1
mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Sau 20 năm đổi mới, tình hình phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An
nhìn chung đã có bớc phát triển nhanh và tơng đối toàn diện. Đặc biệt là từ
năm 2001 đến nay, tốc độ tăng trởng GDP hàng năm bình quân đạt 10,3%;
thu ngân sách hàng năm tăng cao: năm 2000 thu ngân sách đạt 420,9 tỷ đồng,
năm 2003 đạt: 1.564 tỷ đồng và năm 2006 đạt: 1.816 tỷ đồng; chi ngân sách
đã có nhiều cố gắng đảm bảo đáp ứng đợc các yêu cầu thiết yếu trên địa bàn,
chi cho đầu t phát triển ngày càng tăng và chiếm tỷ trọng cao trong tổng mức
đầu t xã hội.
Tuy nhiên, so với cả nớc thì đến nay Nghệ An vẫn đang là một tỉnh
nghèo, mức tăng trởng kinh tế vẫn dới tiềm năng, chất lợng tăng trởng cha bền
vững, tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế vẫn còn thấp, cơ cấu kinh tế chuyển dịch
chậm. Nguồn thu ngân sách cha vững chắc, cha có những nguồn thu lớn có
tính quyết định trong cán cân thu chi; thất thu thuế còn nhiều; khai thác nội
lực cho đầu t phát triển còn yếu; thu hút đầu t từ bên ngoài còn thấp.
Những khuyết điểm, yếu kém trên do nhiều nguyên nhân. Trong đó có
nguyên nhân là: Cơ chế quản lý ngân sách nhà nớc của Tỉnh vẫn còn cha đủ
mạnh, cha đồng bộ để vừa kích cầu phát huy nội lực, vừa thu hút nguồn lực từ
bên ngoài cho đầu t phát triển và để khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế về
đất đai, lao động, nguồn lực trong dân c nhằm tạo các mũi đột phá trong phát
triển kinh tế.
Trong thời gian qua đã có một số công trình, đề tài nghiên cứu về lĩnh
vực phân cấp quản lý ngân sách nhà nớc, cân đối thu chi ngân sách nhà nớc,
kiểm soát chi ngân sách. Đó là: Tác giả Phạm Đình Cờng với đề tài Phân bổ
ngân sách giữa các cấp chính quyền địa phơng ở Việt Nam: Thực trạng và hớng hoàn thiện đã đi sâu nghiên cứu, phân tích một nội dung của quản lý
ngân sách Nhà nớc đó là vấn đề phân bổ ngân sách giữa các cấp chính quyền
địa phơng: giữa cấp tỉnh với cấp huyện và giữa cấp huyện với cấp xã; trên cơ
sở phân tích rõ những u điểm, những mặt hạn chế của thực trạng công tác
phân bổ ngân sách, chỉ ra những nguyên nhân tồn tại, tác giả đã đề xuất một
cập tới từng mảng riêng lẻ của cơ chế quản lý ngân sách. Trong bối cảnh hiện
nay, Việt Nam đã chính thức gia nhập vào Tổ chức thơng mại thế giới WTO,
nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định
hớng Xã hội chủ nghĩa, để sớm đa Nghệ An vơn lên thành một trong những
tỉnh khá của cả nớc cần thiết phải nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện
về Cơ chế quản lý ngân sách nhà nớc từ đó đề xuất những giải pháp nhằm góp
phần thúc đẩy tăng trởng kinh tế của tỉnh. Chính vì lẽ đó, tác giả hiện đang
công tác tại sở Tài chính Nghệ An đã lựa chọn đề tài " Hoàn thiện Cơ chế
quản lý ngân sách nhà nớc nhằm thúc đẩy tăng trởng kinh tế tỉnh Nghệ
An ".
3
2. Mục đích nghiên cứu.
Góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về Cơ chế quản lý ngân sách
nhà nớc trên địa bàn tỉnh Nghệ An, để từ đó đề xuất một số định hớng và giải
pháp cơ bản để hoàn thiện Cơ chế quản lý ngân sách nhà nớc nhằm thúc đẩy
tăng trởng kinh tế ở tỉnh Nghệ An.
3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu.
3.1. Đối tợng nghiên cứu: Cơ chế quản lý ngân sách nhà nớc trên địa
bàn tỉnh Nghệ An
3.2. Phạm vi nghiên cứu: Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu là Cơ
chế quản lý ngân sách nhà nớc thuộc thẩm quyền của HĐND và UBND tỉnh
Nghệ An ban hành. Trong đó tập trung nghiên cứu các nội dung: lập, chấp
hành, quyết toán Ngân sách Nhà nớc và cơ chế phân cấp quản lý Ngân sách
Nhà nớc của Tỉnh.
