MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
TÓM TẮT LUẬN VĂN
- Loại hình ngân sách cho hoạt động y tế.....................................................................15
- Loại hình bảo hiểm y tế xã hội...................................................................................16
- Loại hình hệ thống y tế theo thị trường......................................................................17
1.4.1. Trung Quốc.........................................................................................................27
1.4.2. Mỹ......................................................................................................................32
1.4.3. Thái Lan.............................................................................................................36
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................110
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BHXH
BHYT
CNH
CNVC
CSSK
DVYT
GDP
HĐH
HĐND
KCB
KHHGĐ
KT-XH
NSNN
ODA
UBND
TTYT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
DANH MỤC BẢNG
- Loại hình ngân sách cho hoạt động y tế.....................................................................15
- Loại hình ngân sách cho hoạt động y tế.....................................................................15
- Loại hình bảo hiểm y tế xã hội...................................................................................16
- Loại hình bảo hiểm y tế xã hội...................................................................................16
- Loại hình hệ thống y tế theo thị trường......................................................................17
- Loại hình hệ thống y tế theo thị trường......................................................................17
1.4.1. Trung Quốc.........................................................................................................27
1.4.2. Mỹ......................................................................................................................32
1.4.3. Thái Lan.............................................................................................................36
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Vốn cho y tế tỉnh qua các năm.....................................................
Biểu đồ 2.2: Sử dụng chi theo nội dung chuyên môn.......................................
1
PHẦN MỞ ĐẦU
Trong quá trình tiến hành cải cách hệ thống y tế Việt Nam từ năm 1989
cho đến nay, hệ thống y tế là nơi thực hiện nhiều chính sách cải cách quan
trọng, có ảnh hưởng tới toàn bộ hệ thống y tế như viện phí, BHYT, xã hội hoá
y tế, tự chủ tài chính… Tuy nhiên trong suốt quá trình cải cách đó, Đảng và
Nhà nước vẫn giữ quan điểm và định hướng nhất quán về ưu tiên đầu tư từ
ngân sách nhà nước cho y tế. Nghị quyết Đại hội Đảng các khoá VII, VIII, IX
và mới đây nhất là Đại hội X, 2006 đã chỉ rõ: Tăng đầu tư của Nhà nước và
tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong việc nâng cấp mạng lưới y tế cơ sở và hệ
lạc hậu, xuống cấp, phương tiện trang thiết bị phục vụ còn thiếu thốn chưa
đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân, cơ chế quản lý và cơ chế
giao quyền tự chủ còn nhiều lúng túng, mạng lưới khám, chữa bệnh chuyên
sâu có kỹ thuật cao còn hạn chế. Nguồn vốn NSNN chi cho lĩnh vực này
chưa đáp ứng được với nhu cầu thực tế, phần thu viện phí, BHYT và xã hội
hoá không ổn định và thấp, điều này ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển
ngành y tế của tỉnh.
1. Sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài
Công cuộc đổi mới kinh tế diễn ra trên đất nước ta đã và đang đặt ra
những yêu cầu cấp thiết về trí và lực trong mỗi cá nhân con người, trong đó sức
khoẻ là vốn quí nhất của mỗi con người và toàn xã hội, là nguồn tài nguyên quí
báu nhất, quyết định đến sự phát triển của đất nước. Mục tiêu của phát triển y
tế là phải xây dựng một nguồn nhân lực mạnh mẽ có đủ sức khoẻ để làm việc
có hiệu quả, góp phần thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình phát triển của đất nước.
Trong thời gian qua Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến việc chăm lo phát
triển toàn diện cho lĩnh vực y tế, đặc biệt xác định công tác trọng tâm là chăm
sóc và bảo vệ sức khoẻ của nhân dân được đặt lên hàng đầu.
3
Nguồn vốn ngân sách nhà nước được sử dụng như một công cụ tài
chính quan trọng nhất, tập trung nhất để xây dựng và phát triển nền kinh tế
nước ta. Vì lý do không thể cho phép nguồn vốn từ ngân sách nhà nước dàn
trải và tiếp tục bao cấp cho ngành y tế như những thời kỳ quản lý nền kinh tế
theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung trước đây. Bài toán đặt ra cho ngành y tế
là muốn tồn tại và phát triển phải có cơ chế biện pháp tổ chức thực hiện để
huy động các nguồn vốn đầu tư đồng thời phải biết sử dụng nó một cách
hiệu quả.
