Vận dụng tư tưởng hồ chí minh về văn hóa trong giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc h’mông ở sa pa – lào cai hiện na - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

NGUYỄN PHƢƠNG THỦY

VẬN DỤNG TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA
TRONG GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA
DÂN TỘC H’MÔNG Ở SA PA – LÀO CAI HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Hồ Chí Minh học

Hà Nội-2013

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

NGUYỄN PHƢƠNG THỦY

VẬN DỤNG TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA
TRONG GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN
TỘC H’MÔNG Ở SA PA – LÀO CAI HIỆN NAY

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Hồ Chí Minh học
Mã số: 60.31.27


34

Chƣơng 2. GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA
DÂN TỘC H’MÔNG Ở SA PA – LÀO CAI HIỆN NAY THEO
TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH......................................................................................

56

2.1. Những nhân tố tác động đến quá trình giữ gìn và phát huy bản
sắc văn hóa dân tộc H’Mông ở Sa Pa – Lào Cai ................................................

56

2.2. Thực trạng giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc H’Mông
ở Sa Pa – Lào Cai hiện nay .............................................................................................

67

2.3. Nội dung và giải pháp trong giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc H’Mông ở Sa Pa – Lào Cai hiện nay........................................................

94

KẾT LUẬN...............................................................................................................................

102

Danh mục tài liệu tham khảo...........................................................................................

104

gìn cốt cách dân tộc và bảo tồn bản sắc văn hóa trong quá trình phát triển và tồn
vong của một quốc gia, bởi rằng "càng thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin bao
nhiêu thì càng phải coi trọng những truyền thống văn hoá tốt đẹp của cha ông
bấy nhiêu”. Bản thân Người là hiện thân của việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân

4


tộc, khẳng định cốt cách dân tộc trong hành trình giao lưu, tiếp biến văn hóa để
làm giàu cho chính bản thân mình, dân tộc mình.
Nhận thức rõ được giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, đã có rất
nhiều nhà khoa học nghiên cứu tư tưởng văn hóa của Người dưới nhiều góc độ,
nhiều phương diện khác nhau, trong đó tư tưởng Hồ Chí Minh về giữ gìn và phát
huy bản sắc văn hóa dân tộc nói riêng là một vần đề rất quan trọng. Hiện nay, đất
nước ta đang trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế. Bên cạnh những cơ
hội, những thành tựu đã đạt được, Việt Nam cũng đang phải đối diện với những
nguy cơ, thách thức. Trên tinh thần đó, chú trọng đến việc giữ gìn và phát huy
bản sắc văn hoá của các dân tộc thiểu số theo tinh thần Nghị quyết 22 của Bộ
Chính trị: "Nền văn minh ở miền núi phải được xây dựng trên cơ sở mỗi dân tộc
phát huy bản sắc văn hoá của mình, vừa tiếp thu tinh hoa văn hoá của các dân
tộc khác và góp phần phát triển văn hoá chung của cả nước, tạo ra sự phong phú
đa dạng trong nền văn minh của cộng đồng các dân tộc Việt Nam [16, tr.51] là
vấn đề vô cùng cần thiết. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của
Đảng khẳng định: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn
hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn và phát
triển kinh tế - xã hội, làm cho văn hoá thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội” [19, tr.33]. Với ý nghĩa đó, việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân
tộc Việt Nam nói chung, bản sắc văn hoá các dân tộc thiểu số nói riêng là một
trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng để thực hiện mục tiêu xây dựng và
phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc theo tinh thần

về văn hóa nói chung, về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc nói riêng,
đặc biệt là các dân tộc ít người. Trong số đó có thể kể: Huy Cận: "Suy nghĩ về
bản sắc văn hóa dân tộc", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996; Đỗ Huy: "Tư
tưởng văn hóa Hồ Chí Minh", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997; Thành
Duy: "Cơ sở khoa học và nền tảng văn hóa của tư tưởng Hồ Chí Minh", Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998; Đại học quốc gia Hà Nội - Trường Đại học khoa

