Nâng cao hiệu quả quản lý thu NSNN tại Sở Tài Chính TP Cần Thơ năm 2009
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Ngày nay, xu thế phát triển theo hướng cơ chế thị trường cùng với sự hội nhập
vào nền kinh tế thế giới. Việt Nam đã từng bước tiếp cận với những tiến bộ, những
kinh nghiệm quản lý để bổ sung và ngày càng hoàn thiện cơ chế quản lý của mình.
Chủ động phát huy tiềm năng của quốc gia về kinh tế, chính trị, văn hóa, quân sự.
Dưới sự quản lý của Nhà nước nền kinh tế đã có được những thành công nhất định,
kinh tế có nhiều thuận lợi rất căn bản, trước hết là sự ổn định về chính trị, xã hội và ổn
định kinh tế vĩ mô. Những đổi mới của Đảng, Quốc Hội và Chính Phủ có ý nghĩa rất
quan trọng đến việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả của bộ máy quản lý Nhà nước.
Tuy nhiên, việc quản lý ngân sách ở nước ta hiện nay vẫn còn nhiều bất cập và
hạn chế. Vậy làm thế nào để thực hiện đảm bảo và duy trì NSNN tránh được tình
trạng tham nhũng, tiêu cực? Đây là một câu hỏi lớn mà các nhà quản lý - giám sát rất
nan giải vì vẫn chưa thể giải quyết triệt để được vấn đề trên, dù Nhà nước đã đưa ra
nhiều biện pháp nhưng xem ra vẫn chưa mấy hiệu quả, kết quả không như mong
muốn. Xã hội càng văn minh, các công cụ quản lý - giám sát càng tiến bộ thì thủ đoạn
của những kẻ xấu càng tinh vi hơn.
Xuất phát từ thực tế trên có thể thấy rõ vai trò quan trọng của việc quản lý
NSNN, đây là vấn đề mang tính chất sống còn của một quốc qia. Ở nước ta quản lý tốt
NSNN không chỉ tạo tiền đề phát triển kinh tế, xã hội mà còn góp phần thực hiện có
hiệu quả công cuộc đấu tranh chống tham nhũng đang diễn ra quyết liệt hiện nay.
Nhận thức được tầm quan trọng của NSNN đối với sự phát triển của đất nước
nói chung và TP Cần Thơ nói riêng em đã tìm hiểu và quyết định chọn đề tài “Nâng
cao hiệu quả quản lý thu NSNN tại Sở Tài Chính TP Cần Thơ năm 2009” để làm
báo cáo tốt nghiệp của .
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu về tình hình thu NSNN, tiến hành nghiên cứu, phân tích, đánh giá,
trình bày kết quả tìm hiểu được nhằm đạt được những mục đích sau:
GVHD: Nguyễn Thành Long SVTH: Nguyễn Thị Quỳnh Như
Phương pháp định tính: dùng lý luận để phân tích, nhận xét, đánh giá.
Phương pháp định lượng:
GVHD: Nguyễn Thành Long SVTH: Nguyễn Thị Quỳnh Như
2
Nâng cao hiệu quả quản lý thu NSNN tại Sở Tài Chính TP Cần Thơ năm 2009
• Tổng hợp, thống kê, phân tích số liệu.
• Tham khảo các thông tin, tài liệu có liên quan.
• Số tương đối, số tuyệt đối, dãy số thời gian.
Phương pháp so sánh: so sánh trong phân tích là đối chiếu các đối tượng,
các chỉ tiêu đã được lượng hóa.
Phương pháp mô tả thông qua biểu đồ, đồ thị.
6. Kết cấu nội dung:
Nội dung báo cáo gồm 3 chương:
- Chương I: Tổng quan về quản lý thu Ngân sách Nhà nước.
- Chương II: Thực trạng về quản lý thu trên địa bàn TP Cần Thơ năm 2009.
- Chương III: Những giải pháp quản lý thu NSNN trên địa bàn TP Cần Thơ.
