Luận văn thạc sỹ - Các giải pháp phát triển sản xuất rau an toàn ở Hà Nội - Pdf 34

1

PHẦN MỞ ĐẦU
1- Tính cấp thiết của đề tài.
Trong những năm gần đây, vấn đề sản xuất rau an toàn (RAT) ngày càng
trở nên cấp bách. Dân số tăng nhanh đòi hỏi một lượng rau xanh ngày càng
cao, quá trình đô thị hoá nhanh dẫn tới xuất hiện các vành đai rau hàng hoá
ngày càng lớn, quy luật tối đa hoá lợi nhuận của cơ chế thị trường đã thúc đẩy
việc thâm canh quá mức với lượng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật được sử
dụng ngày càng nhiều. Các vật tư đưa vào sản xuất nhiều khi có chất lượng
không cao, lại được sử dụng không hợp lý cả do lợi nhuận, cũng như sự thiếu
hiểu biết của người sản xuất, kết hợp với môi trường sản xuất bị ô nhiễm đã
làm cho sản phẩm rau không còn an toàn như trước đây. Trong khi đó, xã hội
càng phát triển lại đòi hỏi mức độ vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) ngày
càng cao. Mâu thuẫn này ở Hà Nội nói riêng, ở Việt Nam nói chung và ở
nhiều nước đang có xu hướng ngày càng bức bách. Đặc biệt, với rau, một
thực phẩm quan trọng khó thiếu vắng chỉ trong một bữa ăn đối với mọi người
dân, lại có nhiều loại rau có nhu cầu ăn sống cao. Bởi vậy, sản xuất rau không
an toàn vừa là vô tình, vừa là cố tình gây hậu quả cho người tiêu dùng, thậm
chí cả người sản xuất và môi trường sinh thái. Hậu quả không chỉ trong trước
mắt, mà còn lâu dài. Giống nòi con người Việt Nam sẽ ra sao nếu ăn phải rau
độc hại. Cho nên, phát triển bền vững sản xuất RAT không chỉ là vấn đề kinh
tế, mà quan trọng hơn là vấn đề xã hội và môi trường.
Nhận thức được tầm quan trọng của sản xuất RAT, từ năm 1996, Uỷ ban
Nhân dân Thành phố Hà Nội đã chỉ đạo các Sở, ban, ngành liên quan triển
khai chương trình sản xuất rau sạch (nay là RAT). Thành phố đã thực hiện
quy hoạch vùng sản xuất RAT ở 33 xã thuộc các huyện ngoại thành, tập huấn
cho nông dân, đầu tư một số cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, giới thiệu các
loại giống mới, thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) và phân vi sinh, ... Nhờ vậy,




3
tế, kỹ thuật và tổ chức sản xuất RAT nhằm đưa ra các giải pháp một cách tổng
thể, giúp cho sản xuất RAT phát triển, đáp ứng được nhu cầu của người tiêu
dùng, nâng cao thu nhập cho người sản xuất, bảo vệ sức khoẻ người sản xuất,
người tiêu dùng và bảo vệ môi trường sinh thái.
Bởi vậy, việc nghiên cứu, đánh giá đúng thực trạng và đề ra những giải
pháp thiết thực, khả thi cho phát triển sản xuất RAT ở địa bàn Hà Nội là cần
thiết và cấp bách. Chính vì lý do đó chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu:
“Các giải pháp phát triển sản xuất rau an toàn ở Hà Nội”
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
2.1. Mục tiêu chung.
Tìm ra giải pháp phát triển sản xuất RAT ở Hà Nội trên cơ sở nghiên cứu
thực trạng kinh tế, kỹ thuật và tổ chức của sản xuất RAT ở điạ bàn Hà Nội
trong thời gian qua.
2.2. Mục tiêu cụ thể.
- Khái quát các vấn đề lý luận cơ bản về phát triển sản xuất RAT.
- Đánh giá đúng thực trạng phát triển sản xuất RAT trên địa bàn Hà Nội
trong một số năm gần đây.
- Tìm ra các yếu tố kinh tế, kỹ thuật và tổ chức ảnh hưởng đến phát triển
sản xuất RAT, mối quan hệ tác động giữa các yếu tố và các thách thức đặt ra
trong phát triển sản xuất RAT trên địa bàn Hà Nội.
- Đề xuất giải pháp nhằm phát triển sản xuất RAT trên địa bàn Hà Nội đến
năm 2010 và những năm tiếp theo.
3. Đối tượng nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề nổi cộm về kinh tế, kỹ thuật và tổ
chức của sản xuất RAT. Chủ thể nghiên cứu trực tiếp là các hộ nông dân, nhóm
nông dân, HTX sản xuất RAT và cán bộ quản lý trong lĩnh vực nông nghiệp.
-Trong một chừng mực nhất định chủ thể nghiên cứu là các doanh
nghiệp, của hàng tiêu thụ và người tiêu dùng RAT.

