MỞ ĐẦU
Con người để tồn tại họ cần phải có những lợi ích vật chất nhất định để đáp
ứng nhu cầu ăn, mặc, ở … của mình. Tuy nhiên không như tài sản có thể tồn tại
mãi mãi thì con người theo qui luật tự nhiên là sẽ không thể sống được mãi mà
phải chết đi. Bởi vậy, việc dịch chuyển tài sản của người chết cho người còn
sống đã tồn tại như một yêu cầu khách quan của xã hội và được hiểu đó là việc
thừa kế tài sản. Có một vấn đề đặt ra là nếu chỉ hiểu việc thừa kế tức là một
người trước khi chết đã để lại di chúc phân chia di sản của mình cho những
người khác thì không chính xác. Nếu như vậy thì khi người chết không để lại di
chúc hay dic chúc bị vô hiệu thì di sản của người đó sẽ thuộc về ai ?
Từ những điều trên pháp luật đã qui định thừa kế có hai loại là thừa kê stheo
di chúc và thừa kế theo pháp luật. Trong bài viết lần này em xin đi sâu phân tích
một yếu tố quan tọng của thừa kế theo pháp luật: “Một số vấn đề về diện và
hàng thừa kế theo qui định của pháp luật hiện hành”.
I. Khái niệm chung về thừa kế, diện và hàng thừa kế
1. Thừa kế
Là một quan hệ ra đời và tồn tại từ rất lâu tỏng đời sống xã hội, thừa kế đã
được điều chỉnh bởi các qui phạm pháp luật dân sự, một ngành luật điều chỉnh
mối quan hệ về tài sản mang tính chất ngang giá và giữa các chủ thể đều bình
đẳng về địa vị pháp lý. Như một điều tất yếu quyền thừa kế khi được điều chỉnh
bởi pháp luật nó đã trở thành một phạm trù pháp lý mang tính chủ quan và bị
ảnh hưởng bởi những điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội. Có thể nói quan hệ
thừa kế là quan hệ tài sản do Luật dân sự điều chỉnh được được xác định là một
quan hệ tuyệt đối giống quan hệ sở hữu, trong đó chỉ xác định được một bên
chủ thể mang quyền là người để lại di sản hoặc những người thừa kế, còn các
1
chủ thể khác là những người phải có nghĩa vụ tôn trọng quyền để lại di sản thừa
kế và quyền hưởng di sản thừa kế của họ.
Diện những người thừa kế theo pháp luật là phạm vi những người có quyền
hưởng di sản thừa kế được chia theo pháp luật mà khi còn sống người để lại di
sản có mối quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân, quan hệ nuôi dưỡng với
những người trong phạm vi thuộc một hoặc các mối quan hệ đó:
- Quan hệ hôn nhân: Xuất phát từ việc kết hôn giữa vợ và chồng.
- Quan hệ huyết thống: Quan hệ giữa những người cùng dòng máu (Cụ với ông,
bà; Ông, bà với cha mẹ; Cha mẹ với các con; Anh chị em ruột...)
- Quan hệ nuôi dưỡng: Xuất phát từ sự quan tâm, chăm sóc, nuôi dưỡng lẫn
nhau giữa những người không cùng huyết thống hay không có quan hệ hôn
nhân (Cha mẹ nhận nuôi con nuôi)
Trên cơ sở xác định diện thừa kế, pháp luật quy định hàng thừa kế theo pháp
luật là nhóm những người có cùng mức độ gần gũi với người chết và sẽ được
hưởng phần di sản theo nguyên tắc ưu tiên hàng thừa kế và những người thừa kế
cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
II. Một số vấn đề về diện và hàng thừa kế theo quy định của pháp
luật hiện hành
1. Về diện thừa kế theo pháp luật hiện hành
a. Diện thừa kế dựa trên quan hệ hôn nhân
Theo như khoản 6 điều 8 Luật hôn nhân và gia đình đã quy định: “Hôn nhân
là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn”. Khoản 2 điều 8 ghi rõ: “Kết
3
hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo qui định của pháp luật về
điều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn”. Như vậy, quan hệ hôn nhân hợp pháp là
quan hệ giữa vợ và chồng khi kết hôn đã tuân thủ các điều kiện và các thủ tục
pháp luật quy định. Sau khi kết hôn, vợ và chồng có quyền và nghĩa vụ đối với
nhau và một trong những quyền mà vợ chồng được pháp luật thừa nhận theo
thừa nhận những trường hợp nam nữ lấy nhau tuy không đăng ký kết hôn nhưng
vẫn chung sống trong quan hệ vợ chồng là hôn nhân thực tế. Đó là các trường
hợp cán bộ, bộ đội miền Nam đã có vợ hoặc chồng ở miền Nam, tập kết ra Bắc
(1954) đã lấy vợ hoặc chồng khác. Do vậy quan hệ vợ chồng chưa đăng ký mà
được xác lập trước 3-1-1987, thì việc kết hôn không bị hạn chế và được pháp
luật cho phép. Nhưng đối với nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ 31-1987 đến ngày 1-1-2001 mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật
hôn nhân và gia đình năm 2000, thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn. Từ sau ngày
1-1-2001 mà họ không đăng ký kết hôn, thì pháp luật không công nhận họ là vợ
chồng.
