BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
ĐỀ CƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TÊN ĐỀ TÀI
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH
NHÀ NƯỚC Ở HUYỆN THUẬN THÀNH
Học viên cao học: Phạm Công Hưng
Lớp: K20 QTKD D
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số:
Người hướng dẫn khoa học: TS. Đỗ Quang Giám
Bộ môn quản lý: Kế toán và kiểm toán
Hà Nội, tháng 4 năm 2012
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn
gốc.
Hà nội, ngày 12 tháng 04 năm 2013
Người cam đoan
Phạm Công Hưng
2
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn tốt
nghiệp, đến nay tôi đã hoàn thành luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản trị Kinh
doanh với đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quản quản lý chi Ngân sách Nhà
vào tỉnh cảnh khốn khó trong công tác thu nợ, một số Ngân hàng tìm giải pháp
sát nhâp. Đứng trước những khó khăn đó Nhà nước ta đưa ra một số giải pháp
Điều hành của Chính phủ như nghị quyết số 11/NQ-TTg giảm đầu tư công, tiết
kiệm chi tiêu, hạn chế mua sắm công và đầu tư xây dựng cơ bản, nhằm kiềm
chế lạm phát nhằm từng bước đưa nền kinh tế nước ta ổn định và phát triển.
Trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và đẩy mạnh CNH,
HĐH, phấn đấu giảm tỷ trọng trong nông nghiệp tăng tỷ trọng trong công
nghiệp, thương mại dịch vụ, việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ngày càng được
quan tâm như xây dựng các khu công nghiệp, cum công nghiệp, xây dựng nông
thôn mới, kiến cố trạm, trường, đường trước tình hình đó hàng loạt các vấn
đề được đặt ra trong công tác quản lý như quản lý về nhân lực, quản lý tài
nguyên, quản lý giá cả, quản lý thị trường, quản lý về đầu tư xây dựng cơ bản ,
trong đó việc Quản lý thực hiện dự toán chi Ngân sách NSNN nói chung và
ngân sách huyện nói riêng đang đặt ra rất gay gắt. Hơn nữa, Quản lý thực hiện
dự toán chi ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện cũng còn không ít hạn chế
như công tác xây dựng dự toán chưa sát thực hiện nhiệm vụ, điều hành dự toán
còn nhiều bất cập, công tác kiểm soát chi chưa hiệu quả, công tác thanh kiểm
tra còn mang tính hình thức, chưa tạo tính chủ động cho đơn vị sử dụng, công
tác điều chỉnh dự toán trình tự thủ tục còn rườm rà, công tác bổ sung dự toán
4
chưa đáp ứng được yêu cầu, thực hiện dự toán chưa trong tâm, trọng điểm,
nhiều nhiệm vụ chi không đảm bảo được kịp thời trong khi đó chính sách, chế
độ thay đổi và bổ sung nhiều, năng lực, trình độ cán bộ quản lý ngân sách còn
hạn chế.
Trước tình hình đó, việc nghiên cứu tìm những giải pháp nâng cao hiệu
quả quản lý thực hiện dự toán chi ngân sách huyện có ý nghĩa quan trọng, góp
phần vào việc nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách, thắt chặt tài khóa phục vụ
mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, thực hành tiết kiệm, chống
thất thoát, lãng phí, chủ động dành nguồn đối phó với thiên tai, dịch bệnh và xử
lý các nhu cầu cấp thiết về an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh và các nhiệm vụ
từ Ngân sách huyện Thuận Thành.
Nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế - xã hội và phát triển các khu
công nghiệp, cum công nghiệp và tình hình phát triển cơ sở hạ tầng trên địa bàn
huyện ảnh hưởng đến công tác Quản lý chi Ngân sách Nhà nước trên địa bàn
huyện Thuận Thành.
Đề tài tập trung chủ yếu vào nghiên cứu thực trạng công tác Quản lý chi
Ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện Thuận Thành trong những năm vừa
qua, trên cơ sở đó đưa ra một số Biện pháp hiệu quả Quản lý trong thời gian tới.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu.
* Không gian nghiên cứu.
Đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích, so sánh, đánh giá về thực trạng và
kết quả quản lý dự toán chi Ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện Thuận
Thành, tỉnh Bắc Ninh.
6
* Nội dung nghiên cứu:
Nâng cao hiệu quả quản lý chi ngân sách Nhà nước ở huyện Thuận
Thành, tỉnh Bắc Ninh.
* Thời gian nghiên cứu.
Số liệu thứ cấp chủ yếu thu thập từ năm 2010 đến 2012.
Số liệu sơ cấp chủ yếu thu thập trong năm 2012.
Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 1/2010 đến tháng 12/2012
1.3.3. Phương pháp nghiên cứu.
Việc nghiên cứu luận văn dựa trên phương pháp duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lên nin, trên cơ sở quan điểm đường lối
của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về Ngân sách nhà nước và
Quản lý chi Ngân sách Nhà nước. Ngoài ra, các phương pháp cụ thể như: tổng
hợp, phân tích, so sánh cũng được sử dụng trong quá trình nghiên cứu. Đề tài
cũng sử dụng lý luận và phương pháp luận môn phân tích định lượng và một số
môn khoa học khác.
7
trên tài khoản của ngân sách Nhà nước các cấp.
Quỹ NSNN được quản lý tại kho bạc Nhà nước.
2.1.2. Mục tiêu chi ngân sách Nhà nước.
Tất cả các hoạt động chi NSNN đều nhằm đạt được những mục tiêu sau:
- Đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế -xã hội, đảm bảo phúc lợi công
cộng ngắn hạn, dài hạn, mục tiêu văn hoá, xã hội dài hạn ví dụ xây dựng các
công trình cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội như các công trình thuộc lĩnh vực giao
thông, điện nước, giáo dục đào tạo, y tế, thể thao, nghệ thuật….
- Đảm bảo sự phát triển kỹ thuật, kinh tế trung hạn của đất nước, như
đầu tư cho các công trình phục vụ nghiên cứu khoa học và công nghệ có tính
chất chiến lược, các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật và kinh tế quan trọng, các
công trình công nghiệp trọng điểm có tác dụng đòn bẩy đối với nền kinh tế quốc
dân….
- Đảm bảo các yêu cầu về bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên đất
nước.
- Đảm bảo vị trí kinh tế của đất nước trên trường quốc tế.
- Đảm bảo an ninh được giữ vũng và giữ vững được chủ quyền.
- Đầu tư vào các lĩnh vực mà các doanh nghịêp quốc doanh riêng lẻ,
doanh nghịêp tư nhân không có khả năng tham gia. Do nhu cầu về vốn quá lớn,
độ rủi ro cao, mà các lĩnh vực này không thể thiếu đối với sự phát triển chung
của đất nước và rất cần thiết cho đời sống con người và đặc biệt là các vùng
miền xa xôi.
Như vậy Quản lý chi ngân sách Nhà nước phải nhăm hai mục tiêu đó là:
Chi đúng định mức, chi đúng chế độ, thực hiện tiết kiệm và có hiệu quả khi
thực hiện chi.
9
2.1.3. Bản chất.
Ngân sách nhà nước là hệ thống các mối quan hệ kinh tế giữa nhà nước
và xã hội phát sinh trong quá trình nhà nước huy động và sử dụng các nguồn tài
chính nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện các chức năng quản lý và điều hành nền
nhà nước nhàm thoả mãn các nhu cầu của nhà nước.
Các khoản thu vào quỹ ngân sách nhà nước được huy động từ nhiều lĩnh
vực, nhiều nguồn khác nhau, bao gồm:
-Thuế, phí, lệ phí do các tổ chức và cá nhân nộp theo quy định của pháp
luật;
-Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước như lợi tức từ vốn góp
của Nhà nước vào các cơ sở kinh tế, tiền thu hồi vốn của Nhà nước tại các cơ sở
kinh tế và thu hồi tiền vay của Nhà nước;
-Thu từ hoạt động sự nghiệp;
-Thu hồi quỹ dự trữ Nhà nước;
-Thu tiền sử dụng đất, thu từ hoa lợi công sản và đất công ích;
-Các khoản huy động đóng góp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây
dựng các công trình kết cấu hạ tầng cơ sở;
-Các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở trong và
ngoài nước;
-Các khoản di sản Nhà nước được hưởng;
-Thu kết dư ngân sách năm trước;
-Tiền bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu Nhà nước tại các đơn vị
hành chính, sự nghiệp;
-Các tiền phạt, tịch thu;
-Các khoản thu khác theo pháp luật quy định;
11
-Các khoản viện trợ không hoàn lại bằng tiền, bằng hiện vật của chính
phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài;
-Các khoản vay trong nước, vay nước ngoài của chính phủ để bù đắp bội
chi và khoản huy động vốn đấu tư trong nước của tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương;
Thu NSNN được thực hiện bằng nhiều phương thức huy động, như:
-Phương thức huy động bắt buộc dưới hình thức thuế, phí và lệ phí.
-Phương thức huy động tự nguyện dưới hình thức tín dụng của Nhà nước.
+Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không
có khả năng thu hồi vốn;
+Đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp Nhà nước, góp vốn cổ phần liên
doanh vào các xí nghiệp thuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước
theo quy định của Pháp luật;
+Chi cho quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia và các quỹ hỗ trợ phát triển đối với
chương trình, dự án phát triển kinh tế;
+Bổ sung dự trữ Nhà nước;
+Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật;
-Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính.
2.1.6. Nguyên tắc quản lý ngân sách nhà nước.
Ngân sách nhà nước ta được quản lý theo các nguyên tắc sau:
2.1.6.1. Nguyên tắc đầy đủ, trọn vẹn.
Nguyên tắc quản lý ngân sách quan trọng nhất đó là quản lý phải đầy đủ,
toàn diện và trọn vẹn. Mọi khoản thu, mọi khoản chi phải được ghi đầy đủ vào
kế hoạch ngân sách nhà nước. Chỉ có kế hoạch ngân sách đầy đủ trọn vẹn mới
phản ánh đúng mục đích chính sách và tính công minh của các khoản thu, chi;
mọi khoản thu chi ngân sách phải được vào sổ sách kế toàn và được quyết toán
rành mạch. Cũng theo nguyên tắc này, mọi khoản chi chỉ có hiệu lực thi hành
13
khi có trong dự toán được cấp có thẩm quyền phê chuẩn và phải chi đúng mục
đích. Những khoản chi ngoài hoặc vượt dự toán phải được xử lý theo đúng quy
định của pháp luật.
Nguyên tắc này nghiêm cấm các cấp, các tổ chức nhà nước lập và sử
dụng quỹ đen. Điều này có nghĩa rằng, mọi khoản thu chi ngân sách nhà nước
đều phải đưa vào kế hoạch ngân sách để Quốc hội phê chuẩn.
2 1.6.2. Nguyên tắc thống nhất.
Nguyên tắc này đòi hỏi tất cả các khoản thu ( bất luận từ đầu tới ), khoản
chi ( bất luận lấy từ khoản chi nào ) của một cấp hành chính đều phải đưa vào
một kế hoạch ngân sách thống nhất theo một thể chế chính sách thống nhất. Một
15
Hệ thống NSNN
NSTW NSĐP
NS Tỉnh NS XãNS Huyện
Hệ thống ngân sách nhà nước được hiểu là tổng thể các cấp ngân sách có
mối quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thu, chi của
mỗi cấp ngân sách.
Ở nước ta, tổ chức hệ thống ngân sách nhà nước gắn bó chặt chẽ với việc
tổ chức bộ máy nhà nước và vai trò, vị trí của bộ máy đó trong quá trình phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Cấp ngân sách được hình thành trên cơ sở cấp chính quyền Nhà nước.
Nhưng để có một cấp ngân sách thì phải có một cấp chính quyền với những
nhiệm vụ toàn diện, đồng thời phải có khả năng nhất định về nguồn thu trên
vùng lãnh thổ mà cấp chính quyền đó quản lý.
Hệ thống ngân sách nhà nước bao gồm: Ngân sách Trung ương và ngân
sách các cấp chính quyền địa phương ( ngân sách địa phương ), bao gồm: ngân
sách cấp tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương ( gọi chung là ngân sách cấp
tỉnh ); Ngân sách cấp huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh ( gọi chung là ngân
sách cấp huyện); Ngân sách cấp xã, phường, thị trấn ( gọi chung là ngân sách
cấp xã ).
Ngân sách Trung ương phản ánh nhiệm vụ thu, chi theo ngành và giữ vai
trò chủ đạo trong hệ thống ngân sách nhà nước. Ngân sách trung ương cấp phát
kinh phí cho yêu cầu thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Trung
ương và là trung tâm điều hoà hoạt động ngân sách của các địa phương. Ngân
sách cấp tỉnh phản ánh nhiệm vụ thu, chi theo lãnh thổ, đảm bảo thực hiện
nhiệm vụ tổ chức quản lý toàn diện kinh tế, xã hội của chính quyền cấp tỉnh trên
địa bàn toàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do cấp chính quyền đó quản
lý.
Ngân sách cấp huyện là một bộ phận của ngân sách địa phương bao gồm
ngân sách huyện + Ngân sách cấp xã. Ngân sách cấp huyện do uỷ ban nhân dân
17
Bốn là, Không được dùng ngân sách cấp này chi cho nhiệm vụ của cấp
khác (ngoài việc bổ sung nguồn thu và uỷ quyền thực hiện nhiệm vụ chi nói
trên ), trừ trường hợp đặc biệt theo quy định của Chính phủ.