7. Kết cấu của đề tài.
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung của đề tài gồm
ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và sự cần thiết phát triển sản xuất rau an toàn.
Chương 2: Thực trạng phát triển sản xuất rau an toàn ở Hà Nội giai đoạn
2001-2005.
Chương 3: Phương hướng, mục tiêu và giải pháp phát triển sản xuất rau
an toàn ở Hà Nội.


6

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ SỰ CẦN THIẾT PHÁT TRIỂN
SẢN XUẤT RAU AN TOÀN
1. CƠ SỞ LÝ LUẬN.

1.1. Khái niệm về rau rau an toàn và sản xuất rau an toàn.
1.1.1. Khái niệm về rau an toàn.
Do nhiều nguyên nhân, vấn đề RAT ở Việt Nam thực tế mới được
bắt đầu đề cập mạnh mẽ trong những năm 90 của thế kỷ XX. Cũng từ đó
xuất hiện nhiều quan niệm, khái niệm khác nhau về RAT. Tuy nhiên,
khái niệm do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đưa ra được sử
dụng rộng rãi nhất hiện nay ở Việt Nam. Khái niệm này cho rằng:
“Những sản phẩm rau tươi, bao gồm tất cả các loại rau ăn thân, lá, củ,
hoa và quả có chất lượng đúng như đặc tính của nó, hàm lượng các hoá
chất độc hại và mức độ ô nhiễm các vi sinh vật gây hại ở mức tiêu chuẩn
cho phép, bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng và môi trường thì được
coi là rau đảm bảo VSATTP, gọi tắt là RAT” .
Trong đời sống hàng ngày, RAT đôi khi được gọi là rau sạch, vì khi bắt

sinh vật có trong đất và nước tưới phục vụ sản xuất.
1.1.2. Khái niệm về sản xuất rau an toàn.
Xuất phát từ quan niệm khác nhau giữa RAT tương đối và RAT tuyệt
đối, các tác giả đã đưa ra khái niệm về sản xuất RAT tương đối và sản xuất
RAT tuyệt đối như sau:
Sản xuất RAT tuyệt đối là việc ứng dụng phương pháp hữu cơ, các biện
pháp hữu cơ và sinh học, trở lại canh tác tự nhiên, không dùng các loại phân
bón, thuốc BVTV hóa học, chấp nhận năng suất cây trồng không cao để đổi
lấy “sản phẩm hoàn toàn sạch”.
Sản xuất RAT tương đối là việc ứng dụng các biện pháp thâm canh
hiện đại, kết hợp các biện pháp hữu cơ, sinh học nhằm đảm bảo hạn chế


8
tối đa tác động xấu của sản xuất đến môi trường, sản phẩm sản xuất ra
không có hoặc có dư lượng hoá chất độc hại dưới mức cho phép, đảm bảo
giá thành hợp lý.
Trong luận văn này, tác giả thống nhất với khái niệm về sản xuất RAT
tương đối. Tuy nhiên, cần bổ sung thêm một số điều kiện đặt ra đối với sản
xuất RAT do Sở NN&PTNT Hà Nội đưa ra. Đó là:
- Môi trường sản xuất: Bao gồm đất, nước, không khí không bị
nhiễm bẩn do nước thải của thành phố, các khu công nghiệp và khí thải
của xe cơ giới.
- Phương thức và trình độ sản xuất: RAT phải sản xuất trong vùng được
quy hoạch có tổ chức và quản lý chặt chẽ, nhất là phân bón và thuốc BVTV.
Người sản xuất phải tự nguyện, tự giác, có kiến thức và tiếp thu được quy
trình sản xuất mới.
- Giống và thời vụ gieo trồng: Giống có chất lượng và sức chống chịu
cao trong khung thời vụ tốt nhất, thích hợp cho từng loại giống.
- Đất trồng: phải là nơi đất thích hợp cho từng loại rau phát triển, tốt

