TIẾP cận BỆNH NHÂN THAY đổi ý THỨC và hôn mê - Pdf 34

TIẾP CẬN BỆNH NHÂN THAY ĐỔI Ý THỨC VÀ HÔN MÊ
Hôn mê là 1 tình trạng mất sự đáp ứng, mô tả những đáp ứng của bệnh nhân với
những kích thích mức độ khác nhau rất quan trọng. Thang điểm hôn mê Glasgow
(GCS) rất có giá trị tiên lượng bệnh ở những bệnh nhân chấn thương vùng đầu và
dễ dàng trong sử dụng trên lâm sàng.
Sự thăm khám và đánh giá bệnh nhân trong tình trạng hôn mê và thay đổi ý thức có
thể khó khăn đối với sinh viên thực tập bởi vì những bệnh nhân này thường trong
tình trang bệnh nặng và cần can thiệp nhanh chóng. Tiếp cận có hệ thống và dựa
vào sự suy luận rất quan trọng đối với 1 bệnh nhân hôn mê, đánh giá thần kinh
phải thực hiện theo từng bước và không thể bỏ qua những nguyên tắc cơ bản.
I/ Định nghĩa:
Hôn mê là 1 tình trạng mất ý thức, trên lâm sàng mặc dù kích thích mạnh như day
vào xương ức, mũi hay đè vào giường móng nhưng bệnh nhân vẫn nằm nhắm mắt
không thể thức tỉnh, đây là 1 tình huống điển hình của hôn mê. Một số thuật ngữ
thường được dùng để mô tả tình trạng mất ý thức như: ngủ gà, ngủ lịm, trạng thái
trơ và lơ mơ, mặc dù các từ này không chính xác lắm nhưng giúp người thầy thuốc
đánh giá tình trạng của bệnh nhân với các mức độ kích thích khác nhau. Thang
điểm hôn mê Glasgow thường được dùng để tính điểm cho bệnh nhân trong quá
trình thăm khám đánh giá mức độ nhận thức của bệnh nhân, nhưng thang điểm này
được sử dụng chủ yếu đối với bệnh nhân chấn thương vùng đầu thuộc khoa ngoại


thần kinh. Ích lợi của thang điểm này được sử dụng rộng rãi và giúp tiên lượng
được tình trạng chấn thương vùng đầu của bệnh nhân.
Sinh lý bệnh hôn mê

Trung tâm ức chế và hoạt hóa

II/ Tiếp cân lâm sàng:
Sơ đồ sau đây sẽ giúp các thầy thuốc dễ dàng trong việc tiếp cận bệnh nhân hôn mê
hoặc thay đổi ý thức:

ăn. Vì vậy khám theo hệ thống có thể giúp đánh giá được mức độ đáp ứng của
bệnh nhân.
Khám chức năng thần kinh cao cấp nên được bắt đầu bằng việc đánh giá sự thức
tỉnh của bệnh nhân. Khi tăng mức độ kích thích trên bệnh nhân thì nên ghi lại các
đáp ứng của bệnh nhân. Ví dụ, bệnh nhân nằm mắt nhắm kín nhưng khi người
khám nói chuyện lớn tiếng có thể khiến mắt của bệnh nhân có thể di chuyển một
cách chậm chạp hay không? Hoặc bệnh nhân chỉ rên rỉ nhưng không mở mắt khi
người khám day xương ức hay không? Đối với những bệnh nhân này việc thăm
khám nội dung ý thức có thể dừng lại. Tuy nhiên có một số bệnh nhân có thể đánh
thức trong thời gian ngắn thì nên đánh giá tiếp sự chú ý, ngôn ngữ, định hướng
không gian và sự thờ ơ, sao lãng một cách trình tự bởi vì trong quá trình khám có
thể phát hiện các thương tổn khu trú như mất vận ngôn, sự thờ ơ nửa người bên
trái.
Các dây thần kinh sọ nên khám tỉ mỉ vì sẽ giúp đánh giá tổn thương của thân não.
Đối với các bệnh nhân tỉnh táo, hầu hết việc khám dây thần kinh sọ khá dễ dàng.
Nhưng đối với một số trường hợp bệnh nhân không tỉnh táo để làm theo y lệnh thì
việc khám những phản xạ quan trọng của thân não là cần thiết ví dụ: phản xạ co
đồng tử, phản xạ tiền đình mắt và phản xạ nôn. Thêm vào đó nên nhớ phải soi đáy


mắt cho bệnh nhân. Ngoài ra ở các bệnh nhân thay đổi tri giác thì nên khám phản
xạ giác mạc vì đây là cách duy nhất giúp người khám đánh giá thị trường của bệnh
nhân. Trong trường hợp bệnh nhân không thể cử động mặt theo y lệnh thì cố gắng
quan sát nếp mũi má của bệnh nhân để đánh giá có tổn thương dây VII hay không?
Đôi khi bệnh nhân được đặt nội khí quản sẽ làm việc quan sát thêm khó khăn.
Nên khám vận động ở tứ chi. Nếu bệnh nhân hợp tác tốt nên bảo bệnh nhân duỗi
thẳng hai tay, nâng 2 chi dưới và người khám sẽ quan sát bên nào rơi trước nhằm
đánh giá bệnh nhân có bị yếu liệt bên nào không. Một vài dấu hiệu tổn thương thân
não như tư thế gồng cứng mất vỏ hay mất não có thể phát hiện tự nhiên hoặc qua
đáp ứng với các kích thích. Ngoài ra nên khám độ co doãi cơ và các dấu tổn

thương cột sống cổ)
Bơm 50ml nước lạnh vào
mỗi tai bệnh nhân và quan

Kích thích nhiệt

giống trên
sát sự di chuyển của mắt
về phía bị tổn thương.
Chạm 1 bên giác mạc với
đầu bằng bông và quan sát

Phản xạ giác mạc

V1 ( vào), VII (ra)
bệnh nhân nháy mắt trực
tiếp và đồng cảm.
Kích thích phía sau hầu

Phản xạ nôn

IX (vào), X/XI (ra)

với đầu tăm bông và quan
sát phản xạ nôn.


