNHS
của pháp nhân là xu hướng phát triển chung trong pháp luật hình sự
trên thế giới
ở mức độ pháp luật quốc tế lẫn pháp luật quốc gia. TNHS của pháp nhân đã chính
thức được khuyến nghị trong nhiều văn bản pháp luật quốc tế
29
. TNHS của tổ 28

gian dài, TNHS cá nhân, TNHS theo lỗi và cá thể hóa hình phạt được xác định và
ghi nhận như là những nguyên tắc của luật hình sự. Cùng với sự phát triể
n của
luật hình sự và tình hình tội phạm, khi mà tội phạm có tổ chức, các tổ chức phạm
tội phát triển; các tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm tham nhũng, tội khủng bố,
tội rửa tiền xảy ra ngày càng nghiêm trọng, trong đó vai trò tổ chức chủ yếu
thay thế cho cá nhân trong việc thực hiện tội phạm. Đặc biệt, trong một số trường
hợp nhiều khi khó giải thích tạ
i sao lại truy cứu TNHS cá nhân thì quan niệm
chỉ có TNHS cá nhân đã được thay đổi nhanh chóng, nhất là thời gian nửa sau thế
kỷ XX ở cả mức độ pháp luật quốc tế lẫn quốc gia.
Ở mức độ pháp luật quốc gia, số lượng các quốc gia quy định TNHS pháp
nhân hay tổ chức ngày càng tăng. Xu thế quy định TNHS của tổ chức được coi là
tất yếu trong sự phát triển của luật hình sự thế giới.
Ở các quốc gia theo hệ thống
thông luật, TNHS của tổ chức đã được quy định tương đối lâu; còn các quốc gia
theo hệ thống luật lục địa, mặc dù muộn hơn nhưng cũng đã chấp nhận quan

21
điểm TNHS của tổ chức nhằm đấu tranh có hiệu quả với tình hình tội phạm trong
xã hội hiện đại. Ở các quốc gia chưa quy định TNHS của tổ chức, vấn đề trách
nhiệm của tổ chức đều được quy định trong pháp luật dân sự và hành chính. Theo
pháp luật của các quốc gia này thì pháp nhân hoặc tổ chức gây thiệt hại thì phải
khắc phục hậu quả, phải bồi thườ
ng thiệt hại (luật dân sự) hoặc phải khắc phục
hậu quả và bị xử phạt (luật hành chính)
30
.
Ở mức độ pháp luật quốc tế, ngày càng nhiều công ước quốc tế cũng như
khu vực quy định nghĩa vụ của quốc gia thành viên ghi nhận TNHS của tổ chức

Wells Celia, Corporations and Criminal responsibility, The second edition, Oxford University Press…

22
TNHS đối với tổ chức, các nhà luật học trên thế giới đã đưa ra các học thuyết làm
nền tảng và luận giải cho vấn đề này. Khoa học luật hình sự thế giới ghi nhận các
học thuyết cơ bản là thuyết trách nhiệm thay thế (Vicarious liability), thuyết đồng
nhất hóa trách nhiệm (Identification liability) và thuyết văn hóa (Systems/Culture
Theory)
32
:
1.2.1. Học thuyết trách nhiệm thay thế (Vicarious liability):
Trách nhiệm thay thế là hình thức đặc trưng trong luật dân sự. Học thuyết
áp đặt trách nhiệm lên người đứng đầu hoặc tổ chức đối với hành vi của người
làm công hoặc đại lý. Theo học thuyết này, tổ chức phải chịu trách nhiệm về
hành vi của bất kỳ người làm công hay đại lý của mình nếu giữa tổ chức và người
làm công hay đại lý
đó có mối quan hệ ràng buộc theo pháp luật hoặc hợp đồng.
Học thuyết này được phát triển có nguồn gốc từ lĩnh vực trách nhiệm dân sự,
được áp dụng trong lĩnh vực hình sự chủ yếu là đối với các tội phạm chịu trách
nhiệm tuyệt đối.
Để áp dụng TNHS đối với tổ chức theo học thuyết này, cần phải: 1/ Xác
định người làm công hoặc đại lý có hành vi cấu thành tộ
i phạm theo quan niệm
truyền thống; 2/ “Áp đặt” TNHS của các cá nhân đó lên tổ chức dựa trên mối
quan hệ pháp lý giữa họ trên cơ sở quy định của pháp luật về đại lý hoặc làm
công. Nói cách khác, tổ chức phải chịu TNHS về hành vi phạm tội do đại lý hay
người làm công thực hiện trong những điều kiện xác định.
Theo học thuyết trách nhiệm thay thế, bất cứ điều gì mà người làm công,
ng
ười làm đại lý cho tổ chức thực hiện trên cơ sở mối quan hệ giữa tổ chức với

cầu hóa với sự hình thành các tổ
ng công ty, các tập đoàn kinh tế lớn có hàng vạn
nhân công làm việc trên lãnh thổ nhiều quốc gia khác nhau hiện nay.
Một trong những luận điểm phê phán thuyết này là vì nó vi phạm nghiêm
trọng nguyên tắc trách nhiệm trên cơ sở lỗi cá nhân, bởi vì lỗi của một người lại
bị quy kết một cách tự động cho người khác, mặc dù không có lỗi cá nhân từ phía
họ.
Hiện nay, lý thuyết TNHS thay thế còn được áp dụng bởi các toà án Anh
và Mỹ
33
nhưng bị loại bỏ bởi thực tiễn xét xử ở Canada và một số nước khác như
là cơ sở của TNHS pháp nhân, nhất là liên quan tới các tội phạm đòi hỏi yếu tố
lỗi
34
. Trong quyết định vụ án “min. de l’ emploi et de immigration c.bhatnager”
năm 1990
35
, Tòa án tối cao của Canada đã chỉ rõ việc áp dụng trường phái trách
nhiệm thay thế trong luật hình sự là đối lập với các nguyên tắc cơ bản của nền tư
pháp dân chủ. 33
Egan v. u.s (1943), 137 f2d 369 (6th cir. c.a); u.s v. basic construction (1983), 711 f. 2d 570 (5
th
cir. c.a).
34
L’arrêt “canadian dredge & dock co.c. la reine (1985) 1 r.c.s. 662).
35
Min. de l’ emploi et de immigration c.bhatnager (1990) 2 r.c.s 217.

alter ego (cái tôi thứ hai), thuyết organic (thuyết tổ chức)… Các dạng này đều
chung nhau ba điều kiện cần và đủ để truy cứu TNHS đối với tổ chức là: 1/ Hành
vi phạm tội do người chỉ huy, quản lý, chỉ đạo, điều hành tổ chức đó thực hiện; 2/
Người chỉ huy, quản lý, chỉ đạo, điều hành thực hiện hành vi phạm t
ội nhân danh, 36
lennard’s carrying company ltd. v. Asiatic petroleum company ltd.[(1915) a.c.705].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status