b. Diện thừa kế dựa trên quan hệ huyết thống
Quan hệ huyết thống ở đây hiểu là quan hệ giữa những người có cùng dòng
máu về trực hệ (cha, mẹ đối với con; ông, bà đối với cháu; cụ đối với chắt) hoặc
bàng hệ (quan hệ giữa anh, chị, em ruột; quan hệ giữa bác, chú, cô, dì, cậu ruột
với cháu và ngược lại)
• Quan hệ huyết thống về trực hệ
Trước hết là quan hệ giữa cha mẹ đối với con, Luật dân sự cũng như luật hôn
nhân luôn bảo vệ quyền lợi của cha mẹ cũng như con trong các quan hệ của
cuộc sống và nhất là quan hệ về quyền thừa kế. Các con đẻ của người để lại di
sản, không phân biệt con trai hay con gái, con trong giá thú hay ngoài giá thú,
có năng lực hành vi dân sự hay không có năng lực hành vi dân sự…theo quy
định của pháp luật, họ đều thuộc diện thừa kế theo pháp luật của nhau vì giữa
5
họ với cha, mẹ đẻ có quan hệ huyết thống và ngược lại cha mẹ cũng có quyền
hưởng thừa kế của các con. Do vậy việc xác định cha, mẹ đối cới con hay ngược
lại đều có ý nghĩa rất quan trọng không những là cơ sở để xác định quyền và
nghĩa vụ của cha,mẹ và con đối với nhau trong quan hệ gia đình, mà còn là cơ
sở để xác định diện thừa kế giữa cha,mẹ và các con trong trường hợp một trong
điều 676 BLDS năm 2005) . Như vậy ,họ hưởng di sản cùng với cụ nội,cụ ngoại
của người chết cũng như với con cảu anh chị em của người chết
Nhìn chung, diện thừa kế theo quan hệ huyết thống quy định tại BLDS năm
2005 đã được mở rộng đến ông bà nội, ngoại; anh chị em ruột, cháu ruột của
người chết mà người chết là ông bà nội ngoại của người chết; bác ruột,chú
ruột,cậu ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết là bác ruột, chú
ruột, dì ruột, cô ruột, cậu ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội,
cụ ngoại.
Tuy nhiên , pháp luật cũng loại trừ quyền thừa kế của những người trong
diện thừa kế nếu có hành vi trái pháp luật được quy đinh tại điều 643 BLDS,
người từ chối hưởng di sản hoặc người bị truất quyền hưởng di sản nếu người
đó không thuộc diện những người theo điều 669.
c. Diện thừa kế dựa trên quan hệ nuôi dưỡng
Quan hệ nuôi dưỡng chỉ được xác định là quan hệ giữa cha mẹ nuôi với con
nuôi và ngược lại. Việc xác định quan hệ nuôi dưỡng giữa cha mẹ nuôi với con
nuôi thông qua sự kiện nhận nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật. Theo đó
việc nhận con nuôi phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện thì mối quan hệ nuôi
dưỡng mới được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Điều 67 Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Nuôi con nuôi và việc xác lập
quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm
con nuôi, bảo đảm cho người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi
7
dưỡng, chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội ….”. Cụ thể người nhận
con nuôi và người được nhận làm con nuôi phải đáp ứng đầy đủ các quy định
trong điều 68, 69 Luật hôn nhân và gia đình. Việc nhận con nuôi có thể chỉ là
vợ hoặc chồng cũng có thể là cả vợ chồng cùng nhận (điều 70), việc nhận con
nuôi phải được sự cho phép của cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của người được
luật qui định những người được quyền hưởng di sản thừa kế được xếp theo thứ
tự các hàng thừa kế theo nguyên tắc ưu tiên và những người thừa kế cùng hàng
được hưởng phần di sản bằng nhau.
a. Hàng thừa kế thứ nhất
Điểm a khoản 1 điều 676 chỉ rõ những người thuộc hàng thứa kế thứ nhất
gồm: “vợ, chồng,cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi , mẹ nuôi ,con đẻ, con nuôi của người
chết”
Vợ, chồng luôn ở hàng thừa kế thứ nhất của nhau nhưng trong điều kiện
nhưng chỉ coi là vợ chồng khi mối quan hệ đó dựa trên quan hệ hôn nhân hợp
pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Đặc biệt điều 680 BLDS còn quy
định những trường hợp đặc biệt mà vơ chồng có thể hưởng thừa kế của nhau:
“1. Trong trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung khi hôn nhân còn tồn tại
mà sau đó một người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản.