4. Phơng pháp nghiên cứu.
Luận văn sử dụng phơng pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử, phơng pháp phân tích, thống kê, tổng hợp, so sánh đồng thời chú trọng
sự kết hợp giữa nguyên lý kinh điển với kiến thức kinh tế học hiện đại; gắn
một không gian kinh tế, tài chính thông thoáng cho sự tự do kinh doanh. Song
những quy định về thể chế kinh tế, tài chính của giai cấp phong kiến suy tàn
đã cản trở sự tự do kinh doanh của giai cấp t sản. Đặc biệt là: chế độ thuế khoá
vô lý, tuỳ tiện; chế độ chi tiêu thiếu rõ ràng, rành mạch, những khoản chi cho
mục đích công cộng nh đắp đê phòng chống lụt bão, xây dựng đờng sá và chi
tiêu cho bản thân hoàng gia không có sự tách biệt nhau. Giai cấp t sản đã đấu
tranh đòi hỏi phải có chế độ thuế khóa theo luật đảm bảo tính pháp lý, công
bằng; tách bạch giữa chi tiêu chung của nhà nớc và chi tiêu của hoàng gia.
Những khoản chi tiêu chung của nhà nớc phải đợc thể chế hoá bằng pháp luật
và đợc cơ quan đại diện của dân chúng kiểm soát. Kết quả cuộc đấu tranh đó
đã đa đến những thay đổi lớn trong quản lý tài chính của Nhà nớc và cũng từ
đó nảy sinh khái niệm ngân sách Nhà nớc với ý nghĩa chỉ các khoản thu chi
của nhà nớc đợc thể chế hóa bằng pháp luật. Nh vậy, chính sự tồn tại của nhà
nớc và sự phát triển kinh tế hàng hóa - tiền tệ quyết định sự tồn tại của NSNN.
Trong thực tiễn, khái niệm ngân sách thờng để chỉ tổng số thu và chi của một
đơn vị, một chủ thể nào đó trong một thời gian nhất định. Nếu chủ thể đó là
Nhà nớc thì gọi là ngân sách Nhà nớc.
5
Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học xuất bản năm 2005 định
nghĩa:
" Ngân sách: tổng số nói chung tiền thu và chi trong một đơn vị thời
gian nhất định của Nhà nớc, của xí nghiệp hoặc của một cá nhân ".
Luật Ngân sách nhà nớc số 01/2002/QH 11 ngày 16/12/2002 quy định:
" Ngân sách Nhà nớc là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nớc đã đợc cơ quan nhà nớc có thẩm quyền quyết định và đợc thực hiện trong một năm
để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nớc"
Ngân sách nhà nớc bao gồm các khoản thu: thuế, phí, lệ phí, các khoản
thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nớc, các khoản đóng góp của các tổ chức và
cá nhân, các khoản viện trợ, các khoản thu theo quy định của pháp luật, các
bảo đảm xã hội, giáo dục, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng hoặc các khoản trợ
cấp, phúc lợi công cộng khác ...
Việc Nhà nớc sử dụng quyền lực kinh tế - chính trị để huy động đóng
góp của các thành viên xã hội vào cho NSNN cần phải đảm bảo giải quyết hài
hòa lợi ích kinh tế giữa Nhà nớc và các thành viên xã hội. Vì về mặt lý thuyết,
thì nếu Nhà nớc đặt ra mức thuế suất quá cao thì số tổng số tiền thuế thu đợc
sẽ không tăng lên nh mong muốn mà ngợc lại, số thu giảm dần bởi vì khi đó
do lợi ích bị giảm sút nên động lực đầu t vào sản xuất kinh doanh giảm, nhà
sản xuất sẽ thu hẹp quy mô. Kết quả là sản xuất toàn xã hội thu hẹp dẫn tới
nguồn thu ngân sách vì thế mà giảm sút. Thực tiễn lịch sử cho thấy, một khi
nhà nớc chỉ chú ý tới lợi ích của mình, dùng quyền lực huy động sự đóng góp
nặng nề của xã hội, không chú ý đúng mức đến lợi ích của xã hội thì quan hệ
giữa Nhà nớc và xã hội trở nên căng thẳng, sản xuất bị đình trệ, đời sống nhân
dân bần cùng. Do vậy, trong quản lý và điều hành ngân sách, đòi hỏi Nhà nớc
phải có chính sách ngân sách đúng đắn, tôn trọng các quy luật kinh tế khách
quan, không đợc huy động một cách tuỳ tiện các nguồn thu một cách chủ
quan mà cần phải xác định tỷ lệ thu thích hợp vừa có thể đảm bảo huy động
mức độ cao nhất vào ngân sách nhà nớc, vừa đảm bảo phù hợp với lợi ích của
mọi tầng lớp nhân dân, kích thích sản xuất kinh doanh phát triển. Đồng thời,
mọi khoản chi tiêu của Nhà nớc cần phải đợc tính toán thận trọng, đảm bảo sự
công bằng giữa các thành viên trong xã hội, chú trọng tính hiệu quả, tiết kiệm,
nhằm ổn định tình hình kinh tế xã hội, thúc đẩy tăng trởng kinh tế.