GVHD: Nguyễn Thành Long SVTH: Nguyễn Thị Quỳnh Như
3
Nâng cao hiệu quả quản lý thu NSNN tại Sở Tài Chính TP Cần Thơ năm 2009
PHẦN NỘI DUNG
Chương I: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ
THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1. Cơ sở lý luận về quản lý thu Ngân sách Nhà nước
1.1.1. Khái niệm về NSNN
Một số quan niệm về NSNN:
Khái niệm về NSNN hiện nay còn có nhiều ý kiến khác nhau. Thuật ngữ ngân
sách (Budget) bắt nguồn từ tiếng Anh, ý nghĩa là cái ví, cái xắc. Tuy nhiên trong đời
sống kinh tế, thuật ngữ này đã thoát ly ý nghĩa ban đầu và mang nội dung hoàn toàn
mới. Khái niệm Ngân sách theo các quan điểm khác nhau như:
NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực
hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Do vậy, NSNN đòi hỏi phải được thực hiện bằng luật pháp, cụ thể:
- Về thu phải được thực hiện theo các luật thuế, các pháp lệnh về thuế, các văn
bản pháp quy về thu NSNN…của cơ quan có thẩm quyền ban hành.
- Về chi phải thực hiện theo dự toán, kế hoạch, tiêu chuẩn, định mức, hạn mức,
khoán chi…và theo qui định của các văn bản pháp quy do các cơ quan thẩm quyền ban
hành.
NSNN ở nước ta là ngân sách của dân, do dân và vì dân. Vì vậy, NSNN phải
được thực hiện bằng luật pháp. Điều này, giúp cho NSNN được quản lý chặt chẽ theo
những chuẩn mực nhất định, tránh được sự chủ quan, tùy tiện, lãng phí…của những tổ
chức, cá nhân trực tiếp, điều hành ngân sách.
1.1.2. Tính chất của NSNN
1.1.2.1. NSNN ta là ngân sách sản xuất (mang tính chất sản xuất)
Xuất phát từ NSNN ở nước ta có kết cấu tỷ trọng nguồn thu NSNN từ lĩnh vực
sản xuất và nhiệm vụ chi NSNN cho lĩnh vực sản xuất chiếm tỷ trọng chủ yếu trong
tổng thể NSNN và việc Nhà nước đặt biệt quan tâm đến đầu tư phát triển nền sản xuất
GVHD: Nguyễn Thành Long SVTH: Nguyễn Thị Quỳnh Như
5
Nâng cao hiệu quả quản lý thu NSNN tại Sở Tài Chính TP Cần Thơ năm 2009
xã hội hiện nay là cần thiết, phổ biến. Vì vậy, NSNN của nước ta hiện nay mang tính
chất sản xuất.
1.1.2.2. NSNN ta là ngân sách thống nhất
NSNN ở nước ta là 1 thể thống nhất từ trung ương đến địa phương (chỉ phân
cấp để quản lý), duy nhất chỉ có một NSNN và được quản lý thống nhất từ chủ trương,
đường lối, chính sách, luật pháp cho đến những chế độ định chế tài chính, mục lục
NSNN, chế độ hạch toán đều phải thống nhất…nên NSNN ta mang tính thống nhất rất
cao.
1.1.2.3. NSNN ta là ngân sách quần chúng
1.1.3. Chức năng của NSNN
NSNN có 4 chức năng chủ yếu sau: Chức năng tổ chức vốn, Chức năng phân
phối, Chức năng giám đốc, Chức năng điều chỉnh quá trình kinh tế. Do NSNN là một
bộ phận rất quan trọng trong hệ thống tài chính và đóng vai trò chủ đạo trong hệ thống
tài chính quốc qia. Vì vậy, NSNN cũng có đầy đủ hai chức năng của tài chính là chức
năng phân phối và chức năng giám đốc.
Chức năng phân phối của NSNN: thể hiện qua quá trình phân phối tổng sản
phẩm xã hội để hình thành quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước và đảm bảo các
nhu cầu chi tiêu theo dự toán của Nhà nước. Chức năng phân phối của NSNN thể hiện
đầy đủ cả quá trình phân phối lần đầu và phân phối lại mà chủ thể phân phối là Nhà
nước, nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng quản lý và điều hành nền kinh tế - xã
hội của Nhà nước. Quá trình phân phối lần đầu của NSNN là quá trình Nhà nước huy
động các nguồn lực tài chính từ xã hội để hình thành NSNN, cũng chính là quá trình
thu NSNN. Quá trình phân phối lại của NSNN là quá trình Nhà nước sử dụng NSNN
nhằm đảm bảo các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, cũng chính là quá trình chi Ngân
sách Nhà nước phục vụ cho việc quản lý và điều hành nền kinh tế - xã hội của Nhà
nước.