Lý giải vấn đề huy động và sử dụng các nguồn vốn có hiệu quả để phát
triển y tế trong điều kiện nước ta hiện nay sẽ gặp những khó khăn về mặt thực
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề sử dụng vốn NSNN, cũng như hiệu
quả sử dụng vốn NSNN tại các đơn vị y tế Bắc Ninh.
Phạm vi nghiên cứu: Ngành y tế với phạm vi rộng như chăm sóc, bảo
vệ sức khoẻ, dự phòng, các bệnh viện trực tiếp khám, chữa bệnh. Luận văn
chỉ tập trung nghiên cứu hiệu quả sử dụng vốn NSNN của các bệnh viện
tuyến tỉnh, tuyến huyện, trung tâm y tế dự phòng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
từ năm 2003 đến nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
để lý giải các vấn đề nghiên cứu
Luận văn cũng sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, thống kê,
tổng hợp trong các phần trình bày về lý luận cũng như thực tiễn để làm rõ các
đánh giá nhận định. Từ đó luận văn đề ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện
công tác nâng cao hiệu quả sử dụng vốn NSNN trong thời gian tới.
5. Các kết quả đã nghiên cứu đến nay
- Nguyễn Văn Châu (1995), Đổi mới và hoàn thiện cơ chế chính sách
huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư cho y tế trong bước
chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường ở nước ta, Luận án tiến sĩ kinh tế, Đại
học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.
5
- Phan Thị Thanh Hương (2006), Phương hướng và giải pháp thu hút
vốn đầu tư phát triển y tế Việt Nam giai đoạn 2001-2005, Luận văn thạc sĩ
kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.
- Hoàng Thị Ngọc Bích (2004), Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý
chi NSNN đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp ngành y tế, Luận văn thạc
sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.
- Hoàng Thị Thuý Nguyệt (2006), Các giải pháp tài chính thúc đẩy phát
vốn NSNN cho hoạt động y tế, cùng với việc phân tích tình hình thực trạng sử
dụng vốn NSNN của ngành y tế Bắc Ninh và đưa ra một số giải pháp nhằm
huy động, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn NSNN nhằm mục tiêu thực hiện tốt
công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân trong tỉnh.
8. Nội dung nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo luận văn
được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Vốn và hiệu quả sử dụng vốn NSNN của hoạt động y tế
Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn ngân sách nhà nước
tại các đơn vị y tế Bắc Ninh
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngân sách nhà
nước cho các đơn vị y tế Bắc Ninh trong thời gian tới
7
Chương 1
VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN NGÂN SÁCH
NHÀ NƯỚC CỦA HOẠT ĐỘNG Y TẾ
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG Y TẾ
1.1.1. Hoạt động y tế Việt Nam
Hoạt động y tế là một hoạt động mang tính xã hội có nhiệm vụ chủ yếu
là trực tiếp chăm sóc sức khỏe nhân dân bao gồm các lĩnh vực y tế dự phòng;
khám, chữa bệnh; phục hồi chức năng; y học cổ truyền; thuốc phòng chữa
bệnh cho người; chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em; mỹ phẩm ảnh hưởng đến
sức khoẻ con người; an toàn vệ sinh thực phẩm và trang thiết bị y tế,…
Hoạt động y tế công lập thuộc sở hữu nhà nước, đóng vai trò quan
trọng chủ đạo, chi phối hầu hết các hoạt động y tế cả nước. Các hoạt động
phòng chống dịch, phòng chống các bệnh xã hội, y tế cộng đồng và các dịch
hoạt động mà khoẻ giúp yếu, trẻ giúp già,… đảm bảo tính cạnh tranh tự do
của hoạt động bảo hiểm và hoạt động khám chữa bệnh.