Nh vậy, NSNN đợc đặc trng bằng sự vận động của các nguồn tài chính
trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của Nhà nớc. NSNN phản
ánh hệ thống các quan hệ kinh tế giữa Nhà nớc và các tổ chức kinh tế xã hội
và dân c, phát sinh do nhà nớc tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn tài
chính quốc gia nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện các chức năng nhiệm vụ của
nhà nớc. Các quan hệ trong tạo lập và sử dụng NSNN mang tính pháp lý cao
Thu NSNN bao gồm những khoản thu sau:
- Thuế, phí, lệ phí do các tổ chức, cá nhân nộp theo quy định của pháp
luật.
8
- Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nớc theo quy định của
pháp luật, nh: Tiền thu hồi vốn của Nhà nớc tại các cơ sở kinh tế; Thu hồi tiền
cho vay của Nhà nớc; Thu nhập từ vốn góp của Nhà nớc vào các cơ sở kinh tế.
- Thu từ các hoạt động sự nghiệp; Tiền sử dụng đất; Tiền cho thuê đất;
Thu từ quỹ đất công ích và thu hoa lợi công sản; Tiền cho thuê và bán nhà ở
thuộc sở hữu nhà nớc.
- Các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong và
ngoài nớc.
- Các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nớc, các tổ
chức, cá nhân ở trong và ngoài nớc cho Chính phủ Việt Nam, các cấp chính
quyền và các cơ quan, đơn vị nhà nớc.
- Thu từ Quỹ dự trữ tài chính; Thu kết d ngân sách; Thu bổ sung từ ngân
sách cấp trên.
- Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật, gồm: Các khoản di
sản nhà nớc đợc hởng; các khoản phạt, tịch thu; Thu hồi dự trữ nhà nớc; Thu
chênh lệch giá, phụ thu; Thu từ huy động đầu t xây dựng các công trình kết
cấu hạ tầng; Thu từ hoạt động xổ số kiến thiết.
Thu NSNN bao gồm rất nhiều khoản thu và tính chất các khoản thu
trong NSNN cũng rất khác nhau. ở đây, chúng ta sẽ đề cập tới một số khoản
thu chính chiếm tỷ trọng lớn, đó là:
+ Thuế là một hình thức động viên bắt buộc của Nhà nớc theo luật định,
thuộc phạm trù phân phối, nhằm tập trung một bộ phận thu nhập của các thể
nhân và pháp nhân vào NSNN để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của Nhà nớc và
phục vụ cho lợi ích công cộng.
cho công việc quản lý nhà nớc theo quy định của pháp luật.
Các dịch vụ thu phí theo quy định của pháp luật có thể do Nhà nớc đầu
t cung cấp và cũng có thể do khu vực t nhân đầu t cung cấp. Phí thu từ các
dịch vụ do Nhà nớc đầu t là khoản thu thuộc NSNN. Phí thu đợc từ các dịch vụ
không do Nhà nớc đầu t hoặc do Nhà nớc đầu t nhng đã chuyển giao cho tổ
chức, cá nhân thực hiện theo nguyên tắc hạch toán và tự chủ là khoản thu
không thuộc NSNN, là doanh thu của tổ chức, cá nhân thu phí.
Các dịch vụ theo quy định của pháp luật đợc phép thu lệ phí thuộc các
dịch vụ gắn với công việc quản lý nhà nớc, vì vậy chỉ có các cơ quan nhà nớc
hoặc tổ chức đợc uỷ quyền phục vụ công việc quản lý nhà nớc theo quy định
của pháp luật mới đợc thu lệ phí. Lệ phí là khoản thu của NSNN.
