HỌC VIỆN TƯ PHÁP
KHOA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ
BÀI TIỂU LUẬN
LUẬT SƯ VÀ NGHỀ LUẬT SƯ
Chuyên đề: Hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư
Thực trạng và giải pháp
Họ và tên:
Sinh ngày
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 01 năm 2012
1
Mục lục
Lời mở đầu
3
I. Hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư
4
1.
4
Sự hình thành và phát triển của trợ giúp pháp lý ở
Việt Nam
cận công lý là họ cần phải có năng lực cá nhân nhất định (hiểu biết và
năng lực dân sự), tài chính và điều kiện sống….. do vậy trợ giúp pháp lý
đã chứng minh là một công cự quan trọng để đảm bảo người nghèo, đối
tượng yếu thế khác có thể tiếp cận công lý. Nhìn thấy đuợc vai trò quan
trọng của trợ giúp pháp lý Chính phủ Việt Nam đã nỗ lực thành lập hệ
thống trợ giúp pháp lý trong toàn quốc vào 1997, đây là cột mốc quan
trọng và rõ nét trong hệ thống tư pháp của Việt Nam, đồng thời thể hiện
sự chăm lo quan tâm của Đảng và Nhà Nước đến các đối tượng nghèo và
thiệt thòi trong xã hội. Cho đến nay, hệ thống trợ giúp pháp lý ở Việt nam
đã phát triển và trở thành một trong những bộ phận quan trọng của đời
sống pháp lý và mục đích của nó là hỗ trợ người dân tiếp cận công lý.
Trãi qua một thời gian dài đi vào đời sống người dân trợ giúp pháp lý đã
được định hình và hoàn thiện thông qua Luật trợ giúp pháp lý được ban
hành ngày 29 tháng 06 năm 2006 và có hiệu lực ngày 1 tháng 01 năm
2007 nhằm khẳng định vị trí và vai trò của mình trong hệ thống tư pháp,
tạo cơ sở pháp lý cho sự pháp triển bền vững của cả hệ thống trợ giúp
pháp lý. Nhằm cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ
giúp pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết
pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật trong mọi người dân,
luật trợ giúp pháp lý ra đời đã góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp
luật, bảo vệ công lý, đảm bảo công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế
tranh chấp và vi phạm pháp luật.
Thể hiện rõ nét một trong những quyền cơ bản của các đối tượng
được trợ giúp pháp lý là quyền lựa chọn người thực hiện trợ giúp như:
Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư, Tư vấn viên pháp luật. Điều này thể hiện
sự pháp triển vượt bậc của trợ giúp pháp lý nhằm cố gắng đạt tới chất
3
lượng dịch vụ tốt nhất tạo niềm tin tuyệt đối từ các đối tượng được trợ
bất kỳ xã hội nào trong cộng đồng dân cư cũng tồn tại những người rơi
vào vị thế thấp kém so với mặt bằng chung của xã hội như: người nghèo,
người già đơn côi, người tàn tật, người chưa thành niên… thiếu sự quan
tâm chăm sóc, thương yêu của gia đình và xã hội, họ dường như bị lãng
quên trong cộng đồng xã hội, kém hiểu biết về pháp luật, do vậy họ
thường bị ức hiếp, bị đối xử bất công trái pháp luật, nhóm người này rất
cần sự giúp đở, bênh vực của những khác, đặc biệt là cần sự trợ giúp vô
tư không vụ lợi của những người có kiến thức, hiểu biết sâu rộng về pháp
luật, có trình độ chuyên môn về luật như luật sư để bênh vực và bảo vệ
quyền lợi ích hợp pháp cho họ. Hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư
đối với những đối tượng này không chỉ là bổn phận, trách nhiệm mà còn
là thước đo lòng nhân ái, đạo đức thể hiện tính nhân văn của luật sư.
So với nền tư pháp nhân dân của chế độ mới với một bề dày lịch sử,
gắn liền với sự ra đời, hình thành và phát triển của nhà nước kiểu mới –
nhà nước dân chủ nhân dân thì hoạt động trợ giúp pháp lý ra đời muộn
hơn và cũng còn mới mẻ ở Việt Nam so với các hoạt động tư pháp khác.