Trong những năm gần đây, công tác xã hội hóa trong lĩnh vực y tế được
một số quốc gia đang phát triển đẩy mạnh như các chính sách: Thành lập
bệnh viện tư, công ty sản xuất kinh doanh thiết bị dụng cụ y tế, công ty dược,
phòng khám, quầy thuốc tư nhân, liên doanh liên kết đặt máy móc trang thiết
bị hiện đại,... nhằm thực hiện tốt công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân
dân. Xã hội hóa còn được thực hiện bằng sự tham gia rộng rãi của nhân dân
vào công tác vệ sinh môi trường, phòng chống các tệ nạn xã hội, công tác
phòng chống dịch bệnh, an toàn vệ sinh thực phẩm, vận động kế hoạch hóa
gia đình,...
Ba là, tính tập thể và cộng đồng
Là hoạt động có tính tập thể, tính cộng đồng trong việc thực hiện nhiệm
vụ với ý thức trách nhiệm cá nhân cao, đòi hỏi sự phối hợp chuẩn xác, nhịp
9
nhàng giữa các bộ phận cán bộ, các bộ phận chuyên môn y tế và các ngành các
cấp có liên quan nhằm mục đích phòng bệnh cho người khoẻ, chữa bệnh cho
người bị ốm đau để họ nhanh chóng phục hồi sức lực tiếp tục làm việc và
cống hiến sức lực, trí lực cho xã hội.
1.1.3. Vai trò của hoạt động y tế
1.1.3.1. Vai trò của hoạt động y tế trong việc phát triển nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực phải được hiểu là nguồn lực con người. Đây là một bộ
phận của các nguồn lực cần được huy động, quản lý để thực hiện những mục
tiêu nhất định cũng như các nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính, tiền tệ,…
Nguồn nhân lực phải được khai thác phát triển và quản lý có hiệu quả.
Việc phát triển nguồn nhân lực sẽ tạo nguồn “năng lượng“ lâu dài mỗi
quốc gia. Trong thời đại tiến bộ khoa học kỹ thuật phát triển ở trình độ cao
như ngày nay, thì yếu tố giáo dục - đào tạo có tính chất quyết định to lớn
để làm căn cứ đánh giá tình hình thực hiện ngân sách hàng năm, được bố trí
trong phần chi tiêu dùng xã hội thuộc dự toán chi NSNN. Cách bố trí này tạo
điều kiện cho hoạt động y tế chủ động trong nguồn lực – đó là nguồn lực
được phân chia rõ ràng không trong cơ cấu chi chung của những ngành khác.
- Các nước tư bản phát triển và các nước đang phát triển luôn luôn bố
trí khoản chi cho y tế là một khoản chi riêng trong cơ cấu NSNN, mặc dù
nhiều nước đã thực hiện BHYT hoặc thực hiện chính sách khám, chữa bệnh
người dân phải trả tiền. Điều đó chứng tỏ rằng sự quan tâm phát triển ngành y
tế để thực hiện việc chăm sóc sức khoẻ con người đã trở thành công việc
thường xuyên của mỗi quốc gia, với các cơ chế, chính sách khám, chữa bệnh
cho người dân khác nhau đều có mục đích chung là chăm lo đến việc phát
triển sự nghiệp y tế của mỗi quốc gia.
1.2. VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO HOẠT ĐỘNG Y TẾ
1.2.1. Vốn ngân sách nhà nước
1.2.1.1. Những quan niệm về vốn
Vốn là một trong những nhân tố quan trọng đối với quá trình tăng
11
trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát
triển. Nói đến khái niệm vốn, nhiều nhà kinh tế học đã tiếp cận dưới nhiều góc
độ khác nhau nhưng đều thông qua phạm trù tư bản và có kết luận: Vốn là
phạm trù kinh tế.
Ngày nay, do yêu cầu của sự phát triển ngày càng cao, vốn không chỉ là
yếu tố cần thiết đối với quá trình sản xuất kinh doanh của các nước phát triển
mà còn là yếu tố đóng vai trò hết sức quan trọng của các quốc gia đang phát
triển. Vì vậy, phạm trù vốn vẫn được nhiều nhà kinh tế học tiếp tục nghiên
cứu và tiếp cận nó theo các bình diện khác nhau.