Phí thuộc NSNN và lệ phí là khoản thu bắt buộc và phát sinh thờng
xuyên của NSNN. Song khác với thuế, phí thuộc NSNN và lệ phí là khoản thu
mang tính chất hoàn trả gắn trực tiếp với việc hởng thụ các dịch vụ do Nhà nớc đầu t cung cấp có thu phí hoặc lệ phí theo quy định của pháp luật.
10
Hiện nay, việc phân cấp thẩm quyền quy định về phí và lệ phí (bao gồm
thẩm quyền quy định mức thu, chế độ thu nộp, quản lý và sử dụng) nh sau:
Chính phủ quy định đối với một số phí quan trọng, có số thu lớn, liên
quan đến nhiều chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nớc;
Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ơng quy định đối
với một số loại phí gắn với quản lý đất đai, tài nguyên thiên nhiên, thuộc chức
năng quản lý hành chính nhà nớc của chính quyền địa phơng;
Bộ Tài chính quy định đối với các loại phí còn lại áp dụng thống nhất
trong cả nớc.
Đối với lệ phí:
Chính phủ quy định đối với một số lệ phí quan trọng, có số thu lớn, có ý
nghĩa pháp lý quốc tế;
Bộ Tài chính quy định đối với những lệ phí còn lại.
Trong quản lý NSNN hiện nay, chi ngân sách đợc chia thành 3 nhóm là:
chi đầu t phát triển, chi thờng xuyên và chi khác.
- Các khoản chi đầu t phát triển là những khoản chi có thời hạn tác động
dài thờng trên một năm, hình thành nên những tài sản vật chất có khả năng tạo
đợc nguồn thu, trực tiếp làm tăng cơ sở vật chất của đất nớc.
- Chi thờng xuyên là những khoản chi có thời hạn tác động ngắn thờng
dới một năm. Nhìn chung, đây là các khoản chi chủ yếu phục vụ cho chức
năng quản lý và điều hành xã hội một cách thờng xuyên của Nhà nớc. - Chi
khác bao gồm: chi trả nợ gốc và lãi; chi viện trợ; chi cho vay; chi bổ sung quỹ
dự trữ tài chính; chi bổ sung cho ngân sách cấp dới.
Hiện nay, theo quy định của Luật NSNN, ngân sách địa phơng có
những nhiệm vụ chi sau:
Chi đầu t phát triển bao gồm: Đầu t xây dựng các công trình kết cấu hạ
tầng kinh tế - xã hội do địa phơng quản lý; Đầu t và hỗ trợ cho các doanh
nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính Nhà nớc theo quy định của
pháp luật; Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật;
Chi thờng xuyên: Các hoạt động sự nghiệp kinh tế, giáo dục và đào tạo,
y tế, xã hội, văn hóa thông tin văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học
và công nghệ, môi trờng, các hoạt động sự nghiệp khác do địa phơng quản lý;
Quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội (phần giao cho địa phơng);
Hoạt động của cơ quan nhà nớc, cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam và các tổ
chức chính trị - xã hội ở địa phơng; Hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp ở địa phơng theo
quy định của pháp luật; Thực hiện các chính sách xã hội đối với các đối tợng
do địa phơng quản lý;
Chơng trình quốc gia do Chính phủ giao cho địa phơng quản lý; Trợ giá theo chính sách của Nhà nớc; Các khoản chi khác theo
quy định của pháp luật;
12
Chi trả nợ gốc và lãi các khoản tiền huy động cho đầu t;
tính toán trên cơ sở thực lực nguồn tài chính của toàn xã hội, có cân nhắc cho
phù hợp với đặc điểm, tình hình của đất nớc trong từng thời kỳ và theo sát các
13
kế hoạch, chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nớc. Ngợc lại, nếu huy
động, phân phối không hợp lý sẽ dẫn đến những hậu quả to lớn đối với quá
trình phát triển kinh tế - xã hội, kìm hãm tăng trởng kinh tế.
b. Chức năng kiểm tra, giám đốc của NSNN.
Với t cách là một công cụ quản lý trong tay Nhà nớc, Ngân sách nhà nớc thực hiện chức năng kiểm tra và giám đốc nh một sứ mệnh xã hội tất yếu.