Hoạt động này chỉ mới ra đời vào 1997 dựa trên nền tảng những thành
tựu phát triển vượt bậc trong công cuộc đổi mới, sự kiểm nghiệm thành
công cùng những định hướng đúng đắn được vạch ra trong Cương lĩnh
xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên xã hội chủ nghĩa và sự pháp
triển của dịch vụ pháp lý nói chung và đặc biệt là nghề luật sư ở Việt
Nam nói riêng. Cùng với việc xây dựng nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân
và vì dân, Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng
5
cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Xã hội phát triển, phồn vinh cần phải
được quản lý và đảm bảo bằng pháp luật. Nhà nước thực hiện công cuộc
cải cách tư pháp vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân
đồng Bộ trưởng đã xác định rõ các trường hợp được miễn, giảm thù lao
như: nguyên đơn ở Tòa án các cấp trong các vụ việc về đòi tiền cấp
dưỡng nuôi con; khiếu nại về việc bầu cử Hội đồng nhân dân; thương
binh nặng; đòi bội thường thiệt hại do tai nạn lao động……..Ngòai ra,
những người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, hoặc trường hợp đặc biệt
khác và đương sự có đơn yêu cầu thì Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư sẽ xem
xét việc miễn hoặc giảm chi phí.
Trước bối cảnh Việt Nam tham gia ngày càng sâu rộng vào nền
kinh tế thế giới, việc mở rộng quan hệ đầu tư, hợp tác với các nước ngày
càng đòi hỏi phải phát triển thị trường dịch vụ pháp lý của luật sư. Yêu
cầu đó đặt ra vấn đề cần tạo môi trường, hành lang pháp lý thuận lợi cho
hoạt động của các tổ chức luật sư nước ngoài vào hành nghề tại Việt
Nam nhằm góp phần thúc đẩy đầu tư và phát triển kinh tế đối ngoại
trong thời kỳ đổi mới đất nước. Trước yêu cầu đó, ngày 18 tháng 05 năm
1995, tại phiên họp Ban bí thư Trung ương Đảng, nguyên Tổng bí thư Đỗ
Mười khẳng định “ Chúng ta cần chú ý đến các biện pháp để tăng cường
hoạt động pháp lý mang tính kinh doanh, dịch vụ phục vụ đầu tư nhưng
cũng cần chú trọng công tác tư vấn, hướng dẫn pháp luật cho nhân dân,
mà đặc biệt là người nghèo, đồng bào dân tộc ít người. Công tác này
chưa được quan tâm đúng mức. Đây là một vấn đề cần được nghiên cứu
và làm ngay trong thời gian tới”.
Ngày 06 tháng 09 năm 1997, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành
Quyết định số 734/TTg thành lập hệ thống tổ chức trợ giúp pháp lý của
7
Nhà nước. Theo đó, Trương ương, Cục Trợ giúp pháp lý thuộc Bộ Tư
pháp được thành lập – căn cứ vào Điều 1, ở các tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương, Trung tâm trợ giúp pháp lý của Nhà nước trực thuộc
Sở Tư pháp được thành lập – căn cứ vào Điều 4. Cục Trợ giúp pháp lý
của các tổ chức, đoàn thể xã hội trong việc huy động, tạo điều kiện
khuyến khích các nguồn lực xã hội tham gia trợ giúp pháp lý giúp họ tiếp
cận và nhận thức về pháp luật.
Để đáp ứng yêu cầu tư vấn pháp luật và giúp đỡ về mặt pháp lý cho
mọi đối tượng, Luật Luật sư ra đời đã được Quốc hội khóa XI kỳ họp thứ
9 thông qua ngày 29 tháng 06 năm 2006. Nhận thức được đối tượng chủ
yếu là người nghèo, đối tượng chính sách, cần được trợ giúp về nhiều
mặt trong đó có vấn đề cần trợ giúp về mặt nhận thức pháp lý, cũng tại
kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XI, thông qua Luật Trợ giúp pháp lý ngày
29 tháng 06 năm 2006. Đây là văn bản pháp lý cao nhất, được thể chế
hóa thành luật và quy định đối tượng đặc thù cần trợ giúp về mặt pháp lý.
Thể hiện sự nhận thức đúng đắn, sự quan tâm hợp lý của Đảng và Nhà
nước về công tác trợ giúp pháp lý cho một nhóm đối tượng cụ thể, đánh
dấu bước chuyển về chất và đưa công tác trợ giúp pháp lý lên một tầm
cao mới phù hợp với yêu cầu phát triển của thực tiễn đất nước.
2. Vai trị của luật sư trong hoạt động trợ giúp pháp lý
Tham gia trợ giúp pháp lý là bổ phận, trách nhiệm với xã hội, là
đóng góp rất có ý nghĩa, rất nhân văn của Luật sư
Theo Điều 6 Pháp lệnh Luật sư năm 2001 về khuyến khích hoạt
động trợ giúp pháp lý quy định “ Nhà nước và xã hội khuyến khích các
luật sư và các tổ chức hành nghề luật sư tham gia hoạt động trợ giúp pháp
9
lý miễn phí cho người nghèo và người được hưởng chính sách ưu đãi
theo quy định của pháp luật”.