6


học xã hội và nhân văn: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng văn hóa Việt
Nam”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998; Bùi Đình Phong: “Đỉnh cao tư
tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa”, Nxb Lao động, Hà Nội, 2001; Đinh Xuân Lâm
– Bùi Đình Phong: “Văn hóa và triết lý phát triển trong tư tưởng Hồ Chí Minh”,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008; Phạm Ngọc Anh - Bùi Đình Phong: "Hồ
Chí Minh - Văn hóa và phát triển", Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội, 2009;
Song Thành: “Hồ Chí Minh, nhà văn hóa kiệt xuất”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2010, v.v..
Những công trình nghiên cứu của các tác giả nêu trên đề cập, từng bước
làm rõ nguồn gốc tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, những quan điểm cơ bản
của Hồ Chí Minh về văn hóa, những cống hiến và sự nghiệp văn hóa đồ sộ của
Người cho dân tộc và nhân loại, v.v.. Đồng thời, có đánh giá, nhìn nhận của các
học giả về danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh và sự vận dụng tư tưởng của Người
vào quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa
dân tộc.
Các công trình này đã cho chúng tôi những kiến thức chung, tổng quát và
tiếp cận một cách hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, quan điểm của
Người về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Đây là cơ sở quan trọng
giúp tôi giải quyết nội dung của luận văn.
2.2. Nhóm các luận văn

Có rất nhiều nhà nghiên cứu khoa học, các chuyên gia đầu ngành nghiên
cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa
các dân tộc, trong đó có:
"Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển giá trị văn hóa dân tộc và nhân loại",
Hồ Văn Chiểu, Tạp chí Cộng sản, số 34, 2003; "Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn
hóa và vấn đề bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc", Nguyễn Ngọc Quyến, Tạp chí
Triết học, số 11, 2004; “Quan điểm của Hồ Chí Minh về giữ gìn và phát huy bản
sắc văn hóa dân tộc”, Nguyễn Danh Tiên, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 7, 2010;

8


“Văn hóa Hồ Chí Minh: đổi mới, hội nhập để phát triển”, Hoàng Chí Bảo, Tạp
chí Lý luận chính trị, số 7, 2010; v.v..
Những bài viết này ở các chiều cạnh khác nhau đã giúp chúng tôi hiểu sâu
sắc hơn về quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh về việc tất yếu phải bảo tồn, phát
huy giá trị của văn hóa các dân tộc, có thể kế thừa, giúp ích cho quá trình làm
luận văn.
2.4. Nhóm các đề tài khoa học
Trong số các đề tài khoa học, Đề tài khoa học cấp Bộ “Tư tưởng Hồ Chí
Minh về xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam” (1995) do TS Bùi Đình Phong
làm chủ nhiệm, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh chủ trì, đã phân tích
hệ thống quan điểm lý luận của Hồ Chí Minh về xây dựng nền văn hóa mới, từ
đó, đề xuất các quan điểm, giải pháp vận dụng vào xây dựng nền văn hóa ở nước
ta trong tiến trình đổi mới…
Đề tài khoa học cấp Nhà nước KHXH 04.01 “Tư tưởng Hồ Chí Minh về
xây dựng con người và phát triển văn hóa” (2001 – 2005) do GS Đặng Xuân Kỳ
làm chủ nhiệm, đã đi sâu làm rõ những sáng tạo lớn của Hồ Chí Minh trong hoạt
động văn hóa, khẳng định giá trị lý luận và thực tiễn hệ thống quan điểm của
Người trong phát triển văn hóa dân tộc, văn hóa nhân loại hiện nay…

- Đề xuất một số giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân
tộc H’Mông ở Sa Pa hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về giữ gìn và phát huy bản sắc
văn hóa dân tộc;
- Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc;
- Phân tích, đánh giá thực trạng việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc H’Mông ở Sa Pa – Lào Cai;

