Vận dụng tư tưởng hồ chí minh về mối quan hệ giữa đảng và nhân dân ở thị xã sơn tây – thành phố hà nội hiện nay - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
____________________________

PHẠM THỊ HOA

VẬN DỤNG TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG VÀ NHÂN DÂN Ở
THỊ XÃ SƠN TÂY- THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

Hà Nội – 2013


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHẠM THỊ HOA

VẬN DỤNG TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG VÀ NHÂN DÂN Ở
THỊ XÃ SƠN TÂY - THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Hồ Chí Minh học
Mã số: 60 31 27

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
PGS.TS Nguyễn Trọng Tuấn



7

4

Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài…………………

8

5

Cơ sở và phương pháp nghiên cứu………………………...

9

6

Đóng góp của luận văn…………………………………….

10

7

Kết cấu của luận văn………………………………………

10

Chƣơng 1

NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ

1.2.1

Quan hệ “máu thịt” giữa Đảng và nhân dân là bản chất

24

cách mạng, khoa học của Đảng ta
1.2.2

Đảng là lực lượng lãnh đạo, nhân dân là người làm chủ vận

28

mệnh của mình
1.3

Giá trị lý luận, thực tiễn của tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về

36

mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân
Chƣơng 2 THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG
MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG VÀ NHÂN DÂN THEO TƢ
TƢỞNG HỒ CHÍ MINH Ở THỊ XÃ SƠN TÂY - TP. HÀ NỘI
HIỆN NAY

48


2.1

54

Đảng và nhân dân ở thị xã Sơn Tây thời gian qua
2.2.2
2.3

Một số yếu kém, khuyết điểm và nguyên nhân

70

Phƣơng hƣớng, yêu cầu và một số giải pháp nhằm tăng

80

cƣờng mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân theo tƣ
tƣởng Hồ Chí Minh ở thị xã Sơn Tây hiện nay
2.3.1

Đặc điểm tình hình nhiệm vụ và một số vấn đề đặt ra về

80

việc tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân ở thị
xã Sơn Tây hiện nay
2.3.2

Một số giải pháp tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và

87


9


PHỤ LỤC 5: Kết quả điều tra

12

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa

CNH - HĐH

Hội đồng nhân dân

HĐND

Thành phố

TP

Trong sạch vững mạnh

TSVM

Trung ương

TW

Chủ nghĩa xã hội

Đảng định hướng “Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì
nhân dân. Chính nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử. Toàn bộ
hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của
nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Quan
liêu, tham nhũng, xa rời nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối
với vận mệnh của đất nước, của chế độ XHCN và của Đảng” [18,65].
Vì vậy, giữ gìn mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng và nhân dân là
vấn đề sống còn của sự nghiệp cách mạng.


Thực tiễn cách mạng những năm qua cho thấy vai trò của Đảng và mối
quan hệ máu thịt giữa Đảng - nhân dân được khẳng định, quyền làm chủ của
nhân dân được phát huy, dân chủ được mở rộng, nhân dân đã thực sự cống
hiến được nhiều tài năng, trí tuệ cho sự nghiệp phát triển đất nước; điều đó góp
phần to lớn vào thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, củng cố
quốc phòng an ninh và xây dựng đời sống văn hóa tinh thần cường thịnh.
Song, bên cạnh những thành tựu to lớn đó, mối quan hệ giữa Đảng và nhân
dân còn bộc lộ những tồn tại, hạn chế, bất cập: không ít cấp ủy Đảng, chính
quyền địa phương mất đoàn kết thống nhất; một bộ phận không nhỏ cán bộ,
đảng viên thoái hóa biến chất, lạm dụng quyền lực, hách dịch, nhũng nhiễu, xa
rời, thiếu quan tâm đời sống quần chúng nhân dân, làm giảm uy tín Đảng và
lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước; đó là những thách thức, trở lực,
rào cản lớn đối với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và nhân dân ta.
Trước thực tiễn đó, ngày 16/1/2012, Hội nghị lần thứ tư BCH TW Đảng (khóa
XI) đã ban hành Nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện
nay”. Nghị quyết đã lựa chọn đúng vấn đề, đánh giá đúng thực trạng và đề ra
đúng các giải pháp để tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đáp ứng yêu cầu của
thực tiễn và nguyện vọng của nhân dân. Nghị quyết chỉ rõ “công tác xây dựng
Đảng vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, thậm chí có những yếu kém, khuyết
điểm kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục, làm giảm sút lòng tin

tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thì việc tăng cường, củng cố xây dựng mối
quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân thị xã Sơn Tây dưới ánh sáng tư
tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề cấp thiết, có ý nghĩa quan trọng quyết định
thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa của thị xã.
Vì vậy, trở lại tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò của nhân dân,
về Đảng cầm quyền, về mối quan hệ giữa Đảng với dân vừa có giá trị lý luận,
vừa là chỉ dẫn quý báu cho hoạt động thực tiễn của Đảng ta trong sự nghiệp
đổi mới hiện nay nói chung và Đảng bộ thị xã Sơn Tây nói riêng.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn vấn đề “Vận dụng tƣ
tƣởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân ở thị xã Sơn


Tây - thành phố Hà Nội hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ, chuyên
ngành Hồ Chí Minh học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, xây dựng mối quan hệ gắn
bó máu thịt giữa Đảng và nhân dân có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều cuộc
hội thảo, bài nói, bài viết của các nhà nghiên cứu lý giải ở các góc độ khác nhau.
Các tác giả phân tích, lý giải thực trạng, nguyên nhân của mối quan hệ giữa
Đảng và nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời đưa ra những yêu cầu,
con đường, biện pháp để tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân.
- Về sách gồm có:
+ Các tác phẩm của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước nói về vai
trò của dân, về mối quan hệ giữa Đảng với dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
Trong đó, đặc biệt nhấn mạnh tư tưởng vì dân, gần dân, kính trọng dân, tin
tưởng nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Như đồng chí Lê Duẩn viết cuốn
“Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” (1976), tập I, Nxb Sự thật, Hà
Nội, nhấn mạnh quan điểm “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”; Võ
Nguyên Giáp với cuốn sách “Tư tưởng dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh”
(1995), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội đã chỉ rõ “Thực chất công tác dân

Tác giả Đàm Văn Thọ, Vũ Hùng với cuốn sách “Mối quan hệ giữa
Đảng và dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh” Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
xuất bản năm 1997. Cuốn sách là kết quả trực tiếp của luận án PTS Triết học
của hai tác giả, đã trình bày: Khái niệm về dân và những quan điểm, thái độ
khác nhau về dân trong lịch sử. Quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
về Đảng và dân. Nội dung chủ yếu của mối quan hệ Đảng và dân trong tư
tưởng Hồ Chí Minh. Thực trạng và nguyên nhân tồn tại của mối quan hệ
Đảng và dân hiện nay. Tăng cường mối quan hệ Đảng và dân trong thời kỳ
mới trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh.
Dương Xuân Ngọc (ch.b), Hoàng Chí Bảo, Nguyễn Chí Dũng (1998)
viết cuốn “Mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền và các đoàn thể nhân dân cấp
xã ở nước ta hiện nay”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Đặc biệt là cuốn “Mối


quan hệ giữa Đảng và nhân dân trong thời kỳ đổi mới đất nước: Vấn đề và
kinh nghiệm” của T.S Nguyễn Văn Sáu, PGS. T.S Trần Xuân Sầm, PGS. T.S
Lê Doãn Tá (đồng ch.b). Cuốn sách đã đi sâu nghiên cứu quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta về mối quan hệ gắn
bó mật thiết giữa Đảng và nhân dân trong sự nghiệp cách mạng, đồng thời nêu
một số giải pháp nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh
đạo của Đảng.
- Về báo, (tạp chí) có các bài:
+ Nguyễn Thị Mai Anh (2002), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân và dân
chủ”, Tạp chí Dân vận, Số 12, tr.14-15.
+ PGS. TS. Lê Doãn Tá (2004), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan
hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân”, Thứ ba,
ngày 03/ 2/ 2004.
+ Tác giả Lê Hữu Nghĩa “Củng cố và tăng cường quan hệ gắn bó giữa
Đảng với nhân dân trong giai đoạn hiện nay”, tạp chí Cộng sản, Số 21-2005.
+ Đại tá, PGS.TS Bùi Đình Bôn với bài “Nhiệm vụ cấp bách là củng cố