Sản xuất rau cũng có đặc điểm chung của sản xuất nông nghiệp là: đối
tượng của sản xuất nông nghiệp là sinh vật; đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu,
đặc biệt và không thể thay thế; sản xuất được phân bố trên phạm vi không
gian rộng lớn; sản phẩm vừa tiêu dùng tại chỗ, vừa trao đổi trên thị trường;
cung và cầu về nông sản hàng hoá mang tính thời vụ; nông nghiệp liên quan
chặt chẽ đến các ngành công nghiệp và dịch vụ. Ngoài ra, sản xuất rau có
những đặc điểm sau:
- Rau là loại cây trồng ngắn ngày, phong phú về chủng loại, lại rất mẫn
cảm với sâu bệnh, rất thích hợp với việc trồng xen, trồng gối. Tính chống chịu
sâu bệnh của rau kém, mức độ nhiễm sâu bệnh cao, vì thế hầu hết các loại rau
đều phải trải qua một thời gian ở vườn ươm trước khi đưa ra sản xuất đại trà ở
đồng ruộng. Do vậy, đòi hỏi người trồng rau phải có trình độ hiểu biết và kỹ


10
thuật canh tác nhất định, đồng thời không ngừng nắm bắt kịp thời những tiến
bộ kỹ thuật (TBKT) mới.
- Rau có đặc điểm yêu cầu chăm sóc tỷ mỷ, phải đầu tư nhiều công
lao động, cẩn thận, thường xuyên. Đặc điểm này là do cấu tạo của cây
rau. Đa số rau có lá và thân rất mềm, bộ rễ của rau nhỏ, yếu. Vì thế,
người sản xuất rau phải nắm bắt được yêu cầu cụ thể của từng loại rau để
bố trí thời vụ gieo trồng thích hợp nhằm sản xuất đúng thời vụ đạt năng
suất cao.
- Rau là loại sản phẩm có hàm lượng nước khá cao (khoảng 70-80%), dễ
hỏng, khó bảo quản do cồng kềnh, dễ bị dập nát dẫn đến hao hụt về trọng
lượng và phẩm chất trong khi thu hoạch và vận chuyển. Do vậy, nên bố trí sản
xuất tập trung, chuyên canh, bảo quản và chế biến tốt, đảm bảo vận chuyển và
tiêu thụ nhanh chóng, kịp thời.
- Ngành sản xuất rau là ngành mang tính hàng hóa cao, thể hiện ở chỗ,
sau khi thu hoạch, sản lượng rau trở thành hàng hoá trao đổi trên thị trường

lượng đất, địa hình, vị trí đất. Nếu đất đai bằng phẳng, đủ rộng, màu mỡ,
không bị ô nhiễm, thuận lợi cho tưới tiêu, thu hoạch và tiêu thụ sản phẩm sẽ
là điều kiện rất thuận lợi để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm RAT.
Như vậy, trong quá trình sản xuất rất cần phải quy hoạch tốt việc sử dụng đất
đai, kết hợp tốt giữa sử dụng và bồi bổ đất đai.
1.3.1.2. Khí hậu, thời tiết.
Đối với RAT, các điều kiện về khí hậu, thời tiết có ảnh hưởng rất lớn
đến quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Khi các điều kiện này thuận lợi
sẽ tạo điều kiện tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, giảm giá thành, qua đó
góp phần thúc đẩy quá trình tiêu thụ sản phẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất.
Ngược lại, khi điều kiện này không thuận lợi sẽ làm giảm năng suất cây trồng,
chất lượng sản phẩm thấp, giá thành cao hơn sẽ ảnh hưởng đến hoạt động tiêu
thụ sản phẩm. Như vậy, cần phải nắm bắt và khai thác triệt để những lợi thế