Chức năng giám đốc (kiểm tra) của NSNN: thể hiện qua việc Nhà nước
thực hiện chức năng giám đốc bằng đồng tiền đối với mọi hoạt động trong nền kinh tế.
Quá trình huy động và sử dụng NSNN phải được thực hiện bằng luật pháp, vì vậy phải
được theo dõi, quản lý, giám sát, kiểm tra chặt chẽ bằng đồng tiền theo những định
chế, chuẩn mực đã được Nhà nước quy định. Chức năng giám đốc của NSNN hình
thành trong quá trình Nhà nước huy động, tập trung, phân phối và sử dụng nguồn vốn
NSNN. Nhà nước thực hiện sự giám sát hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế -
GVHD: Nguyễn Thành Long SVTH: Nguyễn Thị Quỳnh Như
7
Nâng cao hiệu quả quản lý thu NSNN tại Sở Tài Chính TP Cần Thơ năm 2009
xã hội thông qua các khoản thu, chi NSNN bằng tiền. Thông qua chức năng giám đốc,
Nhà nước tác động vào quá trình quản lý vĩ mô nền kinh tế xã hội. Chức năng giám
đốc của NSNN giúp cho hiệu quả thực hiện NSNN được tốt hơn.
ngoài, đầu tư mạo hiểm, quan hệ hữu hảo với các nước).
- Bảo đảm các nhu cầu chi tiêu để phát triển kinh tế - xã hội phục vụ quá trình
công nghệ hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Điều hòa các nguồn vốn giữa các vùng và các ngành kinh tế.
- Tài trợ đối với các tổ chức kinh tế.
Mặt khác, NSNN là công cụ quan trọng của Nhà nước và nền kinh tế thị trường
cần thiết phải có sự điều chỉnh vĩ mô từ phía Nhà nước. Vì vậy, NSNN có vai trò là
công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội theo định hướng của Nhà nước. Có thể
khái quát vai trò của NSNN trong các lĩnh vực về kinh tế - xã hội, thị trường như sau:
Về mặt kinh tế: NSNN phải là công cụ đắc lực của Nhà nước trong việc định
hướng, điều chỉnh hình thành cơ cấu kinh tế ngày càng hợp lý, hiệu quả hơn NSNN
góp phần quan trọng trong việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng tạo động lực phát triển
kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi phát triển sản xuất kinh doanh của nền
kinh tế nhiều thành phần, giữ cho nền kinh tế cạnh tranh lành mạnh, tích cực chống
độc quyền, đầu cơ. Đồng thời, khắc phục những khuyết tật của cơ chế thị trường và hổ
trợ cho sự phát triển của các thành phần kinh tế trong những trường hợp cần thiết.
Về mặt xã hội: NSNN là công cụ đắc lực của Nhà nước trong việc giải quyết
tất cả các vấn đề mặt xã hội như điều tiết thu nhập của người thu nhập cao, thông qua
quá trình phân phối và phân phối lại của NSNN để người có thu nhập thấp cũng được
hưởng lợi, hạn chế tốc độ phân hóa giàu nghèo trong xã hội, hướng dẫn tiêu dùng của
xã hội, giải quyết các nhu cầu chính sách xã hội về phổ cập giáo dục, sức khỏe cộng
đồng, đời sống tinh thần, lao động tiền lương, đền ơn đáp nghĩa, xóa đói giảm nghèo,
chống tiêu cực, tệ nạn xã hội…Tạo môi trường xã hội lành mạnh đậm đà bản sắc dân
tộc và văn minh.