Đối tợng kiểm tra, giám đốc của NSNN là quá trình tạo lập, phân phối và sử
dụng NSNN. Tuy nhiên, do việc tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ NSNN luôn
có mối liên hệ hữu cơ với việc tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ
của mọi chủ thể kinh tế - xã hội khác và đợc tiến hành trên cơ sở các chính
sách, chế độ do Nhà nớc quy định. Do đó, đối tợng kiểm tra, giám đốc của
NSNN không chỉ là bản thân quá trình huy động, phân phối quỹ NSNN mà
còn là các quá trình phân phối các nguồn tài chính ở mọi chủ thể kinh tế - xã
hội theo các yêu cầu đặt ra của các chính sách thu, chi tài chính. NSNN thực
hiện kiểm tra các hoạt động tài chính khác không chỉ trong việc chấp hành
nghĩa vụ NSNN, trong việc sử dụng nguồn tài chính Nhà nớc, tài sản quốc gia
mà còn kiểm tra việc thực hiện các chính sách, chế độ, pháp luật về ngân sách
cũng nh các chính sách kinh tế - xã hội khác có liên quan. Chức năng kiểm
tra, giám đốc của NSNN luôn gắn chặt với quyền lực của Nhà nớc, là một mặt
trong hoạt động quản lý, kiểm tra của Nhà nớc. Thực hiện tốt chức năng này
sẽ góp phần tạo điều kiện tăng trởng kinh tế và làm lành mạnh nền tài chính
quốc gia.
1.1.3.2. Vai trò của ngân sách nhà nớc đối với tăng trởng kinh tế.
Thông qua việc tạo lập, phân phối và sử dụng một cách đúng đắn, hợp
lý các nguồn thu tập trung, Ngân sách nhà nớc đóng vai trò quan trọng trong
việc thúc đẩy tăng trởng và phát triển kinh tế. Điều này thể hiện cụ thể ở
bảo hộ sản xuất trong nớc.
Thông qua chi ngân sách nhà nớc để đầu t xây dựng kết cấu hạ tầng,
đầu t vào các ngành then chốt, các công trình mũi nhọn, hỗ trợ nguồn vốn cho
các doanh nghiệp cần nâng đỡ khuyến khích, NSNN góp phần tạo điều kiện
thuận lợi cho phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần hình thành và hoàn
thiện cơ cấu sản xuất, cơ cấu kinh tế - xã hội, đảm bảo các tỷ lệ cân đối của
nền kinh tế, từ đó thúc đẩy kinh tế tăng trởng và phát triển.
NSNN đầu t cho kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội, tạo môi trờng thuận
lợi cho đầu t khai thác tài nguyên, sức lao động, thị trờng Đầu t vào các
ngành kinh tế mũi nhọn, các công trình trọng điểm, các cơ sở kinh tế then
chốt để chuyển đổi cơ cấu kinh tế, để có thêm những sản phẩm chủ lực, tạo ra
cơ sở vật chất kỹ thuật làm chỗ dựa cho các ngành, các thành phần kinh tế
trong phát triển kinh tế.
Với việc gia tăng chi tiêu của chính phủ (tăng chi ngân sách cho dịch vụ
và tiêu dùng) sẽ trực tiếp làm tăng GDP một lợng tơng ứng, các doanh nghiệp
15
thuê công nhân để sản xuất mức sản lợng tăng thêm này, do đó tiền lơng, lợi
nhuận và thu nhập tăng lên. Từ đó làm tăng tiêu dùng bổ sung. Tiêu dùng bổ
sung tăng, một lần nữa lại làm tăng thu nhập, tiêu dùng tiếp tục tăng. Sự ảnh
hởng của quá trình đó làm nền kinh tế tăng trởng khuyếch đại theo số nhân
trong ngắn hạn. Sự gia tăng chi tiêu ngân sách làm tăng GDP cũng xảy ra khi
giảm thuế. Với cơ chế hoàn toàn tơng tự: giảm thuế làm tăng thu nhập khả
dụng và do đó khuyến khích tiêu dùng. Ngợc lại, với việc tăng thuế làm giảm
thu nhập khả dụng của ngời tiêu dùng, trong ngắn hạn sẽ làm điểm cân bằng
của nền kinh tế suy giảm thấp hơn mức tiềm năng, GDP giảm.
b. NSNN là công cụ để điều tiết thị trờng, bình ổn giá cả và hạn chế
lạm phát.
Trong nền kinh tế thị trờng, sự biến động giá cả là do thị trờng quyết
sử dụng theo hớng giảm thuế cho những hàng hóa thiết yếu, thờng do những
ngời có thu nhập thấp sử dụng và sử dụng phần lớn; đồng thời sử dụng công
cụ chi Ngân sách vào việc trợ giá cho các mặt hàng thiết yếu và trợ cấp xã hội
cho những ngời có thu nhập thấp, hoàn cảnh khó khăn.