12
của điều kiện tự nhiên, đồng thời tìm cách hạn chế những bất lợi do chúng
gây ra.
1.3.2. Nhóm yếu tố kỹ thuật.
1.3.2.1. Yếu tố công nghệ.
Đối với sản xuất RAT, yếu tố khoa học công nghệ quyết định đến đặc
tính của sản phẩm RAT và luôn gắn liền với quá trình sản xuất chúng. Yếu tố
khoa học công nghệ được thể hiện ở công nghệ giống, các cách thức gieo
trồng, chăm sóc, thu hoạch, trình độ cơ giới hóa,… Khi khoa học công nghệ
phát triển sẽ đưa các yếu tố mới vào quá trình sản xuất giúp tăng năng suất,
chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất. Bởi vậy, cần phải quan tâm đầu tư
nghiên cứu, thử nghiệm và đẩy nhanh quá trình ứng dụng thành tựu của khoa
học và công nghệ vào sản xuất RAT một cách hợp lý.
1.3.2.2. Yếu tố giống.
Giống đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong sản xuất RAT. Giống tốt

đặc biệt là giảm năng suất, chất lượng sản phẩm. Như vậy, đòi hỏi người sản
xuất phải nắm vững kỹ thuật sử dụng thuốc BVTV, có ý thức cao trong việc
tuân thủ quy trình kỹ thuật sản xuất RAT.
1.3.2.5. Hình thức canh tác.
Hình thức canh tác có ảnh hưởng lớn đến kết quả và hiệu quả của sản
xuất RAT. Áp dụng hình thức canh tác khác nhau sẽ cho các kết quả không
giống nhau. Thực tế ở trên thế giới và ở nước ta đang áp dụng một số hình
thức canh tác RAT cơ bản sau:
- Sản xuất RAT trong điều kiện thường trên đồng ruộng, người sản xuất
tiến hành sản xuất RAT ngay trên đồng ruộng của mình, trong điều kiện bình
thường, không có che chắn. Ưu điểm của hình thức này là đầu tư cho sản xuất
thấp, phù hợp với điều kiện của đại đa số nông dân hiện nay, nhưng lại khó
sản xuất rau trái vụ và một số loại rau ăn lá khi điều kiện thời tiết bất lợi.
- Sản xuất RAT trong điều kiện có mái che, người sản xuất tiến hành sản
xuất RAT trong điều kiện nhà lưới có mái che. Hình thức này cho phép sản


14
xuất một số loại rau trái vụ, đặc biệt là rau ăn lá trong điều kiện thời tiết
không thuận lợi, đồng thời góp phần hạn chế một số loại sâu, bệnh phát triển.
Tuy nhiên, người nông dân phải tốn tiền đầu tư xây dựng nhà lưới có mái che,
hơn nữa không phải lúc nào cây rau cũng phát triển tốt trong điều kiện nhà
lưới có mái che.
- Sản xuất RAT trong điều kiện nhà kính là hình thức sản xuất được
tiến hành trong điều kiện có thể điều tiết các yếu tố ảnh hưởng, như nhiệt
độ, ánh sáng, độ ẩm,…theo nhu cầu của cây trồng. Sản xuất RAT trong
điều kiện nhà kính có thể hạn chế được tác động xấu của thời tiết đến cây
rau, cho năng suất và chất lượng cao, nhưng phải đầu tư một khoản vốn
rất lớn, lại lâu được thu hồi, đòi hỏi người sản xuất phải rất am hiểu về
yêu cầu và quy trình kỹ thuật đối với cây rau và có trình độ để vận hành

Hình thức này kết hợp giữa lý thuyết với thực hành ngay trên đồng
ruộng, mọi người được cùng tham gia thảo luận, ra quyết định và thực
hiện. Hình thức này không chỉ giúp cho người học nắm chắc kiến thức,
mà còn có khả năng áp dụng và truyền đạt cho người khác, đồng thời
kích thích họ tự khám phá, tìm hiểu sâu hơn. Tuy nhiên, đòi hỏi phải có
đội ngũ giảng viên giỏi, nắm vững phương pháp, số lượng học viên một
lớp ít, thời gian học kéo dài.
Như vậy, trong điều kiện nguồn lực có hạn, việc lựa chọn nội dung và
hình thức đào tạo chuyển giao TBKT phù hợp với điều kiện của nông dân,
giúp họ dễ tiếp thu và áp dụng có ý nghĩa rất quan trọng.
1.3.3. Nhóm yếu tố về kinh tế - xã hội.
1.3.3.1. Vốn.
Trong sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất rau nói riêng, vốn
được biểu hiện bằng tiền của các tư liệu lao động và đối tượng lao động được
sử dụng vào sản xuất. Vốn tác động vào quá trình sản xuất không phải bằng
trực tiếp, mà bằng cách gián tiếp thông qua đất đai, cây trồng, vật nuôi,… Nó
có vai trò đảm bảo cho quá trình sản xuất được bắt đầu và tiến hành một cách