học trên là nguồn tư liệu giá trị để tác giả tiếp thu, kế thừa nhằm hoàn chỉnh
đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
Song chưa có một công trình nào nghiên cứu, luận giải vận dụng tư
tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân nhằm tăng cường
mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân ở thị xã Sơn Tây. Vì vậy, đề tài luận văn
không trùng với các công trình nghiên cứu đã công bố.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích:
- Hệ thống hóa, khẳng định tính đúng đắn và giá trị to lớn tư tưởng Hồ
Chí Minh về mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng cầm quyền với nhân dân.
- Làm rõ thực trạng mối quan hệ giữa Đảng bộ và nhân dân thị xã Sơn Tây
hiện nay. Đề xuất giải pháp nhằm tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng
bộ và nhân dân thị xã Sơn Tây - TP. Hà Nội hiện nay.
* Nhiệm vụ:


- Nghiên cứu, làm rõ những quan điểm cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh
về “dân”, “nhân dân” và mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân.
- Đánh giá khách quan, khoa học giá trị lý luận và thực tiễn của tư
tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, ý
nghĩa với sự nghiệp đổi mới hiện nay.
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng mối quan hệ giữa Đảng bộ và
nhân dân thị xã Sơn Tây; chỉ rõ những nguyên nhân tồn tại, khuyết điểm, yếu
kém; đề ra những giải pháp nhằm củng cố, tăng cường mối quan hệ giữa
Đảng bộ và nhân dân thị xã Sơn Tây - TP. Hà Nội dưới ánh sáng tư tưởng Hồ
Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan
hệ giữa Đảng và nhân dân; nghiên cứu đánh giá thực trạng, phương hướng

* Cơ sở nghiên cứu:
- Cơ sở lý luận:
+ Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của quần chúng
nhân dân, về chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân, về mối quan hệ
giữa Đảng và nhân dân.
+ Nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng
và nhân dân.
+ Quan điểm của Đảng ta qua các kỳ Đại hội về xây dựng mối quan hệ
giữa Đảng và nhân dân.
+ Các Nghị quyết của Đảng bộ thị xã Sơn Tây về tình hình thị xã.
- Cơ sở thực tiễn: luận văn dựa trên thực trạng mối quan hệ giữa Đảng và
nhân dân trong phạm vi cả nước và ở thị xã Sơn Tây hiện nay.
* Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp luận của luận văn là phương pháp duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin.
- Phương pháp cụ thể: luận văn sử dụng phương pháp logic - lịch sử và
các phương pháp liên ngành khác như: nghiên cứu tài liệu, phân tích, tổng


hợp, đánh giá thực tiễn, điều tra xã hội học (điều tra 300 phiếu, thời gian
tháng 8/2013, tại phường Quang Trung, xã Thanh Mỹ, xã Xuân Sơn của thị
xã Sơn Tây)... để luận giải một cách khoa học những vấn đề thực tiễn đặt ra
được đề cập trong phạm vi nghiên cứu của đề tài.
6. Đóng góp của luận văn
- Luận văn góp phần hệ thống hóa lý luận của Hồ Chí Minh về dân,
nhân dân và về Đảng cầm quyền trong mối quan hệ với dân.
- Chỉ ra những kết quả đạt được, những yếu kém, khuyết điểm và
nguyên nhân trong xây dựng mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân ở thị xã
Sơn Tây - TP. Hà Nội.
- Đưa ra các nhóm giải pháp nhằm củng cố, tăng cường, phát triển

quan niệm của Khổng Tử, Mạnh Tử về dân không bao gồm những người cùng
khổ nhất trong dân cư. “Khái niệm “Dân” của Mạnh Tử ở đây chủ yếu là chỉ
hạng trí thức, địa chủ và thương nhân, không phải là nông nô” [69, 260].
Theo từ điển Tiếng Việt, năm 2009 của Hoàng Phê chủ biên, khái niệm
dân được nêu với ba nghĩa:


1. Người sống trong một khu vực địa lý hoặc hành chính (nói
tổng quát): Dân giàu, nước mạnh. Làm dân một nước độc lập. Thành
phố đông dân. 2. Người thường thuộc lớp người đông đảo nhất, (trong
quan hệ với bộ phận cầm quyền, bộ phận lãnh đạo hoặc quân đội) (nói
tổng quát): tình quân dân, lấy dân làm gốc. 3. Người cùng nghề
nghiệp, hoàn cảnh v.v… làm thành một lớp người riêng (nói khái quát;
hàm ý coi thường): Dân buôn, Dân ngụ cư [52, 330].
Như vậy, hiểu theo nghĩa chung nhất, dân là khái niệm xuất hiện và tồn
tại trong xã hội đã có giai cấp, có Nhà nước; đó là khái niệm chỉ những người
lao động bình thường, đông đảo, không có chức quyền và đối diện với những
người cầm quyền cai trị ở các địa bàn lãnh thổ, các nghề nghiệp khác nhau
trong các lĩnh vực sản xuất vật chất và hoạt động tinh thần của một xã hội
nhất định. Do đó, khái niệm Dân mang màu sắc và ý nghĩa chính trị khá rõ
rệt, phần nào phản ánh mối quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội.
Về khái niệm “nhân dân”, Lênin đã quan niệm “Quần chúng là đa số,
hơn thế nữa chẳng những là đa số công nhân, mà đa số tất cả những người bị
bóc lột” [67, 38]. Rõ ràng, Lênin đã nhấn mạnh yếu tố giai cấp trong quan
điểm về quần chúng nhân dân.
Theo từ điển triết học Liên Xô (Rôdentan chủ biên):
“Nhân dân - với nghĩa thông thường: dân cư của một quốc gia,
một nước; với nghĩa khoa học chặt chẽ: cộng đồng người thay đổi
trong lịch sử, bao gồm một bộ phận, những tầng lớp, những giai cấp
của dân cư mà theo địa vị khách quan của mình có khả năng cùng nhau

mọi người trong xã hội và cũng là toàn thể nhân dân, nhân dân là quần chúng.
Còn “đồng bào”, theo Hồ Chí Minh, là “con Rồng cháu Tiên”, ruột thịt, anh
em, bởi chúng ta cùng chung một tổ tiên, do mẹ Âu Cơ sinh ra từ một bọc trăm
trứng - theo truyền thuyết.


Quan niệm của Hồ Chí Minh về “dân”, “nhân dân” có thể khái quát
trên các nội dung sau:
Dân là những người chung một nước, chung một cộng đồng, chung
một lãnh thổ thống nhất, là đồng bào, là "con Rồng cháu Tiên", là "con Hồng
cháu Lạc", là anh em ruột thịt, là các tầng lớp, các đoàn thể, là những người
cùng giai cấp, là những người yêu nước, là lực lượng cách mạng… Trong
nhiều bài nói, bài viết của mình, Người đã nhiều lần nhấn mạnh. Trong bài
“Nói chuyện cùng đồng bào trước khi sang Pháp”, Người viết “… Việc nước
là việc chung, mỗi một người con Rồng cháu Tiên, bất kỳ già, trẻ, gái, trai,
giàu, nghèo, quý tiện đều phải gánh một phần” [37, 240]. Trong “Lời cảm ơn
đồng bào”, Người cũng chỉ rõ: “Đồng bào ta bất kỳ già, trẻ, gái, trai, giàu,
nghèo, bất kỳ sĩ, nông, công, thương, binh, mọi người đều phải đưa chí sáng
suốt, lực lượng và tài năng của mình vào đó, để phụng sự dân tộc, phụng sự
Tổ quốc” [38, 437]. Trong bài “Lời kêu gọi thi đua ái quốc”, viết ngày 11/6
/1948 đăng trên báo Cứu quốc số 968, Người nhấn mạnh “Mỗi người dân
Việt Nam, bất kỳ già, trẻ, gái, trai, bất kỳ giàu nghèo, lớn nhỏ đều cần phải
trở nên một chiến sĩ đấu tranh trên mặt trận: Quân sự, Kinh tế, Chính trị, Văn
hóa ” [38, 444].
Hồ Chí Minh mở rộng nội hàm khái niệm “dân” đến tất cả những ai
thừa nhận mình là “Con dân đất Việt”. Người thường nói đến “Con Rồng
cháu Tiên”, “đồng bào”, gốc tích Việt Nam, “Hồng Bàng là tổ tiên ta”,
“người chung một nước”, không phân biệt dân tộc thiểu số với dân tộc đa số,
người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, không phân biệt “già,
trẻ, trai, gái, giàu, nghèo, quý, tiện”. Dân là toàn bộ đồng bào trong đại gia