Năm là, Khi cấp chính quyền nào xây dựng chính sách làm tăng nhiệm
vụ chi thì cấp đó phair bố trí nguồn cân đối cho ngân sách cấp dưới.
2.2.2. Sự cần thiết của quản lý chi NSNN.
Ngân sách nhà nước được phân cấp quản lý giữa Chính phủ và các cấp
chính quyền địa phương là một tất yếu khách quan khi tổ chức hệ thống ngân
sách nhà nước gồm nhiều cấp. Mỗi cấp chính quyền đều có nhiệm vụ cần đảm
bảo bằng những nguồn tài chính nhất định mà các nhiệm vụ đó mỗi cấp trực
tiếp đề xuất và bố trí chi tiêu sẽ có hiệu quả cao hơn là sự áp đặt từ trên xuống.
Mặt khác, xét về yếu tố lịch sử và điều kiện thực tế hiện nay, trong khi chống tư
tưởng địa phương, cục bộ vẫn cần có chính sách và biện pháp khuyến khích
chính quyền các địa phương phát huy tính độc lập, tự chủ, tính chủ động, sáng
tạo của địa phương mình trong phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.
Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước là xác định phạm vi trách nhiệm và
quyền hạn của chính quyền nhà nước các cấp trong việc quản lý, điều hành thực
hiện nhiệm vụ thu, chi của ngân sách. Phân cấp quản lý ngân sách là cách tốt
nhất để gắn các hoạt động của ngân sách nhà nước với các hoạt động kinh tế -
xã hội một cách cụ thể và thực sự nhằm tập trung đầy đủ, kịp thời, đúng chính
sách chế độ các nguồn tài chính quốc gia và phân phối, sử dụng chúng công
bằng, hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả cao phục vụ các mục tiêu, nhiệm vụ phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước. Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước dúng
đắn và hợp lý không chỉ đảm bảo phương tiện tài chính cho việc duy trì, phát
triển hoạt động của các cấp chính quyền nhà nước từ Trung ương đến các địa
phương mà còn tạo điều kiện phát huy được các lợi thế nhiều mặt của từng
vùng, từng địa phương trong cả nước. Nó cho phép quản lý và kế hoạch hoá
ngân sách nhà nước được tốt hơn, điều chỉnh mối quan hệ giữa các cấp chính
18
chính trị, văn hoá, xã hội của tỉnh Bắc Ninh).
20
Trung tâm huyện cách thành phố Bắc Ninh 15 km về phía Bắc, cách
Thủ đô Hà Nội 25 km theo hướng Tây Nam. Thuận Thành có 3 tuyến đường
tỉnh lộ đi qua: tỉnh lộ 280 tuyến Cẩm Giàng - Hồ, tỉnh lộ 282 tuyến Keo - Cao
Đức, tỉnh lộ 283 tuyến Hồ - Song Liễu; có sông Đuống nằm ở phía Bắc huyện,
cùng mạng lưới giao thông liên huyện, liên xã, liên thôn khá phát triển. Thuận
Thành có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc giao lưu kinh tế, văn hoá, xã hội,
tiếp thu các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến và khả năng thu hút vốn
đầu tư của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh cũng như việc thúc đẩy
phát triển một nền kinh tế đa dạng; nông nghiệp, dịch vụ thương mại, công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp.
- Địa chất, địa hình
Đặc điểm địa chất huyện Thuận Thành nói chung mang những nét đặc
trưng của cấu trúc địa chất thuộc sụt trũng của vùng sông Hồng, bề dầy trầm
tích đê tứ chịu ảnh hưởng rõ rệt của cấu trúc mỏng. Tuy nhiên, nằm trong miền
kiến tạo Đông Bắc, Bắc Bộ nên cấu trúc địa chất có những nét còn mang tính
chất của vòng cung Đông Triều vùng Đông Bắc.
Nằm giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ nên địa hình chung toàn huyện khá
bằng phẳng, thuận lợi cho việc xây dựng hệ thống kênh mương tưới, tiêu phát
triển sản xuất nông nghiệp, cũng như xây dựng hệ thống đường sá phục vụ cho
dân sinh và lưu thông hàng hóa giũa các xã, thị trấn trên địa bàn huyện và các
khu vực lân cận.
3.1.1.2 Thời tiết khí hậu
Huyện Thuận Thành thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông
lạnh. Nhiệt độ trung bình năm 23,30C, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất
28,90C (tháng 7), nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 15,80C (tháng 2). Sự
chênh lệnh nhiệt độ giữa tháng cao nhất và tháng thấp nhất là 13,10C.