16
liên tục. Ngoài ra, vốn còn là yếu tố quyết định quy mô và cơ cấu của sản
xuất. Vì vậy vốn là một yếu tố không thể thiếu của mọi hoạt động sản xuất.
Đối với sản xuất RAT, vốn có vai trò rất quan trọng, vì sản xuất RAT
cần nhiều vốn đầu tư xây dựng CSVCKT, chi phí sản xuất thường cao hơn so
với sản xuất rau thường, đặc biệt khi áp dụng các hình thức canh tác trong nhà
lưới, nhà kính, thuỷ canh. Thiếu vốn có thể làm ảnh hưởng đến khả năng đầu
tư thâm canh, nâng cao trình độ người sản xuất, trang bị các máy móc thiết bị,
nghiên cứu, thử nghiệm giống, phân bón, thuốc BVTV mới nhằm nâng cao
năng suất, chất lượng sản phẩm. Do vậy, việc giải quyết kịp thời vốn để đáp
ứng nhu cầu phát triển sản phẩm RAT toàn là rất cần thiết trong giai đoạn

1.3.3.3. Nhu cầu thị trường.
Nhu cầu thị trường là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sản xuất và
tiêu thụ sản phẩm nói chung, RAT nói riêng. Khi nhu cầu tăng lên, sẽ kích
thích người sản xuất mở rộng qui mô sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng
sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng và như vậy sẽ thúc đẩy sản
xuất phát triển. Ngược lại, nhu cầu tiêu dùng giảm đi sẽ gây khó khăn cho tiêu
thụ sản phẩm và hạn chế sự phát triển của sản xuất.
Nhu cầu của thị trường có được thoả mạn hay không phụ thuộc vào
nhiều yếu tố, như chất lượng, giá thành, chủng loại, tổ chức tiêu thụ sản
phẩm, tâm lý, thị hiếu, thu nhập của người tiêu dùng,… Khi RAT đảm bảo
được các yêu cầu của người tiêu dùng và đem lại niềm tin cho họ, thì nhu
cầu RAT sẽ tăng cao, thúc đẩy tích cực đến quá trình sản xuất và tiêu thụ
của sản phẩm.
Chất lượng sản phẩm là yếu tố tạo nên niềm tin, ấn tượng đối với người
tiêu dùng thông qua lợi ích và độ thoả dụng mang lại cho họ. Để sản phẩm
tiêu thụ tốt, trước mắt cũng như lâu dài, chất lượng sản phẩm phải là yếu tố
coi trọng số một. Khi đó, sẽ góp phần nâng cao số lượng và giá bán sản phẩm,
tăng tính cạnh tranh của sản phẩm. Với rau xanh, chi phí cho bữa ăn hàng


18
ngày của mỗi gia đình không lớn, nếu rau đảm bảo độ an toàn, có chất lượng
cao chắc chắn sẽ dễ tiêu thụ với giá hợp lý.
Giá cả sản phẩm trong nền kinh tế thị trường là một yếu tố quan trọng, là
công cụ để nhà sản xuất cạnh tranh, thu hút khách hàng, tạo chỗ đứng cho sản
phẩm trong lòng người tiêu dùng. Việc giảm giá thành sản phẩm là cần thiết.
Sản xuất RAT, nếu tổ chức sản xuất tốt, áp dụng đúng quy trình kỹ thuật, tổ
chức bảo quản, lưu thông và phân phối sản phẩm tốt sẽ góp phần giảm giá
thành, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho khâu tiêu thụ.
Thị hiếu và thu nhập của người tiêu dùng, nói chung, là hai yếu tố quan