Về mặt thị trường: NSNN có vai trò rất quan trọng trong việc bình ổn giá cả
thị trường theo hướng tích cực, chống lạm phát tiêu cực, tạo môi trường cạnh tranh
bình đẳng giữa các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường, tạo điều kiện tiền
đề phát triển thị trường, cũng như tham gia điều tiết, điều chỉnh những mặt tiêu cực
của thị trường. Thúc đẩy sự phát triển mối quan hệ hàng - tiền trong nước và quốc tế.
GVHD: Nguyễn Thành Long SVTH: Nguyễn Thị Quỳnh Như
NSNN đều phải được phản ánh tập trung đầy đủ và trọn vẹn vào NSNN. Tất cả các cơ
GVHD: Nguyễn Thành Long SVTH: Nguyễn Thị Quỳnh Như
10
Nâng cao hiệu quả quản lý thu NSNN tại Sở Tài Chính TP Cần Thơ năm 2009
quan, đơn vị khi thực hiện nhiệm vụ nhà nước giao, nếu phát sinh các khoản thu và chi
liên quan đến các hoạt động của mình thì đều phải đặt trong hệ thống NSNN.
Nguyên tắc thống nhất của NSNN còn thể hiện ở việc ban hành hệ thống chế độ
thu, chi và các tiêu chuẩn định mức thống nhất trong toàn quốc. Mọi hoạt động thu, chi
ngân sách phục vụ cho các hoạt động chức năng của Nhà nước đều phải thực hiện
những quy định, chuẩn mực và thủ tục thống nhất chung do cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền quyết định. Ngoài ra không đơn vị, cá nhân nào được tự ý đặt ra những
chế độ, định mức thu chi khác với những quy định chung của Nhà nước. Các quy định
về trình tự, nội dung, thời gian lập, phê duyệt, chấp hành và quyết toán NSNN cũng
phải được quy định nghiêm ngặt, rõ ràng và thống nhất trong toàn quốc.
NSNN chỉ tồn tại một hệ thống Ngân sách thống nhất của Nhà nước. Yêu cầu
của nguyên tắc này là trong một quốc gia chỉ có một NSNN thống nhất. Việc hình
thành nhiều cấp NSNN từ trung ương đến địa phương để phân cấp quản lý, và các cấp
Ngân sách này là một khâu, một bộ phận trong tổng thể NSNN.
Nguyên tắc tập trung, dân chủ: thể hiện qua 2 mặt
Về mặt tập trung: được biểu hiện là hầu hết, phần lớn NSNN tập trung ở
NSTW nhằm giải quyết những vấn đề lớn về kinh tế - xã hội của đất nước. Mặt khác,
ngân sách cấp dưới phải chịu sự chỉ đạo của ngân sách cấp trên và ngân sách cấp trên
có quyền kiểm tra, quản lý, giám sát từ khâu lập, chấp hành dự toán và quyết toán của
ngân sách cấp dưới trong việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng
và Nhà nước, cũng như việc chấp hành các chế độ quy định của Nhà nước.
Về mặt dân chủ: thể hiện qua mỗi cấp chính quyền nhà nước có một ngân
sách theo phân cấp quản lý, có quyền quyết định ngân sách cấp mình trong việc thực
hiện chức năng nhiệm vụ của chính quyền cấp mình một cách tự chủ, độc lập, phát
huy tính năng động sáng tạo của cấp mình trong việc thực hiện chủ trương, đường lối
chính sách của Đảng. Nhà nước và nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của cấp mình,
trung ương
quản lý
NSTW
NS XÃ (#)
KHTC của các
đơn vị thuộc
tỉnh quản lý
KHTC của các
đơn vị thuộc
huyện quản lý
KHTC của các
đơn vị thuộc xã
quản lý
NS HUYỆN (#)
NS TỈNH (#)
Nâng cao hiệu quả quản lý thu NSNN tại Sở Tài Chính TP Cần Thơ năm 2009
Qua xem xét trên cho thấy, thực chất việc tổ chức hệ thống NSNN ở nước ta
hiện nay được chia thành 4 cấp ngân sách trong quản lý bao gồm: NSTW, Ngân sách
Tỉnh, Ngân sách Huyện và Ngân sách Xã. Trong đó:
- NSTW tổng hợp kế hoạch, dự toán tài chính của các Bộ, Ngành thuộc Trung
ương quản lý.