10


- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc
văn hóa dân tộc H’Mông ở Sa Pa – Lào Cai hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí
Minh.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc;
- Thực trạng việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc H’Mông ở
Sa Pa – Lào Cai.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong luận văn này, tác giả không trình bày toàn bộ các vấn đề tư tưởng
Hồ Chí Minh về văn hóa, chỉ tập trung nghiên cứu những quan điểm của Người
về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Đồng thời, trên cơ sở nghiên cứu
những nét chính về văn hóa người H'Mông ở Sa Pa, luận văn đi sâu phân tích,
đánh giá việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc H’Mông ở Sa Pa –
Lào Cai (từ năm 1998 đến nay).
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận

dung của luận văn gồm 2 chương, 6 tiết.

12


Chƣơng 1: TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA VÀ GIỮ GÌN
VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC
1.1. Khái niệm văn hóa, bản sắc văn hóa dân tộc
1.1.1 Khái niệm văn hóa
* Một số quan niệm về văn hóa
Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác
nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người. Về
mặt thuật ngữ khoa học: Văn hóa được bắt nguồn từ chữ Latinh "Cultus" mà
nghĩa gốc là gieo trồng, được dùng theo nghĩa Cultus Agri là "gieo trồng
ruộng đất" và Cultus Animi là "gieo trồng tinh thần" tức là "sự giáo dục bồi
dưỡng tâm hồn con người". Theo nhà triết học Anh Thomas Hobbes (15881679), thì "Lao động giành cho đất gọi là sự gieo trồng và sự dạy dỗ trẻ em
gọi là gieo trồng tinh thần".
Theo ngôn ngữ của phương Tây, từ tương ứng với văn hóa của tiếng
Việt (culture trong tiếng Anh và tiếng Pháp, kultur trong tiếng Đức,...) có
nguồn gốc từ các dạng của động từ Latin colere là colo, colui, cultus với hai
nghĩa: (1) - Giữ gìn, chăm sóc, tạo dựng trong trồng trọt; (2) - Cầu cúng.
Ở Phương Đông, thuật ngữ văn hóa được sử dụng từ rất sớm. Thời Tây
Hán (thế kỷ II trước Công nguyên), văn hóa được hiểu theo nghĩa là cách thức
giáo hóa con người. Thời nhà Chu đã xuất hiện từ “văn” và từ “hóa”. Trong
sách Chu Dịch có câu: “Quan hồ nhân văn dĩ hóa thành thiên hạ”, tức là xem
dáng vẻ con người, lấy đó mà giáo hóa thiên hạ. Hay trong bài “Chỉ vũ”, sách
Thuyết Uyển, Lưu Hướng viết: “Thánh nhân cai trị thiên hạ, trước dùng văn
đức sau mới dùng vũ lực. Phàm dùng vũ lực đều để đối phó kẻ bất phục tùng,
dùng văn hóa không thay đổi được thì sau đó sẽ chinh phạt” [20, tr.13-14].
Còn Tuân Tử quan niệm “hóa tính khởi ngụy”, tức là qua nhân vi để cải tạo