Để giải quyết các vấn đề xã hội, vai trò của NSNN thông qua hoạt động
chi ngân sách để tài trợ cho phát triển các dịch vụ công cộng nh văn hoá, giáo
dục, y tế, tài trợ cho việc thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia
đình, hỗ trợ tài chính cho giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo,
Nh vậy, NSNN là công cụ rất quan trọng để tác động vào nền kinh tế
nhằm thực hiện mục tiêu tăng trởng và công bằng xã hội, là hình thức cơ bản
để hình thành và sử dụng có kế hoạch quỹ tiền tệ tập trung nhằm mở rộng sản
xuất theo định hớng XHCN và thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của nhân
dân. Ngân sách đợc dùng để khuyến khích sử dụng hợp lý tài nguyên trong tất
cả các thành phần kinh tế, các ngành sản xuất xã hội, phát huy mặt tích cực
của cơ chế thị trờng. Ngân sách nhà nớc đợc sử dụng không chỉ nhằm đảm
bảo sự tăng trởng về của cải vật chất mà còn cả sự phát triển về mặt văn hoá xã hội.
1.2. Cơ chế quản lý ngân sách Nhà nớc và sự cần thiết phải hoàn
thiện cơ chế quản lý NSNN nhằm thúc đẩy tăng trởng kinh tế.
1.2.1. Quan niệm về cơ chế quản lý ngân sách Nhà nớc.
Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học xuất bản năm 2005 định
nghĩa:
" Cơ chế: Cách thức theo đó một quá trình thực hiện".
Theo lý thuyết hệ thống thì cấu trúc của hệ thống (cơ cấu) là hình thức
cấu tạo bên trong của hệ thống, bao gồm sự sắp xếp của các phần tử và các
phân hệ có trong hệ thống cùng các mối quan hệ tác động và ràng buộc giữa
chúng. Cơ chế của hệ thống là phơng thức hoạt động phù hợp với quy luật
17
khách quan vốn có của hệ thống. Cơ chế chỉ tồn tại đồng thời và song song với
ngân sách).
18
Một cơ chế quản lý ngân sách đợc coi là hợp lý khi các bộ phận trong
cơ chế mang tính hệ thống, đồng bộ, không mâu thuẫn nhau làm hạn chế tác
dụng tích cực của cơ chế.
1.2.2. Nội dung cơ chế quản lý ngân sách Nhà nớc.
1.2.2.1. Bộ máy quản lý ngân sách Nhà nớc.
Bộ Tài chính là cơ quan đợc giao nhiệm vụ thống nhất quản lý ngân
sách Nhà nớc trên toàn quốc. Các cơ quan trực thuộc Bộ đợc giao quản lý từng
lĩnh vực của công tác quản lý ngân sách, đó là:
Vụ ngân sách trực thuộc văn phòng Bộ làm nhiệm vụ quản lý tổng hợp
công tác chi NSNN, lập dự toán và tổng hợp quyết toán NSNN cả nớc.
Các vụ chuyên ngành trực thuộc văn phòng Bộ nh vụ Hành chính Văn
Xã, vụ Tài chính đối ngoại, vụ Tài chính ngân hàng trực tiếp phụ trách quản
lý chi ngân sách theo từng mảng công việc đợc phân công.
Tổng cục Thuế làm nhiệm vụ quản lý thu ngân sách các nguồn thu nội
địa.
Tổng cục Hải quan làm nhiệm vụ quản lý thu ngân sách các nguồn thu
thuế Xuất nhập khẩu.
Kho bạc Nhà nớc làm nhiệm vụ quản lý quỹ ngân sách Nhà nớc, tất cả
các khoản thu, chi NSNN phải đợc tập trung phản ánh vào Kho bạc Nhà nớc.
Tại các tỉnh, thành phố bộ máy quản lý ngân sách cấp tỉnh bao gồm:
Sở Tài chính là đơn vị chuyên môn trực thuộc UBND tỉnh làm nhiệm vụ
quản lý chi NSNN tỉnh, lập dự toán và tổng hợp quyết toán NSNN trên địa bàn
tỉnh.
Cục thuế là đơn vị ngành dọc của Trung ơng đóng trên địa bàn làm
nhiệm vụ quản lý thu ngân sách các nguồn thu nội địa trên địa bàn tỉnh.
Cục Hải quan là đơn vị ngành dọc của Trung ơng đóng trên địa bàn làm
quyền địa phơng trong việc xử lý các vấn đề của hoạt động NSNN.