- Ngân sách Tỉnh tổng hợp kế hoạch, dự toán tài chính của các Sở, Ngành, đơn
vị thuộc Tỉnh quản lý.
- Ngân sách Huyện tổng hợp kế hoạch, dự toán tài chính của các Phòng, Ban,
Ngành, đơn vị, thuộc Huyện quản lý.
- Ngân sách Xã tổng hợp kế hoạch, dự toán tài chính của các Ban, Ngành, đơn
vị, bộ phận thuộc Xã quản lý.
- NSĐP tổng hợp kế hoạch, dự toán tài chính của ngân sách Tỉnh, ngân sách
Huyện và ngân sách Xã.
- NSNN tổng hợp kế hoạch, dự toán tài chính của NSTW và NSĐP.
Thuế sử dụng đất nông nghiệp;
Tiền sử dung đất;
Tiền cho thuê đất, thuê mặt nước, không kể tiền thuê mặt nước thu từ hoạt
động dầu, khí;
Tiền đền bù thiệt hại đất;
Tiền cho thuê và bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước;
Lệ phí trước bạ;
Thu từ hoạt động xổ số kiến thiết;
Thu nhập từ vốn góp của NSĐP, tiền thu hồi vốn của NSĐP tại các cơ sở
kinh tế, thu thanh lý tài sản và các khoản thu khác của doanh nghiệp nhà nước do địa
phương quản lý, phần nộp ngân sách theo quy định của pháp luật; thu từ quỹ dự trữ tài
chính cấp Tỉnh theo quy định của Chính phủ;
Các khoản phí, lệ phí, phần nộp ngân sách theo quy định của pháp luật do
các cơ quan, đơn vị thuộc địa phương tổ chức thu, không kể phí xăng, dầu và lệ phí
trước bạ;
Thu từ quỹ đất công ích và thu hoa lợi công sản khác;
Thu sự nghiệp, phần nộp ngân sách theo quy định của pháp luật của các đơn
vị do địa phương quản lý;
GVHD: Nguyễn Thành Long SVTH: Nguyễn Thị Quỳnh Như
14
Nâng cao hiệu quả quản lý thu NSNN tại Sở Tài Chính TP Cần Thơ năm 2009
Huy động từ các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng các công trình kết cấu
hạ tầng theo quy định của pháp luật;
Đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước;
Thu từ huy động đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng theo quy
định của Luật Ngân sách nhà nước;
Thu từ các khoản tiền phạt, tịch thu theo quy định của pháp luật;
Thu kết dư NSĐP;
Các khoản thu khác của NSĐP theo quy định của pháp luật;
Thu bổ sung từ ngân sách cấp trên;
chất cưỡng bức.
- Thể hiện tỷ suất thu hoặc mức thu đối với các hoạt động tài chính trong xã
hội.
- Có đối tượng phát sinh nguồn thu và đối tượng thu nộp.
Vai trò:
Qua khái niệm và đặc điểm của thu NSNN ta có thể xác định vai trò của thu
NSNN có các vai trò chủ yếu sau:
- Nhà nước huy động các nguồn tài chính từ xã hội đưa vào NSNN để đảm bảo
nhu cầu chi tiêu cho bộ máy Nhà nước và thực hiện chức năng của Nhà nước.
- Là một trong những công cụ quan trọng của Nhà nước được sử dụng để điều
chỉnh, điều tiết vĩ mô nền kinh tế xã hội, giải quyết các mối quan hệ giữa Nhà nước và
các tổ chức cá nhân, giữa tích lũy và tiêu dùng, giữa vốn tiền tệ tập trung và không tập
trung trong xã hội.
- Thu NSNN phải góp phần vào kích thích phát triển kinh tế xã hội, khai thác
khả năng tiềm tàng của nền kinh tế xã hội.
1.1.7.2. Nguồn thu, các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn thu và giải pháp tăng
thu NSNN
Nguồn thu NSNN
a. Khái niệm:
Nguồn thu NSNN có thể được hiểu là Nhà nước huy động các nguồn tài chính
cụ thể của từng đối tượng trong nền kinh tế xã hội.