thức xử thế được công nhận, đã khách thể hóa và thừa nhận trong một cộng

15


đồng truyền lại cho một cộng đồng khác và cho các thế hệ mai sau" [25,
tr.11].
Như vậy, có thể thấy rằng có nhiều quan niệm khác nhau về văn hóa,
theo đó, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau
nhưng cũng nói nên rằng văn hóa là lĩnh vực có phạm vi rất rộng lớn. Cụ thể,
văn hóa có mặt trong toàn bộ đời sống của con người, trong hoạt động sáng
tạo của con người, đồng thời cũng là thước đo trình độ phát triển và sự hoàn
thiện của con người. Qua nghiên cứu các cách tiếp cận khác nhau về văn hóa,
có thể khái quát đặc điểm chính của văn hóa là: (1)- Văn hóa được xem như
hệ thống giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra để đáp ứng nhu
cầu tồn tại và phát triển của mình trong tiến trình đi lên của lịch sử. Tất cả
những gì liên quan đến con người, đến mọi cách thức tồn tại của con người
đều mang trong nó cái gọi là văn hóa - Văn hóa là đặc trưng toàn bộ cuộc
sống của con người. (2)- Văn hóa được hiểu như những giá trị tinh thần, là
đời sống tinh thần của xã hội: đạo đức, tôn giáo, thẩm mỹ, v.v.. Văn hóa chỉ là
một mặt của đời sống xã hội loài người. (3)- Văn hóa được hiểu là trình độ
học vấn của con người.
* Quan niệm của Hồ Chí Minh về văn hóa
Hồ Chí Minh là nhà văn hóa kiệt xuất, góp phần sáng tạo ra một nền văn
hóa mới trong lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam. Bằng sự kết tinh tinh
hoa văn hóa hàng ngàn năm của dân tộc, chắt lọc và kế thừa những tinh hoa
văn hóa nhân loại, kết hợp với những hoạt động thực tiễn phong phú, trong thời
gian (1942 - 1943), khi viết tác phẩm Nhật ký trong tù, ở mục đọc sách nằm
cuối tập thơ, Hồ Chí Minh đã đưa ra quan niệm của mình về văn hóa:
Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng

văn hóa, khái quát văn hóa với những nội dung rộng nhất của phạm trù văn
hóa. Theo đó, văn hóa không chỉ bao hàm các hoạt động tinh thần của con
người, mà còn bao gồm cả những hoạt động vật chất. Văn hóa là hoạt động

17


sáng tạo của con người, mà nguồn gốc là do nhu cầu sinh tồn của con người
với tư cách là chủ thể của sự sáng tạo ra các giá trị văn hóa. Văn hóa bao hàm
hai lĩnh vực là văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần tương ứng với hai hình
thức sản xuất của xã hội loài người là sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần.
Văn hoá vật chất biểu hiện lĩnh vực hoạt động vật chất và toàn bộ kết quả của
hoạt động này, bao gồm: công cụ lao động, nhà ở và những vật dụng cần thiết
cho đời sống hàng ngày như ăn, mặc, đi lại, thông tin, giao lưu, v.v.. Văn hoá
tinh thần được phản ánh trong hoạt động ý thức, hoạt động sản xuất tinh thần,
cùng với toàn bộ kết quả của nó như: hoạt động nhận thức, đạo đức, pháp
luật, nghệ thuật, giáo dục đào tạo, tôn giáo tín ngưỡng, v.v.. Việc phân định
hai lĩnh vực văn hoá trên đây chỉ là tương đối vì mỗi kết quả của những hoạt
động này đều hàm chứa trong mình nó cả hai giá trị, giá trị vật chất và giá trị
tinh thần.
Còn về văn hóa dân tộc, có thể hiểu văn hóa theo hai nghĩa, hai cấp độ
khác nhau. Trong phạm vi hẹp, văn hóa dân tộc đồng nghĩa với văn hóa một
tộc người. Văn hóa dân tộc hoặc văn hóa tộc người + tộc danh là một chi tiết
của văn hóa nói chung. Ở phạm vi rộng, văn hóa dân tộc là văn hóa chung của
cả cộng đồng người (Nation) sống trong cùng một quốc gia. Văn hóa tộc
người là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần, cũng như những quan hệ
xã hội được sáng tạo trong điều kiện môi trường sinh tụ của một tộc người,
phản ánh những nhận thức, tâm lý, tình cảm, tập quán riêng biệt được hình
thành trong lịch sử của dân tộc đó.
Ở các quốc gia đa dân tộc, văn hóa của các tộc người đan xen, hấp thụ

đời sống tinh thần của xã hội, thuộc kiến trúc thượng tầng, vừa là mục tiêu,
vừa là động lực của cách mạng. Theo Hồ Chí Minh, văn hóa và chính trị, kinh
tế, xã hội tạo thành 4 vấn đề chủ yếu của đời sống xã hội, có mối quan hệ mật
thiết với nhau.