Để hiểu rõ bản chất của vốn, trên cơ sở đó có biện pháp khi sử dụng
xuất - kinh doanh đòi hỏi phải có vốn, nhu cầu vốn được coi là cơ sở phát sinh
mối quan hệ cung - cầu về vốn trên thị trường. Như vậy hiển nhiên vốn là đối
tượng để đem trao đổi, mua bán trên thị trường vốn. Với tư cách là hàng hóa,
vốn có hai thuộc tính giá trị và giá trị sử dụng; có chủ sở hữu và là một trong
những yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất.
Thứ ba, vốn là hàng hóa đặc biệt
Thể hiện ở chỗ vốn có khả năng sinh lời. Với tư cách là hàng hóa đặc
biệt, quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn tách rời nhau. Chủ sở hữu vốn sẽ
nhận được một khoản lợi tức (giá bán hay lãi suất quyền sử dụng vốn) khi bán
quyền sử dụng vốn cho người mua (các nhà đầu tư). Nhà đầu tư quyết định
mua quyền sử dụng vốn phải bỏ ra một khoản tiền gọi là chi phí (mua quyền
sử dụng vốn) trả cho chủ sở hữu và nhận về mình quyền sử dụng vốn. Nhờ có
sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn làm cho vốn linh hoạt
hơn trong lưu thông và sinh lời, nó không bị mất đi giá trị và giá trị sử dụng
và còn được bảo toàn và phát triển.
Thứ tư, vốn có mối quan hệ với thời gian
Khi chủ sở hữu nhượng quyền sử dụng vốn cho người khác phải qui
định thời gian nhất định (một tháng, hai tháng, ba tháng, một năm...). Sự tách
rời giữa quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn, gắn với khoảng thời gian
13
xác định tất yếu dẫn đến quá trình tích tụ, tập trung vốn từ những khoản tiết
kiệm nhỏ, lẻ. Sự vận động đó đã tạo ra những kênh huy động vốn, những
dòng vốn chảy không ngừng trong nền kinh tế thị trường.
Huy động và sử dụng vốn có hiệu quả là một trong những tiền đề
quan trọng đẩy mạnh phát triển nền kinh tế nói chung, y tế nói riêng. Tuy
nhiên, trong mỗi vấn đề cụ thể để tiến hành đầu tư không chỉ cần có đủ vốn
mà còn yêu cầu sử dụng nguồn vốn nào hay các nguồn vốn kết hợp với
nhau. Việc phân chia vốn thành nhiều loại nhằm mục đích hiểu rõ bản chất
cấp phê duyệt. [11, tr.136].
Quản lí sử dụng NSNN là một bộ phận trong công tác quản lí NSNN nói
chung. Theo nghĩa rộng quản lí sử dụng NSNN được hiểu là việc sử dụng
NSNN làm công cụ quản lí hệ thống xã hội thông qua việc sử dụng những chức
năng vốn có của nó. Còn theo nghĩa hẹp, quản lí sử dụng NSNN là quản lí phần
đầu ra của ngân sách thông qua các định mức, qui định chi tiêu hiện hành của
mỗi quốc gia.
1.2.2. Các nguồn vốn ngân sách cho hoạt động y tế
Đối với lĩnh vực y tế, Nhà nước có thể sử dụng nhiều cách thức can thiệp
khác nhau như: hành chính - luật pháp, các công cụ kinh tế tài chính, hay thông
qua các hoạt động của các cơ sở y tế công lập tác động đến chăm sóc sức khỏe
của nhân dân. Mỗi loại công cụ có những đặc trưng vai trò riêng và thể hiện sự
tác động với những cách thức khác nhau, nhưng để ngành y tế phát triển được
một cách đồng bộ cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội thì vốn giữ vai trò trọng
yếu, vừa hỗ trợ và kích thích, vừa tạo áp lực để y tế phát triển theo hướng công
bằng, hiệu quả.