1.3.3.5. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất rau an toàn.
CSVCKT là một trong những yếu tố ảnh hưởng có tính quyết định đến
sự phát triển của RAT. Sản xuất RAT đỏi hỏi phải tuân thủ nghiêm ngặt điều
kiện và quy trình sản xuất. Nếu CSVCKT, như giao thông nội đồng, hệ thống
nhà lưới, nhà kính, chuyển giao TBKT, đặc biệt là hệ thống tưới tiêu không
đảm bảo sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc áp dụng các quy trình kỹ thuật và đảm
bảo điều kiện cho sản xuất RAT. Đầu tư xây dựng CSVCKT phải đi liền và
phù hợp với quy hoạch phát triển sản xuất RAT, nếu không nó sẽ làm giảm
hiệu quả của đầu tư, thậm chí lại có tác động tiêu cực đối với việc phát triển
sản xuất. Như vậy, rất cần thiết phải đầu tư xây dựng hệ thống CSVCKT đồng
bộ tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất RAT phát triển. Tuy nhiên, để làm
được việc này cần có nguồn vốn đầu tư lớn, nên huy động và sử dụng hiệu
quả vốn đầu tư có ý nghĩa rất quan trọng.
1.3.3.6. Kinh nghiệm và tập quán của người sản xuất RAT.
Theo thời gian, kinh nghiệm và tập quán sản xuất được hình thành và tích
luỹ, nó ăn sâu, bám rễ trong đầu của người nông dân, có nhiều kinh nghiệm, tập
quán tốt, song lại có những kinh nghiệm, tập quán không phù hợp với sản xuất
RAT, không dễ gì bỏ được trong ngày một, ngày hai. Đã từ lâu, người nông dân
quen sử dụng phân tươi, phân bón và thuốc BVTV hoá học tương đối tuỳ tiện


20
trong sản xuất rau. Hơn nữa, hiện nay, các vật tư đầu vào trên rất sẵn có, giá lại
rẻ khiến cho người sản xuất càng khó từ bỏ những tập quán lạc hậu, một số
người dễ quay lại với tập quán cũ do ngại hoặc thấy khó áp dụng quy trình kỹ
thuật sản xuất RAT. Do vậy, tuyên truyền, vận động, giáo dục nâng cao ý thức
cho người sản xuất cần phải được quan tâm đầy đủ giúp họ hiểu được lợi ích của
sản xuất RAT, quyết tâm từ bỏ cái cũ, cái lạc hậu để tiếp thu cái mới, cái có lợi
cho bản thân họ và cả xã hội.
1.3.3.7. Vận chuyển, bảo quản, chế biến và tiêu thụ RAT.

của sản xuất RAT phụ thuộc vào việc làm thế nào giải quyết tốt nội dung các
khâu trước, trong và sau quá trình sản xuất. Trong điều kiện sản xuất manh
mún, trình độ và năng lực sản xuất thấp, sức ép cạnh tranh lớn như hiện nay,
từng hộ gia đình đơn lẻ khó có thể giải quyết được các vấn đề đặt ra, mà cần
có sự hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau mới có thể giải quyết được. Do vậy, rất cần
thiết phải tạo lập một quan hệ sản xuất phù hợp dưới nhiều hình thức khác
nhau giúp phát huy được tiềm năng, thế mạnh của địa phương và người sản
xuất, khắc phục những khó khăn, hạn chế trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm,
nâng cao được sức tranh của sản phẩm, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người
tiêu dùng và cuối cùng là nâng cao hiệu quả, một động lực cho sự phát triển
của sản xuất.
1.3.4.2. Quản lý chất lượng RAT.
Chất lượng là một trong những yếu tố quan trọng, quyết định hành vi
tiêu dùng của khách hàng. Sản phẩm có chất lượng cao, giá cả hợp lý sẽ dễ
được người tiêu dùng chấp nhận. Người tiêu dùng biết và tin vào chất
lượng sản phẩm thông qua quá trình sử dụng, uy tín của người sản xuất hay
sự bảo đảm về chất lượng sản phẩm đã qua kiểm định. Tuy nhiên, sản
phẩm RAT giống như nhiều sản phẩm thông thường khác là khó có thể
phân biệt chất lượng bằng cảm quan và người tiêu dùng không thể mang


22
tính mạng và thời gian của mình ra để kiểm nghiệm xem có đúng là RAT
đích thực hay không. Như vậy, vấn đề làm thế nào để người tiêu dùng tin
vào chất lượng của RAT là rất cấp thiết. Hơn nữa, chất lượng RAT phụ
thuộc vào nhiều khâu, từ sản xuất, thu hoạch, bảo quản, chế biến và vận
chuyển. Cho nên, một hệ thống kiểm tra và chứng chất chất lượng tốt sẽ
góp phần giải quyết vấn đề nêu trên.
1.3.5. Nhóm yếu tố chính sách.
Trong các nền kinh tế, đặc biệt là nền kinh tế thị trường định hướng xã