19


Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, muốn đất nước phát triển thì phải
coi trọng cả bốn yếu tố này như nhau và điều này được Hồ Chí Minh nêu rõ
trong bài viết đăng trên báo Cứu quốc số ra ngày 8/10/1945: “Trong công
cuộc kiến thiết nước nhà, có 4 vấn đề cùng phải chú ý đến, cùng phải coi
trọng ngang nhau: Chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa”. Theo đó, chính trị, xã
hội được giải phóng thì văn hóa mới được giải phóng. Chính trị giải phóng sẽ
mở đường cho văn hóa phát triển, vì: “Xã hội thế nào, văn nghệ thế ấy… dưới
chế độ thực dân và phong kiến, nhân dân ta bị nô lệ, thì văn nghệ cũng bị nô
lệ, bị tồi tàn, không thể phát triển được” [42, tr.434]. Tiếp đó, tại Đại hội văn
hóa toàn quốc 24/11/1946, Người nhấn mạnh: “Văn hóa có liên lạc với chính
trị rất mật thiết”, nên không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế và chính
trị, phải phục vụ nhiệm vụ chính trị và thúc đẩy sự phát triển của kinh tế.
Cũng theo Hồ Chí Minh, kinh tế thuộc về cơ sở hạ tầng, là nền tảng của
việc xây dựng văn hóa, nên phải chú trọng xây dựng kinh tế, xây dựng cơ sở
hạ tầng để có điều kiện xây dựng và phát triển văn hóa. Người viết, văn hóa
thuộc kiến trúc thượng tầng, nhưng cơ sở hạ tầng có kiến thiết rồi, văn hóa
mới kiến thiết được và có đủ điều kiện để phát triển. Kinh tế phải đi trước một
bước vì: “Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải phát triển kinh tế và văn
hóa. Vì sao không nói phát triển văn hóa và kinh tế. Tục ngữ ta có câu: Có
thực mới vực được đạo, vì thế kinh tế phải đi trước” [45, tr.59].
Một nền chính trị đúng đắn bao giờ cũng được xây dựng trên cơ sở một
nền văn hóa tiến bộ; một nền văn hóa tiến bộ phải hướng vào mục tiêu phục

2. Xây dựng luân lý: Biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng.
3. Xây dựng xã hội: Mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân
dân trong xã hội.
4. Xây dựng chính trị: dân quyền
5. Xây dựng kinh tế” [38, tr.431].

21


1.1.2 Khái niệm bản sắc văn hóa dân tộc
* Một số quan niệm về bản sắc văn hóa dân tộc
Mỗi dân tộc trong quá trình hình thành và phát triển đã tạo nên đặc
trưng về văn hóa và cả những nét tương đồng về văn hóa giữa các dân tộc
trong cộng đồng dân tộc. Tuy nhiên, trong sự tương đồng ấy thì mỗi một dân
tộc có những điểm khác biệt về văn hóa mà các dân tộc khác không có. Sự
khác biệt ấy đã tạo nên sự đa dạng, phong phú về văn hóa giữa các dân tộc mà
người ta gọi đó là bản sắc văn hóa dân tộc.
Xét về mặt ngữ nghĩa, bản sắc văn hóa dân tộc là một từ ghép có gốc
Hán – Việt. “Bản” là cái gốc, cái cốt lõi, cái căn bản, “sắc” là sự biểu hiện cái
căn bản, cái cốt lõi ấy ra ngoài. Thuật ngữ bản sắc thường được sử dụng gắn
với văn hóa và dân tộc. Vì vậy, nói đến dân tộc là nói đến văn hóa, bản sắc
văn hóa; nói đến văn hóa là nói đến dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộc.
Bản sắc văn hóa dân tộc là tổng hợp những hiện tượng văn hóa - xã hội,
bao gồm các chuẩn mực giao tiếp, các khuôn mẫu văn hóa, tư tưởng xã hội,
phong tục tập quán, các nghi lễ, thiết chế xã hội… được hình thành, giữ gìn
qua năm tháng; trở thành thói quen trong các hoạt động sống của con người.
Nó được in dấu trong mọi mặt của đời sống xã hội thuộc một dân tộc nhất
định, của một cộng đồng riêng biệt.
Khái niệm bản sắc văn hóa dân tộc đã được nhiều nhà nghiên cứu về
văn hóa quan tâm, tiếp cận nên khái niệm về bản sắc văn hóa dân tộc cũng rất