Nguồn thu NSNN là bao gồm tất cả các khoản thu NSNN theo quy định của
pháp luật, có cụ thể phân định nguồn thu giữa các cấp ngân sách.
GVHD: Nguyễn Thành Long SVTH: Nguyễn Thị Quỳnh Như
16
Nâng cao hiệu quả quản lý thu NSNN tại Sở Tài Chính TP Cần Thơ năm 2009
Các nguồn thu của NSNN bao gồm:
- Các khoản thu theo quy định của luật thuế (sắc thuế);
- Các khoản thu được coi như thuế theo quy định của pháp lệnh;
- Các khoản thu phí, lệ phí theo quy định của các cơ quan có thẩm quyền;
Là nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu NSNN thông qua phương
pháp tính toán để thu nộp vào NSNN, nếu tăng tỷ suất thu hoặc mức thu cao thì sẽ thu
nộp vào NSNN nhiều và ngược lại.
Mặt khác phải xem xét tỷ suất thu hoặc mức thu có hợp lý hay không? Nếu hợp
lý nguồn thu NSNN nhiều và ổn định; nếu bất hợp lý nguồn thu NSNN ít và không ổn
định. Vấn đề này mang tầm chiến lược về thu NSNN.
c. Hình thức và biện pháp thu NSNN
Là nhân tố có ảnh hưởng đến nguồn thu NSNN thể hiện qua thủ tục, phương
tiện, điều kiện, cách làm có hợp lý hay không? Dẫn đến nguồn thu NSNN tốt hay xấu,
nhiều hay ít.
d. Tổ chức quản lý thu NSNN
Là nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng đến nguồn thu NSNN đòi hỏi phải có qui
trình thu NSNN từ khâu ra thông báo, xử lý tính thuế, đến khâu thu nộp vào NSNN
phải được tổ chức quản lý chặt chẽ hợp lý, tránh thất thu, trốn thuế, lậu thuế, tiêu cực
về thuế…mới đảm bảo cho nguồn thu NSNN kịp thời và đầy đủ.
e. Chính sách thu NSNN
Chính sách thu NSNN là nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu NSNN.
Vì chính sách thu NSNN cụ thể hóa chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và
Nhà nước trong lĩnh vực thu NSNN chi phối trực tiếp đến nguồn thu, tùy theo định
hướng ưu đãi, miễn giảm, khuyến khích hay hạn chế góp phần xây dựng cơ cấu kinh tế
xã hội ngày càng hợp lý và hoàn thiện hơn.
f. Chính sách chi NSNN
Là nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến nguồn thu NSNN vì chi
NSNN và thu NSNN có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại nằm trong mối quan
hệ biện chứng đã được xem xét trong vai trò của NSNN. Giữa chi NSNN và thu
NSNN phải đặt trong mối quan hệ cân đối NSNN đảm bảo tích cực, hiệu quả. Vì vậy,
thu NSNN không thể tách rời chi NSNN.
GVHD: Nguyễn Thành Long SVTH: Nguyễn Thị Quỳnh Như
18
Nâng cao hiệu quả quản lý thu NSNN tại Sở Tài Chính TP Cần Thơ năm 2009
Nâng cao hiệu quả quản lý thu NSNN tại Sở Tài Chính TP Cần Thơ năm 2009
- Thu nhập bình quân đầu người: Khi xây dựng chính sách thu NSNN chúng
ta phải xem xét thu nhập bình quân đầu người của quốc gia trong một khoản thời gian
nhất định thường là 1 năm.
+ Nếu thu nhập bình quân đầu người cao thì có thể xây dựng tỷ suất thu cao
mà không ảnh hưởng đến đời sống người dân, đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước
trong việc thực hiện chức năng của mình.
+ Nếu thu nhập bình quân đầu người thấp không thể động viên vào ngân sách
với một tỷ suất thu cao, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân, ảnh hưởng đến
phát triển kinh tế đất nước và dẫn đến nhu cầu chi NSNN quá lớn không hiệu quả có
thể dẫn đến mất cân đối ngân sách lâu dài.