1.1.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của nhân dân
Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của nhân dân luôn nhất quán và
sâu sắc, có nội dung rất phong phú, kế thừa những giá trị truyền thống tốt đẹp
của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại mà đỉnh cao là học thuyết Mác Lênin. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của nhân dân có thể khái quát thành
những luận điểm lớn chủ yếu sau đây:


Thứ nhất, “Dân là gốc của nước”, của cách mạng
Hồ Chí Minh đã nghiên cứu, kế thừa, phát triển những quan điểm có
giá trị tích cực về dân trong lịch sử; đồng thời phê phán những quan niệm hạn
chế, sai lầm. Người phê phán những quan điểm sai lầm thời cổ đại ở phương
Tây, coi nhân dân lao động đông đảo không nằm trong thành phần dân cư, thậm
chí không được coi là con người; phê phán tư tưởng “khinh dân”, “ức dân”, coi
những người lao động chân tay chiếm số đông trong dân cư là hạng tiểu
nhân, ngu dốt, chỉ để sai khiến, chỉ biết ăn no vác nặng của Nho giáo Trung
Hoa, đặc biệt là tư tưởng Hán nho của Đổng Trọng Thư; hoặc tư tưởng coi
quần chúng nhân dân chỉ là một đám đông vô nghĩa, hay chỉ là phương tiện
để giai cấp thống trị lợi dụng cho mục đích của chúng. Hồ Chí Minh tán
thành sâu sắc tinh thần phê phán của Mác - Ăngghen đối với Brunô Bau-ơ và
đồng bọn qua tác phẩm “Gia đình thần thánh” vì chúng coi quần chúng chỉ là
một dãy số không (0), một đám đông vô nghĩa, chỉ là sức ỳ, ngu si đần độn và
là đối tượng của “sự phê phán”. Bọn họ đã phủ nhận vai trò quần chúng,
thậm chí còn lên án quần chúng “Sở dĩ tất cả những việc lớn của lịch sử
từ trước đến nay đều ngay từ đầu đã là không thành công và không
có hiệu quả thực tế, chính là vì quần chúng quan tâm đến các việc
đó, vì các việc đó khêu gợi nhiệt tình của quần chúng” [7, 121].
Cùng với phê phán những quan điểm sai lầm về dân, Hồ Chí Minh còn
tiếp thu sáng tạo những quan điểm trọng dân, coi dân là “gốc của nước” trong
tư tưởng triết học cổ đại Trung Hoa. Đó là tư tưởng của Khổng Tử đề cao vai
trò của dân, coi dân là điều kiện quan trọng nhất đối với nhà cầm quyền, vì

Mác và Ăngghen cũng là người đầu tiên nêu lên những tư tưởng cơ bản
về chính Đảng Cộng sản - đội tiền phong của giai cấp công nhân, đại diện cho
lợi ích của giai cấp công nhân và toàn thể quần chúng nhân dân lao động.
Trong cách mạng vô sản, giai cấp công nhân là người có sứ mệnh thủ tiêu áp
bức bóc lột của chế độ tư bản chủ nghĩa, xây dựng chế độ mới - XHCN.
Nhưng sâu sắc hơn, các ông còn dạy, cách mạng vô sản muốn thắng lợi, phải