cách, bản lĩnh của một dân tộc, có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc nhận
định chỗ đứng của mỗi quốc gia trên trường quốc tế. Bản sắc văn hóa được
coi là dấu hiệu khác biệt về chất giữa các dân tộc với nhau, quyết định dân tộc
đó còn hay mất, phát triển hay tiêu vong, thể hiện sức sống của dân tộc đó.
Trong quá trình tồn tại và phát triển, chính bản sắc dân tộc đã làm nên cái cốt
lõi vững chắc, giúp cho nền văn hóa vừa giàu cá tính, vừa đủ bản lĩnh để
không ngừng tích tụ, biến đổi, phát triển, sáng tạo thêm những giá trị mới, tìm

23


kiếm những hình thức biểu hiện mới mà vẫn giữ được tính nhất quán so với
bản thân mình trong quá trình phát triển.
Bản sắc văn hóa được hình thành cùng với quá trình hình thành dân tộc,
nó gắn liền với hoàn cảnh không gian, địa lý, phương thức sản xuất, tâm lý
của dân tộc... Một dân tộc càng có chiều sâu cội nguồn, bề dày lịch sử và có ý
thức cao về bản thân mình, càng có cơ hội bộc lộ cái tính riêng độc đáo của
mình trong văn hóa. Bản sắc văn hóa như mạch ngầm thẩm thấu vào mọi giá
trị văn hóa, xuyên qua thời gian, làm nên mối liên hệ thiêng liêng, bền vững
giữa các thế hệ, các giai đoạn phát triển của một nền văn hóa.
Bản sắc văn hóa dân tộc không chỉ là dấu hiệu hình thức để phân biệt
dân tộc này với dân tộc khác, mà điều quan trọng hơn là cần đánh giá giá trị
của những đặc trưng bản sắc đó theo tiêu chí nhân văn. Vì vậy, nếu một dân
tộc nếu như đánh mất bản sắc văn hóa của mình, thì thực chất dân tộc ấy đã
đánh mất chính mình. Chính vì vậy, việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn
hóa tạo nên bản sắc văn hóa các dân tộc là vấn đề có ý nghĩa to lớn đối với sự
tồn vong của mỗi dân tộc.
Cùng với sự hình thành và phát triển của dân tộc, Việt Nam là một
quốc gia đa dân tộc, có nền văn hóa lâu đời, đa dạng, có bản sắc riêng. Bản
sắc văn hóa dân tộc Việt Nam là tổng thể những giá trị bền vững do cộng

chủ quyền quốc gia, lãnh thổ và có trách nhiệm chung để xây dựng và không
ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần để ngày càng văn minh, tiến
bộ. Làm được điều đó, cũng chính là thiết thực góp phần bảo vệ bản sắc văn
hoá dân tộc, phát triển văn hoá của dân tộc mình trong nền văn hoá chung của
dân tộc. Theo Người, để giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thì điều
cần thiết nhất là “mỗi dân tộc phải chăm lo đặc tính của mình” [50, tr. 359]
trong văn hoá, nghệ thuật và các dân tộc “nên chú ý phát huy cốt cách dân
tộc”, giữ gìn và phát huy những bản sắc văn hoá riêng của dân tộc mình trong

25


Trích đoạn Cơ sở lý luận Những thành tựu và nguyên nhân Những hạn chế và nguyên nhân Nội dung và giải pháp trong giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc H’Mông ở Sa Pa – Lào Cai hiện nay Những giải pháp chủ yếu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status