Vì vậy, phải xem xét thu nhập bình quân đầu người và xác định tỷ suất thu
không phù hợp, thông thường dựa vào số liệu thống kê và kinh nghiệm thực tiễn của
các nước trên thế giới để có định hướng xây dựng chính sách thu phù hợp hơn.
- Khai thác tài nguyên khoáng sản: Khi xây dựng chính sách thu NSNN
chúng ta phải xem xét đến khả năng, tiềm năng về tài nguyên khoáng sản của quốc gia
và khả năng khai thác tài nguyên khoáng sản của quốc gia được coi là nguồn thu rất
quan trọng của NSNN.
Nếu tài nguyên khoáng sản của quốc gia được khai thác nhiều và ổn định thì tỷ
suất thu động viên vào NSNN phải xây dựng thấp cho những nguồn thu ngoài nguồn
thu khai thác tài nguyên và ngược lại.
- Xu hướng phát triển kinh tế xã hội: Khi xây dựng chính sách thu NSNN
phải bám sát xu hướng phát triển kinh tế xã hội của đất nước theo chủ trương, đường
lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất
nước, của từng địa phương để cụ thể hóa chính sách thu cho phù hợp.
Đối với ngành, lĩnh vực, địa phương… khuyến khích phát triển kinh tế xã hội
thì xây dựng tỷ suất thu thấp và ngược lại.
- Tổ chức quản lý thu NSNN: Khi xây dựng chính sách thu NSNN phải xem
xét đến khâu tổ chức quản lý thu NSNN, nhằm ngày càng hoàn thiện quy trình tổ chức
quản lý thu NSNN, hạn chế thất thu NSNN và xem xét tỷ suất thu cho phù hợp trong
của các cơ quan có thẩm quyền, khi triển khai thực hiện phải thống nhất từ Trung
ương đến địa phương. Các cấp chính quyền Nhà nước không được tự ý sửa đổi, bổ
sung chính sách thu NSNN cũng như không được ban hành quy định về thu NSNN trái
với quy định, luật pháp thống nhất tập trung của chính sách thu NSNN.
GVHD: Nguyễn Thành Long SVTH: Nguyễn Thị Quỳnh Như
21
Nâng cao hiệu quả quản lý thu NSNN tại Sở Tài Chính TP Cần Thơ năm 2009
- Nguyên tắc công bằng bình đẳng: Khi xây dựng chính sách, chế độ thu
NSNN phải dựa trên nguyên tắc công bằng, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế;
giữa các tổ chức, cá nhân trong xã hội; giữa các ngành, lĩnh vực; giữa các địa
phương… đảm bảo động viên vào NSNN một mức hợp lý đối với tất cả các đối tượng,
lĩnh vực, ngành nghề, địa phương…
- Nguyên tắc động viên hợp lý: Khi xây dựng chính sách, chế độ thu NSNN
phải đảm bảo nguyên tắc động viên hợp lý trong quá trình cụ thể hóa nguồn thu NSNN
phải xem xét cụ thể từng đối tượng phát sinh nguồn thu để xác định tỷ suất thu hợp lý
cho từng đối tượng, tránh động viên vào NSNN quá mức hợp lý ảnh hưởng đến sự
phát triển kinh tế xã hội hoặc động viên quá thấp dưới mức hợp lý ảnh hưởng đến
nguồn thu NSNN không đảm bảo cân đối NSNN tích cực.
Nguyên tắc động viên hợp lý còn thể hiện qua việc xem xét thực hiện chế độ ưu
đãi, miễn giảm… có kết hợp với quá trình phân phối lại NSNN.
Chính sách thu NSNN đối với các nguồn thu lớn của NSNN:
- Đối với nguồn thu từ thuế: Hiện nay hầu hết các nguồn thu thuế được hoàn
thiện chính sách thu được ban hành chính thức bằng luật thuế, pháp lệnh về thuế, chỉ
cần tổ chức thực hiện đúng, đầy đủ quy trình trong thực tế thực hiện, phù hợp với điều
kiện đặc điểm của từng đối tượng, của từng địa phương, của từng lĩnh vực ngành nghề
thì chính sách thu sẽ thâm nhập tốt đến đời sống xã hội.