do Đảng Cộng sản lãnh đạo, phải được sự ủng hộ của quần chúng nhân dân,
đặc biệt là của giai cấp công nhân và nông dân đông đảo.
Lênin coi sự đồng tình, ủng hộ của các tầng lớp nhân dân lao động là điều
kiện và cũng là mục tiêu hoạt động của giai cấp vô sản. Trong cách mạng XHCN,
Lênin càng chú ý đến vai trò quyết định của quần chúng nhân dân, coi CNXH là
sự nghiệp của quần chúng nhân dân. Song để khẳng định được vai trò, sức mạnh
của mình, quần chúng nhân dân cũng cần có điều kiện, như Lênin đã nói “Một
nước mạnh là nhờ ở sự giác ngộ của quần chúng. Nước mạnh là khi nào quần
chúng biết rõ tất cả mọi cái, quần chúng có thể phán đoán được về mọi cái và đi
vào hành động một cách có ý thức” [68, 23].
Kế thừa những giá trị tư tưởng tích cực về dân, Hồ Chí Minh đã nhận
thức sâu sắc vai trò và sức mạnh quyết định của quần chúng nhân dân. Đề
cao nhân dân và sự đoàn kết toàn dân, đó là đặc trưng nhất quán trong tư
tưởng Hồ Chí Minh. Và Người nêu lên một triết lý “có dân là có tất cả”.
Hồ Chí Minh nêu tư tưởng “Dân là gốc của nước”. Nghĩa là, nước phải
có dân và do dân lập nên. Không có dân thì không có nước, do đó dân là gốc
của nước. Nước là một quốc gia, một vùng lãnh thổ có chủ quyền của những
cộng đồng dân cư mà bao giờ cũng có những người cầm quyền (một triều đại,
một chính phủ) mang danh đại diện. Dân là gốc, là nền của nước nhưng
không phải ai cũng nhận rõ vai trò đó của dân. Hồ Chí Minh thẳng thắn vạch
ra nhận thức sai lầm đó, Người nói “Một pho tượng hay một lâu đài cũng
phải có cái nền rất vững chắc mới đứng vững được. Nhưng người ta dễ thấy

lượng của dân chúng nhiều vô cùng” [38, 295]; “công an có bao nhiêu người?
Dù có vài ba nghìn hay năm bảy vạn đi nữa thì lực lượng ấy vẫn còn ít lắm
bên cạnh lực lượng nhân dân. Năm vạn người thì chỉ có 5 vạn cặp mắt, 5 vạn
đôi bàn tay. Phải làm sao có hàng chục triệu đôi bàn tay, hàng chục triệu cặp
mắt và đôi tai mới được. Muốn như vậy, phải dựa vào dân, không được xa rời
dân” [39, 366]. Chính vì vậy, mà xưa nay những đội quân xâm lược nước ta
của các nước thực dân, đế quốc, mặc dù được “trang bị đến tận răng”, vẫn bị
đánh bại bởi chiến tranh nhân dân, chiến tranh toàn dân của ta.


Dân không chỉ là lực lượng đông đảo mà còn rất cần cù, thông minh,
khéo léo, có nhiều kinh nghiệm quý báu, “Dân chúng biết giải quyết nhiều
vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi,
những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra” [38, 295].
“Dân là gốc của nước” cho nên dân là quí nhất, là quan trọng hơn hết.
Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Trong bầu trời không gì qúy bằng nhân dân.
Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân…
Trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân
dân” [41, 276]. Đây là tư tưởng tổng quát, triết lý sâu xa, thể hiện thế giới
quan khoa học, quan niệm nhân sinh đúng đắn, cao cả cuả Hồ Chí Minh.
Người nhấn mạnh: “Nếu biết dựa vào nhân dân thì việc gì cũng xong” [38, 406];
“Dân chúng đồng lòng, việc gì làm cũng được. Dân chúng không ủng hộ, việc gì
làm cũng không nên” [38, 293]. Theo Người “dân là gốc của nước” nên phải
chăm sóc đến gốc vì “gốc có vững cây mới bền”, dân có giàu nước mới mạnh.
Tóm lại, quan điểm “dân là gốc của nước” của Hồ Chí Minh thể hiện
trên ba luận điểm: Tin vào sức mạnh to lớn và năng lực sáng tạo của nhân
dân; tất cả vì lợi ích của nhân dân; và phương pháp lãnh đạo, tác phong công
tác phải theo quan điểm quần chúng. Như vậy, với Hồ Chí Minh, “dân là gốc
của nước” là nền tảng tư tưởng, cơ sở để Người lựa chọn con đường cách
mạng cho dân tộc.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status