ô nhiễm bởi nguồn nước thải của thành phố và khu công nghiệp được rau
xanh hấp thu. Ngoài ra, sự lạm dụng quá mức thuốc BVTV dùng để trừ sâu
bệnh, cỏ dại, cùng với phân bón các loại, như đạm, lân, kali đã làm các hoá
chất rửa trôi xuống mương, ao, hồ, thâm nhập vào các mạch nước ngầm gây ô
nhiễm. Như vậy, để hạn chế và tránh sự ô nhiễm rau do kim loại nặng gây ra
trong sản xuất RAT cần chọn đất, nước không bị ô nhiễm, sử dụng hợp lý
phân bón và thuốc BVTV.
1.4.3. Dư lượng hoá chất BVTV.
Đây là vấn đề nổi cộm nhất trong sản xuất RAT. Dư lượng thuốc
BVTV cao hơn so với mức cho phép sẽ gây hại cho sức khoẻ con người
và gia súc, thậm chí dẫn đến tình trạng tử vong. Nguyên nhân là do sử
dụng quá nhiều thuốc BVTV, sử dụng không đúng kỹ thuật, sử dụng
thuốc BVTV bị cấm, không đảm bảo thời gian cách ly,… Như vậy, nâng
cao trình độ và ý thức của người sản xuất trong sử dụng thuốc BVTV rất
cần được quan tâm.
1.4.4. Vi sinh vật gây bệnh, ký sinh trùng đường ruột và độc tố trong rau.
Vi sinh vật gây bệnh, như trứng giun trên rau rất dễ lây bệnh đường tiêu
hoá hàng loạt cho cộng đồng. Ngoài ra, dịch hại không chỉ gây hại trực tiếp
cho cây rau, chúng còn tiết ra các độc tố gây hại cho người sử dụng sản phẩm.


24
Nguyên nhân là do người sản xuất sử dụng phân chuồng tươi, phân bắc chưa
hoai mục có chứa chứng giun và một số vi sinh vật gây bệnh. Bởi vậy, rất cần
phải lưu ý và thực hiện triệt để quy trình kỹ thuật nhằm hạn chế vi sinh vật
gây bệnh, ký sinh trùng đường ruột và độc tố trong rau.
1.5. Tiêu chuẩn chất lượng rau an toàn và phân biệt rau an toàn với
rau thường.
1.5.1. Tiêu chuẩn chất lượng rau an toàn.
Trên cơ sở tham khảo bộ tiêu chuẩn VSATTP của Tổ chức Y tế Thế giới

vết bị sâu, bệnh phá hại.
Hơn nữa, dư lượng hoá chất, kim loại nặng, hàm lượng nitrat, vi sinh vật
và ký sinh trùng có trong rau không thể nhận biết được bằng mắt thường, mà
phải kiểm tra bằng các thiết bị phân tích chuyên dùng. Như vậy, đặt ra vấn đề
là làm thế nào để người tiêu dùng phân biệt được đâu là RAT, đâu là rau
thường. Do đó, kiểm tra và chứng nhận chất lượng RAT là rất quan trọng và
có ý nghĩa trong điều kiện hiện nay. Bên cạnh đó, rất cần thiết phải thiết lập
sự tin cậy giữa người sản xuất, người kinh doanh và người tiêu dùng, trong đó
người sản xuất, người kinh doanh phải đặc biệt quan tâm đến chữ tín với
người tiêu dùng.
1.6. Chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của sản xuất rau an toàn.
Phát triển, hiểu một cách chung, phản ánh toàn diện cả khía cạnh tăng
thêm về lượng và về chất được cải thiện.
Phát triển sản xuất không chỉ là sự tăng thêm về quy mô sản xuất, số
lượng sản phẩm, mà còn phải tăng năng suất và chất lượng sản phẩm trên một
đơn vị đầu vào, sao cho sản phẩm sản xuất ra ngày càng nhiều, chất lượng tốt
đáp ứng được nhu cầu người tiêu dùng.
Phát triển sản xuất RAT được hiểu là phát triển bền vững trên ba trụ cột
chính là bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội và bền vững về môi trường.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status