V/ Chẩn đoán phân biệt:
Về lý thuyết có 2 con đường chính gây hôn mê sâu: rối loạn chức năng thân não
hoặc đồng thời rối loạn cả hai bán cầu đại não. Trên thực tế những tổn thương bệnh

U não ( với xuất huyết trong u hoặc phù não)
- Nguyên phát.
- Di căn.
Áp xe não
Hôn mê do biến dưỡng và nhiễm độc
Chuyển hóa
1. Rối loạn điện giải
2. Rối loạn đường huyết: hạ đường huyết, hôn mê tăng áp lực thẩm thấu


3. Suy gan
4. Suy thận
5. Rối loạn chức năng tuyến giáp: hôn mê do phù niêm, nhiễm độc giáp
6. Suy thượng thận
Độc chất: rượu, thuốc điều trị tâm thần, CO, kim loại nặng
Nhiễm trùng
Thiếu oxy do thiếu máu não: suy hô hấp, ngưng tim.
Những nguyên nhân khác: xuất huyết dưới nhện, carcinoma màng não, ngất do tư
thế.

VI/ Cận lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh học:
Thăm khám lâm sàng giúp phân biệt được những nguyên nhân thực thể tại não và
bệnh lí toàn thân của hôn mê. Sự xuất hiện của những dấu hiệu thần kinh khu trú
gợi ý những tổn thương thực thể, khẩn cấp chẩn đoán hình ảnh học vùng đầu
như: CT scan không cản quang, để tìm kiếm dấu hiệu của đột quị cấp diện rộng
hoặc xuất huyết nội sọ hoặc một khối choáng chổ (CT scan có cản quang nên tránh
trong trường hợp nghi ngờ do những nguyên nhân xuất huyết cấp). Trong những
trường hợp có dấu hiệu khu trú của tổn thương thân não, sự lựa chọn đầu tiên CT
scan hơn là MRI. Mặc dù CT scan cho chất lượng kém trong tổn thương vùng



Nếu nghi ngờ tổn thương thực thể, hình ảnh học vùng đầu ưu tiên CT scan
không cản quang.



Nếu hướng đến những tổn thương toàn thể thì không thể bỏ qua những
nguyên nhân như : chuyển hóa, độc chất, nhiễm trùng.



Hình ảnh học vùng đầu trong những bệnh toàn thân có thể chỉ ra tình trạng
phù não, dấu hiệu của thiếu oxy do thiếu máu não hoặc là tổn thương 2 bên não
gây nhầm lẫn với 1 bệnh lí toàn thân.



CT scan vùng đầu nên thực hiện trước khi chọc dò tủy sống, và hầu như là
không có ngoại lệ.



EEG có thể giúp đánh gía độ sâu của hôn mê và có thể giúp đưa đến những
chẩn đoán đặc biệt.

VII/ Điều trị và tiên lương:


Việc điều trị hôn mê và tình trạng thay đổi ý thức phụ thuộc vào chẩn đoán chuyên
biệt. Các nguyên nhân do chuyển hóa, nhiễm trùng, ngộ độc hầu như đều phải điều

kinh tự động. Bệnh nhân có thể diễn tiến đến tình trạng này sau thời gian dài hôn
mê nếu họ được hỗ trợ những chức năng sống còn.
Hiện tượng “khóa trong”: dễ lầm với hôn mê, bệnh nhân bị “khóa trong” thì hoàn
toàn tỉnh, họ có thể nhận biết mà không có bất kỳ tổn thương tri giác. Thường là
tổn thương ở đáy cầu não làm bệnh nhân không thể cử động chi, mặt, giao tiếp
bằng cách nháy mắt, đưa mắt lên xuống bị giới hạn, các chức năng vận động khác
đều mất.
Chết não: Bệnh nhân được xem la chết não khi ngưng tim- phổi không hồi phục
hay mất không hồi phục chức năng não bao gồm cả thân não. Định nghĩa chết dựa


trên tiêu chuẩn như vậy thường được đề cập đến như là chết não. Nhiều viện
nghiên cứu đã đưa ra những hướng dẫn đặc biệt để chẩn đoán nhưng nói chung là
bệnh nhân phải có: hôn mê, mất phản xạ thân não, không còn phản xạ hô hấp khi
PaCO2 tăng cao( test ngưng thở). Những yếu tố khác như hạ thân nhiệt, quá liều
thuốc thường không có. Xác định lại bằng ECG sẽ thấy xuất hiện đường đẳng điện,
chụp mạch máu não sẽ thấy mất tuần hoàn não.
Điểm then chốt
1.Kéo dài đời sống thực vật sau một thời gian dài hôn mê đặc trưng bởi sự tồn tại
của chu kỳ thức – tỉnh và duy trì chức năng của hệ thần kinh tự động nhưng không
có ý thức và nhận thức.
2.Hội chứng “khóa trong” thì còn nhận thức và ý thức nhưng hầu hết có tổn thương
ở đáy cầu não làm bệnh nhân bị liệt vận động.
3.Chết não dựa trên sự mất không hồi phục chức năng của toàn hệ thống não bộ.

Các kiểu rối loạn hô hấp do tổn thương thần kinh trung ương


Phản xạ thân não


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status