Tác động của nguồn lực tài chính đến chăm sóc sức khỏe được thực hiện
thông qua sử dụng các công cụ tài chính chủ yếu như: ngân sách nhà nước, bảo
hiểm y tế, viện phí và viện trợ nước ngoài (ODA, WB, phi chính phủ...). Các
nguồn này đều là nguồn tài chính hỗ trợ cho ngành y tế của các nước nghèo và
đang phát triển. Bằng việc tạo lập và sử dụng đúng đắn các quỹ tiền tệ của Nhà
15
nước như quỹ ngân sách giành cho y tế, quỹ bảo hiểm y tế,... nhằm chia sẻ gánh
nặng chi phí y tế giữa các nhóm tuổi, giữa các tầng lớp dân cư khác nhau trong
xã hội. Để huy động và phát huy tối đa những tác động tích cực và hạn chế tiêu
cực đến sự phát triển của sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân, cần phải lựa
chọn đúng mục tiêu, đối tượng, đồng thời phải sử dụng đồng bộ và tổng hợp các
nguồn vốn đó nhằm khơi dậy các nguồn lực của đất nước cho phát triển sự
phân bổ lại cho khu vực y tế. Nước Anh là điển hình cho mô hình này. Ở Anh
vẫn có một số hãng BHYT tư nhân thực hiện bảo hiểm y tế bổ sung cho
những người có điều kiện tham gia, dù tất cả mọi người đều sử dụng dịch vụ
y tế Nhà nước. Một số nước cũng sử dụng loại hình này như các nước ở bán
đảo Scandinavia, Tây Ban Nha, Italia. Nước ta, trong giai đoạn kế hoạch hoá
tập trung cũng thực hiện các hoạt động y tế trên cơ sở sử dụng ngân sách nhà
nước. Hình ảnh ở cơ chế kế hoạch hoá tập trung nước ta cũng cho thấy nếu
nguồn ngân sách hạn chế thì việc chi cho hoạt động y tế sẽ rất eo hẹp. Đây
chính là nguyên nhân của tình trạng các cơ sở y tế phát triển không theo kịp
nhu cầu của nhân dân.
- Loại hình bảo hiểm y tế xã hội
Hình thức sơ đẳng nhất là các quỹ tương hỗ, bệnh nhân đóng tiền vào
quỹ tương hỗ theo mức thu nhập; khám chữa bệnh tại bệnh viện và được quỹ
tương hỗ thanh toán chi phí cho bệnh viện. Chính phủ hỗ trợ một phần chi phí
từ ngân sách, nhưng số tiền chủ yếu là từ nguồn đóng góp của người tham gia
theo hình thức thuế thu nhập. Năm 1883, luật BHYT xã hội đầu tiên được nhà
nước Đức ban hành. Các nước Pháp, áo, Bỉ, Hà Lan, Thụy Sĩ, Nhật Bản lần
lượt ban hành và thực hiện chính sách BHYT xã hội. Sau đó các nước Đông
Âu cũng thiết kế loại hình tương tự.
BHYT xã hội không phải là một chính sách mới trên thế giới. Hầu hết
các nước công nghiệp phát triển, trừ Mỹ đều thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân
dưới hình thức này hay hình thức khác. Ngày nay, BHYT toàn dân đã trở
thành nguồn chi trả chính cho các dịch vụ y tế của các nước đang phát triển
17
như Kenia, Israen, Brazil, Ai Cập, Bermuda, Mexico, Costa Rica.
- Loại hình hệ thống y tế theo thị trường
Nước Mỹ là điển hình của loại hình này với hệ thống chăm sóc có quản
lý, cùng với sự phát triển của loại hình bảo hiểm y tế thương mại. Hệ thống
… để tạo ra kết quả hoạt động (sản xuất, dịch vụ, công tác,…) sao cho kết quả
đạt được tối đa, còn chi phí cho kết quả đó ở mức tối thiểu.
Hiệu quả xã hội là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản
xuất xã hội nhằm đạt được các mục tiêu xã hội nhất định. Các mục tiêu xã hội
thường là giải quyết công ăn, việc làm; xây dựng cơ sở hạ tầng; nâng cao phúc
lợi xã hội, mức sống và đời sống văn hoá, tinh thần cho người lao động; đảm bảo
và nâng cao sức khoẻ cho người lao động, đảm bảo vệ sinh môi trường;...
Hiệu quả kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt các
mục tiêu kinh tế của một thời kỳ nào đó. Hiệu quả kinh tế thường được
nghiên cứu ở giác độ quản lí vĩ mô.