Tuy nhiên, về chính sách thuế hiện nay còn một số vấn đề bất cập, mâu thuẫn
cần phải được giải quyết cải cách, điều chỉnh để chính sách thu về thuế ngày càng
hoàn thiện hơn. Mặt khác, do yêu cầu của quá trình phát triển kinh tế xã hội đòi hỏi
chính sách thuế cũng như luôn được quan tâm hoàn thiện.
Lập dự toán NSNN là việc xây dựng kế hoạch toàn bộ các khoản thu, chi của
NSNN và từng cấp NSNN, đảm bảo cân đối thu chi NSNN trên cơ sở các yêu cầu căn
cứ trình tự lập dự toán theo quy định.
Lập dự toán NSNN phải lưu ý đảm bảo cân đối NSNN, có nghĩa là nhu cầu
nhiệm vụ chi của năm kế hoạch phải có nguồn tương ứng để đảm bảo và có tính khả
thi nguyên tắc cân đối NSNN và từng cấp NSNN: tổng thu NSNN = tổng chi NSNN.
1.1.8.2. Ý nghĩa:
- Là khâu mở đầu có tính chất quyết định đến hiệu quả trong quá trình điều
hành, quản lý NSNN.
GVHD: Nguyễn Thành Long SVTH: Nguyễn Thị Quỳnh Như
23
Nâng cao hiệu quả quản lý thu NSNN tại Sở Tài Chính TP Cần Thơ năm 2009
- Là cơ hội để kiểm tra tính đúng đắn, hiện thực và cân đối của kế hoạch kinh tế
- xã hội.
- Thông qua lập dự toán NSNN kiểm tra các bộ phận của kế hoạch tài chính
khác.
- Là một trong những công cụ điều chỉnh quá trình kinh tế - xã hội.
1.1.8.3. Yêu cầu của dự toán NSNN:
- Dự toán NSNN phải được xây dựng trên cơ sở kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội và có nội dung tích cực trở lại với kinh tế - xã hội.
- Dự toán NSNN phải góp phần phục vụ và thúc đẩy sản xuất phát triển.
- Những yêu cầu cụ thể đối với lập dự toán ngân sách
+ Dự toán NSNN và dự toán ngân sách các cấp chính quyền phải tổng hợp
theo từng lĩnh vực thu, chi và theo cơ cấu giữa chi thường xuyên, cho đầu tư phát
triển, chi trả nợ.
+ Dự toán ngân sách của các cấp chính quyền, của đơn vị dự toán các cấp
phải lập theo đúng yêu cầu, nội dung, biểu mẫu và thời hạn quy định và hướng dẫn về
yêu cầu nội dung và thời hạn lập dự toán NSNN hàng năm của Bộ Tài Chính.
+ Dự toán ngân sách phải kèm theo báo cáo thuyết minh rõ cơ sở, căn cứ tính
toán.
sách thuộc phạm vi nhiệm vụ được giao, gửi cơ quan quản lý cấp trên.
- Các cơ quan Nhà nước ở Trung ương và địa phương lập dự toán thu, chi ngân
sách thuộc phạm vi trực tiếp quản lý, xem xét dự toán do các đơn vị trực thuộc lập,
tổng hợp và lập dự toán thu, chi ngân sách thuộc phạm vi quản lý gửi cơ quan tài chính
cùng cấp, đồng gửi một số cơ quan liên quan.
1.1.9. Chấp hành NSNN
1.1.9.1. Ý nghĩa:
- Chấp hành NSNN đúng đắn và có hiệu quả là tiền đề quan trọng bảo đảm điều
kiện để thực hiện các chỉ tiêu ghi trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
- Chấp hành NSNN là khâu quan trọng trong quá trình quản lý NSNN.
1.1.9.2. Mục tiêu:
- Thực hiện có kết quả các chỉ tiêu thu, chi đã ghi trong dự toán NSNN.
- Kiểm tra việc chấp hành các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức về kinh
tế, tài chính của Nhà nước.
1.1.9.3. Nội dung tổ chức chấp hành NSNN:
GVHD: Nguyễn Thành Long SVTH: Nguyễn Thị Quỳnh Như
25