Lượng mưa trung bình hàng năm dao động trong khoảng 1.400 - 1.600
mm nhưng phân bố không đều trong năm. Mưa tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến
+ Xã
+ Phường, thị trấn
Huyện,
thị xã,
thành phố
Xã
Thị trấn
8
2
8
126
100
26
1
0
0
18
17
1
2 Tổng diện tích đất tự nhiên
( 31/12/2011 )
ha 82.271,1 11.791,0
+ Đất nông nghiệp
+ Đất lâm nghiệp có rừng
+ Đất nuôi trồng thủy sản
ha
ha
ha
42.941,6
625,3
- Tài nguyên đất
Đất là tài nguyên tự nhiên vô cùng quý giá, không thể tái tạo được và bị
giới hạn về mặt không gian. Muốn có một phương án quy hoạch sử dụng đất hợp
lý, trước hết phải nắm vững tài nguyên đất cả về số lượng và chất lượng.
Theo kết quả điều tra xây dựng bản đồ thổ nhưỡng huyện Thuận Thành
tỷ lệ 1/10.000, toàn huyện có 4 nhóm đất: Nhóm đất phù sa; nhóm đất Glây,
nhóm đất xám và nhóm đất loang lổ.
- Tài nguyên nước
Thuận Thành có nguồn nước mặt tương đối dồi dào bao gồm sông
Đuống, sông Liễu Khê, sông Dâu, sông Nguyệt Đức, sông Đông Côi, sông Bùi.
Sông Đuống là nguồn nước mặt chủ yếu của huyện Thuận Thành và là ranh giới
với huyện Quế Võ và huyện Tiên Du. Đoạn sông Đuống chảy qua phía Bắc
huyện Thuận Thành từ xã Đình Tổ đến xã Hoài Thượng rồi chảy sang huyện
Gia Bình dài khoảng 15km. Sông Đuống nối liền với sông Hồng và sông Thái
Bình có tổng trữ lượng nước 31,6 tỷ m3 (gấp 3 lần tổng lượng nước của sông
Cầu, sông Thương và sông Lục Nam). Sông Đuống có hàm lượng phù sa nhiều,
vào mùa mưa trung bình cứ 1m
3
nước có 2,8 kg phù sa. Lượng phù sa khá lớn
này đã đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành đồng bằng phù sa
23
màu mỡ ven sông của huyện. Đây cũng là con sông cung cấp nguồn nước tưới
cho hệ thống thuỷ nông Gia Thuận để tưới cho phần lớn diện tích lúa nước
trong toàn huyện.
Hệ thống sông ngòi, kênh mương cùng với số lượng ao hồ dày đặc tạo
điều kiện thuận lợi cung cấp nước ngọt quanh năm cho sản xuất, cũng như cải
tạo đất.
Thuận Thành còn có nguồn nước ngầm, nhưng chưa có điều kiện thăm
dò, khảo sát đầy đủ. Qua thực tế sử dụng của các hộ trong huyện cho thấy mực
nước ngầm có độ sâu trung bình từ 3 - 6m, chất lượng nước tốt, có thể khai thác
cộng đồng, Thuận Thành có hệ thống trường phổ thông trung học, trung học cơ
sở và tiểu học được đầu tư xây dựng khá kiên cố, đáp ứng cơ bản việc dạy và
học. Trong huyện có 18/18 xã và thị trấn đã có trường học cao tầng. Tuy nhiên,
trường học mầm non hầu hết đang còn là nhà tạm, một phần bán kiên cố chưa
đủ tiêu chuẩn.
Toàn huyện có 1 bệnh viện và 1 phòng khám đa khoa khu vực cùng
18 trạm y tế xã, thị 100% nhà bán kiên cố. Tất cả các xã trong huyện đều đạt
tiêu chuẩn y tế cơ sở.
Với những điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội như trên, Thuận Thành có
nhiều lợi thế cho phát triển KTNT như phát huy tiềm năng đất đai và khí hậu để
phát triển nông nghiệp; có lợi thế gần Thủ đô Hà Nội là một thị trường lớn, lợi
thế của một địa phương nằm trong tam giác tăng trưởng kinh tế, có nhiều tiềm
năng về phát huy các yếu tố truyền thống làng nghề nổi tiếng, hiếu học, cần cù
sáng tạo của người dân trong lao động sản xuất.
Tuy nhiên, điều kiện của Thuận Thành còn có những bất cập như: hệ
thống kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ, mật độ dân cư cao, tâm lý tập quán có
nhiều yếu tố lạc hậu, bảo thủ. Những hạn chế trên là lực cản không nhỏ đối với
quá trình phát triển KTNT trên địa bàn.
3.1.2.2 Dân số và lao động
25