Phân cấp quản lý NSNN phải đảm bảo thực hiện đợc các yêu cầu sau:
Đảm bảo tính thống nhất của NSNN: phân cấp quản lý để phát huy
quyền dân chủ, tính chủ động sáng tạo của các cấp chính quyền địa phơng
trong khai thác, bồi dỡng, huy động nguồn thu; tính toán chặt chẽ, sử dụng tiết
kiệm và hiệu quả các khoản chi NSNN. Phân cấp không phải là sự cắt khúc
NSNN. Các cấp chính quyền đều phải chấp hành thống nhất các luật pháp tài
chính - ngân sách, các quyết định của Chính phủ, Bộ Tài chính.
Phân cấp quản lý NSNN phải phù hợp với phân cấp các lĩnh vực khác
của Nhà nớc, tạo ra sự đồng bộ trong thực hiện và quản lý các ngành, các lĩnh
vực của Nhà nớc.
Nội dung của phân cấp quản lý NSNN phải phù hợp với hiến pháp và
luật pháp quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các
20
cấp chính quyền, đảm bảo mỗi cấp ngân sách có các nguồn thu, các khoản
chi, quyền và trách nhiệm về ngân sách tơng xứng nhau.
Trớc khi có luật NSNN, chế độ phân cấp ngân sách cho chính quyền địa
phơng thờng không ổn định. Hầu nh năm nào cũng phải điều chỉnh tỷ lệ điều
tiết giữa Trung ơng và địa phơng, giữa cấp tỉnh và cấp huyện. Do đó, mặc dù
ngân sách Trung ơng chi phối tới gần 70% tổng chi NSNN nhng vẫn không
phát huy đợc sức mạnh tập trung; trong khi đó ngân sách địa phơng luôn bị
động, không phát huy đợc tính chủ động trong việc khai thác nguồn thu và chi
tiêu hiệu quả.
Chế độ phân cấp quản lý NSNN theo Luật NSNN ban hành ngày
16/12/2002 đợc quy định nh sau:
Nguồn thu và nhiệm vụ chi cho mỗi cấp chính quyền đợc ổn định theo
luật;
Xác định rõ các mối quan hệ giữa ngân sách cấp trên và ngân sách cấp
thu, nhiệm vụ chi cho từng cấp ngân sách của chính quyền địa phơng; căn cứ
vào tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu do Thủ tớng Chính phủ giao
và nguồn thu NSĐP hởng 100%, HĐND cấp tỉnh quyết định tỷ lệ phần trăm
(%) phân chia các khoản thu giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phơng.
1.2.2.3. Chu trình quản lý ngân sách Nhà nớc.
Chu trình ngân sách đợc hiểu là quá trình lập, chấp hành và quyết toán
ngân sách. Một chu trình ngân sách có ba khâu nối tiếp nhau là: lập ngân
sách, chấp hành ngân sách và quyết toán ngân sách. Trong một năm ngân
sách, đồng thời có cả ba khâu đó: chấp hành ngân sách của chu trình hiện tại,
quyết toán ngân sách của chu trình trớc và lập ngân sách của chu trình sau.
a. Lập ngân sách Nhà nớc.
Công tác lập ngân sách là quá trình bao gồm các công việc: lập ngân
sách, phê chuẩn ngân sách và thông báo ngân sách.
Trong chu trình ngân sách, lập ngân sách là công việc khởi đầu có ý
nghĩa quyết định đến toàn bộ các khâu của chu trình quản lý ngân sách. Lập
ngân sách thực chất là dự toán các khoản thu - chi của ngân sách trong một
năm ngân sách. Việc lập dự toán thu - chi đúng đắn, có cơ sở khoa học, cơ sở
thực tiễn sẽ có tác dụng quan trọng đối với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
nói chung và thực hiện ngân sách nói riêng.
Lập ngân sách phải đáp ứng các yêu cầu sau:
Bảo đảm việc xây dựng dự toán thu chi ngân sách nhà nớc dựa trên hệ
thống chế độ, chính sách và tiêu chuẩn định mức đúng đắn phù hợp với thực
tiễn kinh tế - xã hội đang vận động;
Bảo đảm việc xây dựng dự toán thu chi ngân sách tiến hành đúng với
trình tự và thời gian quy định;
22
Bảo đảm mối quan hệ đúng đắn giữa kế hoạch hiện vật và kế hoạch giá
trị thông qua việc thiết lập dự toán thu chi của ngân sách nhà nớc trong bối
chi.
23
Cơ quan tài chính các cấp tổ chức làm việc để thảo luận về dự toán ngân
sách với các cơ quan, đơn vị cùng cấp và UBND, cơ quan tài chính cấp dới
(đối với năm đầu của thời kỳ ổn định ngân sách); cơ quan, đơn vị cấp trên phải
tổ chức làm việc để thảo luận về dự toán với các đơn vị dự toán ngân sách trực
thuộc trong quá trình lập dự toán.