Hiệu quả kinh tế - xã hội phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản
xuất - xã hội để đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định. Hiệu quả
kinh tế - xã hội gắn với nền kinh tế hỗn hợp và được xem xét ở góc độ quản lí
vĩ mô.
Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh mặt chất lượng các hoạt
động kinh doanh, phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất (lao
động, máy móc thiết bị, nguyên liệu, tiền vốn) trong quá trình tiến hành các
hoạt động kinh doanh.
Từ các khái niệm trên, tác giả đưa ra khái niệm về hiệu quả sử dụng
vốn NSNN: Hiệu quả sử dụng vốn NSNN là một phạm trù kinh tế được đo
bằng các kết quả về mặt xã hội gắn với nhiệm vụ y tế so với các chi phí mà
NSNN đã bỏ ra trong quá trình thực hiện nhiệm vụ y tế đó.
Nếu ký hiệu:
K là kết quả nhận được
C là chi phí
H là hiệu quả sử dụng vốn
Thì có: H = K/C.
Hiệu quả được tính trên cơ sở sử dụng hai chỉ tiêu là kết quả (đầu ra) và
Chính vì vậy việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn NSNN là một trong những
nhiệm vụ hàng đầu của nền kinh tế, của các cấp, các ngành; là một đòi hỏi
khách quan của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, là một biện
21
pháp tích cực để giải quyết đúng đắn mâu thuẫn giữa yêu cầu tăng trưởng
kinh tế ở tốc độ cao, bền vững với khả năng tích luỹ có hạn của nền kinh tế.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn NSNN sẽ góp phần làm tăng đầu tư
tài sản cố định, tăng tích luỹ để tái sản xuất mở rộng có quy mô ngày càng
lớn hơn. Nếu hiệu quả sử dụng vốn ngân sách đạt cao sẽ tạo điều kiện thúc
đẩy nền kinh tế phát triển. Ngược lại nó sẽ ảnh hưởng bất lợi đến nền kinh tế
như phá sản, làm tăng nợ nước ngoài,... Vì vậy việc đánh giá hiệu quả đầu tư
ngân sách là việc làm cần thiết, giúp cho các nhà hoạch định chiến lược phát
triển kinh tế xã hội, các nhà quản lý ra các quyết định chuẩn xác về chiến
lược đầu tư ngân sách trong từng thời kỳ, nhằm đem lại hiệu quả kinh tế - xã
hội cao nhất.
- Hiệu quả sử dụng vốn là công cụ quản trị nói chung, quản lý và sử dụng vốn
nói riêng:
Bản chất của phạm trù hiệu quả đã chỉ rõ trình độ sử dụng các nguồn
lực như: trình độ sử dụng các nguồn lực làm việc càng cao, đơn vị càng có
khả năng tạo ra kết quả cao trong cùng một nguồn lực đầu vào hoặc tốc độ
tăng kết quả lớn hơn so với tốc độ tăng việc sử dụng các nguồn lực đầu vào.
Do đó xét trên phương diện lí luận và thực tiễn, phạm trù hiệu quả sử dụng
vốn đóng vai trò là một công cụ quản trị rất quan trọng trong việc đánh giá,
so sánh, phân tích kinh tế nhằm tìm ra một giải pháp sử dụng vốn tối ưu
nhằm đạt mục tiêu tối đa. Do phạm trù hiệu quả nói chung và hiệu quả sử
dụng vốn nói riêng có tầm quan trọng đặc biệt nên trong nhiều trường hợp
người ta coi nó không chỉ như phương tiện để đạt kết quả cao mà còn như
Thứ nhất, chỉ tiêu đánh giá tổng hợp
Cũng như các lĩnh vực khác của nền kinh tế quốc dân, hiệu quả đầu tư
cho hoạt động y tế cũng được đánh giá theo chỉ số ICOR.
Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn NSNN cho hoạt động y tế được thể hiện
thông qua hệ số ICOR: “Tỉ lệ sử dụng vốn để tăng một đồng GDP“
(Increasement Capital Ouput Ratio – ICOR). Vì cho biết để tăng thêm 1 đồng