Tại Điều 6 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 quy định “ Nhà nước
giữ vai trò nòng cốt trong việc thực hiện, tổ chức thực hiện trợ giúp
pháp lý; khuyến khích, tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và
các tổ chức thành viên, tổ chức hành nghề luật sư và Luật sư, cơ quan,
- Tham gia phiên tòa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
trong các vụ án hôn nhân và gia đình, dân sự, lao động.
Tuy tác nghiệp về chuyên môn nghiệp vụ trong các vụ việc giúp đỡ
cho các đối tượng chính sách, người nghèo cũng giống như đối với các
khách hàng có thù lao, nhưng trong các hoạt động trợ giúp pháp lý cũng
có những điểm khác, đòi hỏi luật sư phải có kỹ năng và chuyên môn đặc
biệt cụ thể. Đặc biệt, trong hoạt động trợ giúp trong tố tụng với các chủ
thể là đối tượng đặc biệt như:
Phụ nữ: thường là nạn nhân của bạo lực gia đình, cô đơn, góa bụa,
bị ruồng bỏ, không có điều kiện kinh tế, yếu thế. Do vậy việc tìm hiểu
hoàn cảnh và các tình tiết éo le trước khi nghiên cứu hồ sơ và tham gia
phiên tòa là rất cần.
Trẻ em: thường là nạn nhân của sự bóc lộc sức lao động, việc sử
dụng lao động trái quy định pháp luật về lao động, là nạn nhân của sự
ngược đãi, đánh đập, bị bỏ mặc, không quan tâm, giáo dục của gia đình,
do đó bị đẩy vào con đường phạm tội.
Người già và người tàn tật: Cần phải tìm hiểu hoàn cảnh gia đình,
con cái của họ, và cuộc sống hiện tại của họ để có thể tìm ra biện pháp
bảo đảm quyền lợi cho họ.
11
Thanh thiếu niên: đây là loại người dễ bị kích động do bị lôi kéo bởi
những phần tử xấu trong xã hội dẫn đến phạm tội. Để công tác bào chữa
có hiệu quả, cần phải nghiên cứu hoàn cảnh phạm tội, chỉ ra cho họ thấy
con đường sai lầm mà họ đã phạm vào và hướng sửa chữa thành người
công dân có ích cho xã hội.
3. Thực trạng hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư
Luật trợ giúp pháp lý và Luật Luật sư cùng chính thức có hiệu lực
thi hành bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 năm 2007. Với hai đạo luật cơ bản
động trợ giúp pháp lý trong tố tụng hình sự. Trong đó tháo gỡ khá nhiều
vướng mắc đối với hoạt động của luật sư khi tham gia bào chữa tại các
vụ án hình sự. Cụ thể, cơ quan tiến hành tố tụng sẽ giảm bớt các thủ tục
hành chính không cần thiết, tạo điều kiện cho luật sư do trung tâm giới
thiệu trong việc cấp giấy chứng nhận người bào chữa, nghiên cứu hồ sơ,
tiếp xúc với các đối tượng và thực hiện các quyền, nghĩa vụ khác theo
quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bên cạnh đó, còn thực hiện xác
nhận cho luật sư về thời gian nghiên cứu hồ sơ, thời gian tiếp xúc đối
tượng tại nơi tạm giam, tạm giữ. Mặt khác, đối với những người bị tạm
giữ, bị can, bị cáo mà trong hồ sơ vụ án thể hiện là người chưa thành
niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần thì các cơ quan tiến
hành tố tụng thông báo bằng văn bản cho trung tâm mà không cần đơn
của đối tượng….Mặt khác, mỗi năm các luật sư phải thực hiện một số vụ
trợ giúp pháp lý miễn phí nhất định. Đây được coi là việc các luật sư thực
hiện trách nhiệm đối với xã hội. Tuy nhiên vì kinh phí còn hạn chế nên
13
các luật sư cũng không hào hứng với hoạt động này. Vậy nguyên nhân
thực trạng trên là do đâu?
