Cơ sở của việc ban hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 - Nhóm 1 Kinh tế 30A2 - HLU
MỤC LỤC
Mục Trang
MỤC LỤC
01
LỜI MỞ ĐẦU
02
Nội dung chính I. Tổng quan pháp luật thuế thu nhập doanh
nghiệp Việt Nam
03
II. Cơ sở ban hành Luật Thuế thu nhập doanh
nghiệp năm 2008
04
1. Cơ sở lý luận 04
1.1. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
của Đảng về chính sách cơ bản trong vấn đề về thuế
04
1.2. Chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2010
của Chính phủ
04
1.3. Luật thuế thu nhập doanh nghiệp phải phù hợp
với các quy định về thuế thu nhập doanh nghiệp liên
quan đến cam kết quốc tế
05
1.4. Luật thuế thu nhập doanh nghiệp phải phù hợp
với các quy định khác của pháp luật hiện hành
05
2. Cơ sở thực tiễn 06
2.1. Những kết quả đạt được của Luật Thuế thu nhập
doanh nghiệp 2003
06
II. Cơ sở của việc ban hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2008.
I. TỔNG QUAN PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
2
Cơ sở của việc ban hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 - Nhóm 1 Kinh tế 30A2 - HLU
Có thể nhận thấy rằng pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN)
1
được hình thành và phát triển từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX. Trước năm
1990 có một loại thuế đánh vào thu nhập của các cơ sở sản xuất, kinh doanh gọi
là thuế lợi tức chỉ được áp dung cho kinh tế ngoài quốc doanh
2
. Sau năm 1990,
nước ta thực hiện công cuộc cải cách căn bản chính sách thuế và ban hành Luật
thuế lợi tức mới để áp dụng thống nhất đối với tất cả các tổ chức, cá nhân kinh
doanh thuộc mọi thành phần kinh tế có thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh.
Ngày 10/05/1997, Quốc hội nước ta đã thông qua Luật Thuế TNDN (có
hiệu lực từ ngày 01/01/1999) thay thế cho Luật Thuế lợi tức nhằm khắc phục
những nhược điểm cơ bản (như tên gọi chưa phản ánh đầy đủ nội dung kinh tế
của loại thuế này, phạm vi điều chỉnh còn hạn hẹp…) và để thực hiện các mục
tiêu và yêu cầu hội nhập, phù hợp định hướng cải cách hệ thống chính sách thuế.
Sau 4 năm thực hiện, Luật Thuế TNDN 1997 đã đạt được những thành công (góp
phần khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh, đầu tư; điều tiết được hầu hết
khoản thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh,…) cũng như bộc lộ những hạn
chế (một số khoản chi phí chưa được quy định hay chưa phù hợp với thực tiễn,
vẫn có quy định khác biệt giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài,…).
Để khắc phục một số nhược điểm của Luật Thuế TNDN 1997, Quốc hội
nước ta đã thông qua Luật Thuế TNDN 2003 vào ngày 17/06/2003, có hiệu lực
vào ngày 01/01/2004 bao gồm 8 chương với 32 điều.
Đến năm 2008, Quốc hội đã thông qua Luật Thuế TNDN mới thay thế Luật
Thế TNDN 2003 (sẽ có hiệu lực vào ngày 01/01/2009) thể hiện một bước tiến
sách nhà nước.
1.2. Chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2010 của Chính phủ
Theo chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2010 đã được Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 201/2004/QĐ-TTg ngày 06/12/2004 thì
pháp luật về thuế TNDN cần được hoàn thiện “theo hướng giảm mức thuế suất,
giảm diện miễn, giảm thuế; thống nhất mức thuế suất và ưu đãi thuế giữa các thành
phần kinh tế để khuyến khích đầu tư và đảm bảo bình đẳng trong cạnh tranh”.
4
Cơ sở của việc ban hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 - Nhóm 1 Kinh tế 30A2 - HLU
1.3. Luật thuế thu nhập doanh nghiệp phải phù hợp với các quy định về
thuế thu nhập doanh nghiệp liên quan đến cam kết quốc tế
Kể từ thời điểm ban hành Luật Thuế TNDN 2003 đến nay, ta đã tham gia
nhiều cam kết ở cấp Chính phủ có liên quan đến thuế TNDN như: xác định nghĩa
vụ thuế đối với doanh nghiệp nước ngoài để bảo đảm quyền thu thuế của Việt
Nam, và quy định về tránh đánh thuế hai lần,... Qua tổng kết, đánh giá cho thấy
trong thời gian vừa qua các cam kết này đã được thực hiện ổn định và đi vào cuộc
sống, nhưng chưa được thể hiện rõ trong Luật Thuế TNDN.
Vì vậy, cần phải đưa các nội dung cam kết này vào Luật Thuế TNDN để
đảm bảo tính minh bạch và pháp lý cao hơn.
1.4. Luật thuế thu nhập doanh nghiệp phải phù hợp với các quy định
khác của pháp luật hiện hành
Sự ra đời của Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007 (có hiệu lực từ ngày 01
tháng 01 năm 2009 ) dẫn tới một sự thay đổi lớn về đối tượng nộp thuế TNDN.
Theo quy định của Luật Thuế thu nhập cá nhân thì kể từ ngày 01/01/2009 (thời
điểm luật này có hiệu lực) thì các đối tượng là cá nhân, hộ kinh doanh mà theo
quy định của luật thuế TNDN 2003 phải nộp thuế TNDN sẽ không phải nộp thuế
TNDN nữa mà chuyển sang nộp thuế thu nhập cá nhân.
Ngoài ra, Quốc hội khoá XI cũng đã thông qua Luật quản lý thuế có hiệu
lực thi hành từ ngày 01/07/2007, trong đó các nội dung về đăng ký thuế, kê khai,
nộp thuế, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm của thuế TNDN được thống nhất quy
tính riêng 45 Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước, vốn kinh doanh đã được
tích luỹ, bổ sung thêm gần 5.300 tỷ đồng, quỹ đầu tư phát triển tăng gần 13.000
tỷ đồng và quỹ dự phòng tài chính để phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh tăng
khoảng 2.000 tỷ đồng. Bên cạnh đó, Luật Thuế TNDN cũng áp dụng chung một
chính sách ưu đãi trên cơ sở chọn mức ưu đãi thuế cao nhất trong Luật khuyến
khích đầu tư trong nước và Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Thực tiễn thi
6