Giai đoạn 3: Quyết định, phân bổ, giao dự toán NSNN:
Quốc hội quyết định dự toán ngân sách nhà nớc, phân bổ NSTW năm
sau trớc ngày 15/11 năm trớc.
Trớc ngày 20/11, căn cứ vào các nghị quyết của Quốc hội, Bộ Tài chính
trình Thủ tớng Chính phủ giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách cho từng Bộ, cơ
quan ngang Bộ, cơ quan trung ơng theo từng lĩnh vực; nhiệm vụ thu, chi, tỷ lệ
phần trăm (%) phân chia các khoản thu phân chia giữa NSTW và NSĐP và
mức bổ sung cân đối, mức bổ sung có mục tiêu từ NSTW cho từng tỉnh.
Trớc ngày 10/12, HĐND cấp tỉnh quyết định dự toán ngân sách địa phơng, phơng án phân bổ dự toán ngân sách cấp tỉnh và mức bổ sung từ ngân
sách cấp tỉnh cho ngân sách cấp dới. HĐND cấp dới quyết định dự toán ngân
sách địa phơng, phân bổ ngân sách năm sau của cấp mình chậm nhất là 10
ngày, kể từ ngày HĐND cấp trên trực tiếp quyết định dự toán và phân bổ ngân
sách.
Căn cứ vào nghị quyết của HĐND cấp tỉnh, sở Tài chính trình UBND
cấp tỉnh quyết định giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách cho từng cơ quan, đơn vị
trực thuộc tỉnh; nhiệm vụ thu, chi, tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản
thu giữa NSTW và NSĐP và giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phơng;
mức bổ sung từ ngân sách cấp tỉnh cho từng huyện.
Sau khi nhận đợc quyết định giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách của
UBND cấp trên, UBND trình HĐND cùng cấp quyết định dự toán NSĐP và
phơng án phân bổ dự toán ngân sách cấp mình, bảo đảm dự toán ngân sách
Tổ chức chi NSNN bao gồm các khâu: Phân bổ và giao dự toán chi
ngân sách; Lập nhu cầu chi quý; Cơ chế kiểm soát chi; Điều chỉnh dự toán
NSNN.
Sau khi đợc Thủ tớng Chính phủ, UBND giao dự toán ngân sách, các
đơn vị dự toán cấp I và các địa phơng tiến hành phân bổ và giao dự toán chi
ngân sách cho các đơn vị sử dụng ngân sách trực tiếp. Trong đó: dự toán chi
thờng xuyên đợc phân bổ theo từng loại và 4 nhóm mục gồm: Chi thanh toán
cá nhân, chi nghiệp vụ chuyên môn, chi mua sắm sửa chữa và các khoản chi
khác; dự toán chi đầu t xây dựng cơ bản đợc phân bổ chi tiết theo từng loại và
các mục của Mục lục NSNN và phân theo tiến độ thực hiện từng quý.
Trên cơ sở dự toán năm đợc giao, các đơn vị sử dụng ngân sách lập nhu
cầu chi ngân sách quý (có chia ra tháng), chi tiết theo các nhóm mục chi nh
25
trên gửi Kho bạc Nhà nớc và cơ quan tài chính cuối quý trớc để phối hợp thực
hiện chi trả cho đơn vị.
Chi NSNN chỉ đợc thực hiện khi có đủ các điều kiện: đã có trong dự
toán NSNN đợc giao; đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cấp có thẩm
quyền quy định; đã đợc thủ trởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc ngời đợc uỷ
quyền quyết định chi; trờng hợp sử dụng vốn, kinh phí NSNN để đầu t XDCB,
mua sắm trang thiết bị, phơng tiện làm việc và các công việc khác phải qua
đấu thầu hoặc thẩm định giá thì phải tổ chức đấu thầu hoặc thẩm định giá theo
quy định của pháp luật.
Trong quá trình chấp hành ngân sách, nếu có sự thay đổi về nguồn thu
và nhiệm vụ chi thực hiện nh sau: Số tăng thu và số tiết kiệm chi so với dự
toán đợc giao, đợc sử dụng để giảm bội chi, tăng chi trả nợ, tăng chi đầu t phát
triển, bổ sung quỹ dự trữ tài chính, tăng dự phòng ngân sách. Nếu giảm thu so
với dự toán đợc duyệt thì phải sắp xếp lại để giảm một số khoản chi tơng ứng.
Khi phát sinh các công việc đột xuất nh: chi phòng chống, khắc phục hậu quả