Về khách quan, mặc dù hoạt động trợ giúp pháp lý đã bắt đầu tiến
hành nhưng theo điều tra chỉ có 6% số dân biết về hoạt động này mặc dù
nhu cầu trợ giúp pháp lý của nhân dân rất lớn và trên thực tế công tác này
cũng chưa đáp ứng được yêu cầu của đông đảo quần chúng. Số lượng cán
bộ pháp lý, Cộng tác viên thời gian tại các Trung tâm Trợ giúp pháp lý
của Nhà nước chưa nhiều. Công tác trợ giúp pháp lý lưu động đến vùng
sâu vùng xa, đồng bào dân tộc, hàng năm đã triển khai nhưng cũng có
những hạn chế nhất định, đội ngũ luật sư hiện nay đã phát triển nhanh
chóng về số lượng và chất lượng, tuy nhiên so với nhu cầu về dịch vụ
pháp lý và xu thế gia tăng của nhu cầu này trong những năm tới thì số
GIÚP PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ
Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và hòa
mình vào dòng chảy toàn cầu hóa, pháp luật Việt Nam nói chung và pháp
luật về luật sư nói riêng đã không ngừng hoàn thiện, sửa đổi bổ sung để
tạo cơ sở pháp lý cho việc phát triển đội ngũ luật sư và nâng cao hiệu quả
hoạt động của đội ngũ luật sư. Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
đặt ra yêu cầu cấp bách là đất nước cần có một đội ngũ luật sư có tài năng
và có đạo đức nghề nghiệp. Người luật sư tham gia trợ giúp pháp lý phải
có tâm, có tầm, có nghị lực, có sức khỏe cộng với sự cảm thông, chia sẻ
với những đối tượng kém may mắn, người nghèo, người khuyết tật, trẻ
em…. Bên cạnh đó còn đòi hỏi người luật sư phải có tính kiên trì, nhẫn
nại, chịu khó, biết lắng nghe, hiểu tâm lý từng nhóm người vì việc tiếp
15
cận với người yếu thế đôi khi khó khăn, trở ngại trong việc đi lại do họ ở
vùng sâu, vùng xa, với rào cản về tiếng nói, nhận thức, tâm lý và sự kỳ
thị. Lĩnh vực trợ giúp pháp lý mang tính đặc thù bởi đối tượng trợ giúp
pháp lý được quy định tại Điều 10 Luật trợ giúp pháp lý năm 2006. Dưới
góc độ nào đó, người luật sư tham gia trợ giúp pháp lý là người đi làm
phúc, là những người có nghĩa hiệp. Hoạt động trợ giúp pháp lý miễn phí
của luật sư thể hiện được vai trị x hội của mỗi luật sư và giới luật sư với
cộng đồng x hội, thể hiện trch nhiệm x hội của giới luật sư trong việc
quan tâm tới những vấn đề x hội. Biết chia sẻ, biết đùm bọc, thương yêu,
đoàn kết, kế thừa phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc bằng
tấm lịng v khả năng vốn có của mình.
Luật trợ giúp pháp lý năm 2006 quy định “ Nhà nước giữ vai trò
nòng cốt trong việc thực hiện, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, khuyến
khích, tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành
viên, tổ chức hành nghề luật sư và luật sư, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác
về luật sư và hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư hiện nay là rất cần
thiết. Trợ giúp pháp lý ở Việt Nam cũng như hoạt động trợ giúp pháp lý
của luật sư rất cần một chiến lược thực thụ.
Luật sư là một nghề cao quý, đã đang và sẽ được xã hội tôn vinh, giới
luật sư Việt Nam đã có Liên đoàn Luật sư, các Đoàn luật sư tỉnh, thành
phố. Đó là điều kiện rất tốt để luật sư phát triển, đóng góp cho sự nghiệp
đổi mới đất nước, cho xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Luật sư càng
được trân trọng hơn khi họ không lấy lợi ích vật chất làm mục đích duy
nhất mà còn biết tích cực tham gia hoạt động trợ giúp pháp lý miễn phí.
Luật sư và các tổ chức hành nghề luật sư khi tham gia trợ giúp pháp lý sẽ
17
có điều kiện, có cơ hội tiếp xúc với những người bất hạnh nhưng có nghị
lực vươn lên, tiếp cận với những người có hoàn cảnh khó khăn, nhưng vẫn
giữ cuộc sống trong sạch. Cũng chính từ đó sẽ mang lại cho luật sư sự tin
yêu cuộc sống, nghị lực để làm việc và cống hiến tốt hơn. Chúng ta hãy tin
rằng thời gian tới, công tác trợ giúp pháp lý sẽ có thêm nhiều cộng tác viên
là luật sư tham gia vào công tác trợ giúp pháp lý bằng cả nhiệt huyết, sự tự
nguyện, vô tư nhằm góp phần bảo vệ công lý và công bằng xã hội.
Tài liệu tham khảo
- Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam 2011;
- Luật Luật sư năm 2006;
- Luật trợ giúp pháp lý năm 2006;
- Pháp lệnh luật sư năm 2001;
- Pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987;
- Sắc lệnh số 46/SL ngày 10 tháng 10 năm 1945;
- Quyết định số 734/TTg ngày 06 tháng 09 năm 1997;
- Các văn bản hướng dẫn khác;