2. Trong trường hợp vợ, chồng xin ly hôn mà chưa được hoặc đã được Tòa án
cho ly hôn bằng bản án hoặc quyết định chưa có hiệu lực pháp luật, nếu một
người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản.
3. Người đang là vợ hoặc chồng của một người tại thời điểm người đó chết thì
dù sau đó đã kết hôn với người khác vẫn được thừa kế di sản”.
Theo như điều 680 thì vợ, chồng vẫn thuộc hàng thừa kế thứ nhất của nhau
khi mà vợ, chồng đã chia tài sản chung nhưng cả hai vẫn có quyền hưởng di sản
của nhau, vợ chồng đã xin ly hôn nhưng bản án chua có hiệu lực và trường hợp
9
vợ chồng vẫn đnag là vợ chồng của một người tại thời điểm họ chết thì vẫn
được hưởng di sản cho dù sau đó đã kết hôn với người khác.
Đối với trường hợp một người có nhiều vợ, nhiều chồng được pháp luật
thừa nhận: Đó là các trường hợp có nhiều vợ nhiều chồng trước ngày 13/1/1960
ở miền Bắc, trước ngày 25/3/1977 ở miền Nam, cán bộ miền Nam tập kết ra
sẽ hưởng thừa kế. Nhưng nếu trong điều kiện cha mẹ cháu là người không được
hưởng di sản theo điều 643, từ chối nhận di sản hay bị truất quyền hưởng di sản
thì cháu sẽ không được hưởng thừa kế của ông bà để lại. Xuất phát từ lý do này,
để đảm bảo quyền lợi cho những người cháu ruột pháp luật đã quy định cháu
ruột là người thuộc hàng thừa kế thứ hai của ông bà nếu ông bà chết.
Anh, chị, em ruột cũng thuộc hàng thừa kế thứ hai của nhau. Mặc dù pháp
luật không quy định cụ thể nhưng có thể hiểu anh chị em ruột là anh chị em,
cùng cha hoặc cùng mẹ sinh ra nên giữa họ có mối quan hệ thuyết thống. Trong
gia đình, nếu không còn bố mẹ thì các anh, chị, em phải yêu thương chăm sóc
nuôi dưỡng nhau. Nếu anh chị ruột chết trước em ruột thì em ruột được hưởng
thừa kế của anh, chị ruột và ngược lại.
c. Hàng thừa kế thứ ba
Điểm c khoản 1 điều 676 quy định:
“Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột,
cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người
chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết
mà người chết là cụ nội, cụ ngoại”
Việc quy định chắt ruột thuộc hàng thừa kế thứ ba của cụ và ngược lại là sự
bổ sung kịp thời cho những điểm bất hợp lý về quyền lợi của chắt khi không
thuộc diện thừa kế của cụ nội, ngoại tại điều 679 BLDS năm 1995. Hầu hết
11
quan hệ thừa kế giữa chắt với các cụ ở hàng thừa kế thứ ba cũng giống với cháu
với ông bà ở hàng thừa kế thứ hai.
Bác ruột, chú ruột, cô ruột là anh, chị, em của bố đẻ của cháu; bác ruột, cậu
ruột, dì ruột và anh, chị, em (ruột) của cháu. Bác ruột, chú ruột, cô ruột, cậu
ruột, dì ruột thuộc hành thừa kế thứ hai của cháu ruột chết và ngược lại.
Theo như BLDS qui định rằng những người bị truất quyền thừa kế nếu như
không thuộc các trường hợp cá nhân thuộc điều 669 thì sẽ không được hưởng di
sản của người chết dưới bất kì hình thức nào (thừa kế theo di chúc hay thừa kê
stheo pháp luật). Tuy nhiên nếu người bị truất thuộc hàng thứ nhất mà đương
nhiên được hưởng thừa kế theo pháp luật vì những lý do như không vâng lời,
không đáp ứng những điều kiện mà người để lại di sản đề ra hay …. mà lại truất
quyền của họ thì như vậy liệu có “công bằng” cho họ ?
Hay như những trường hợp cha mẹ bỏ bê không quan tâm đến con cái, mà
người con đó chỉ được anh chị hay em quan tâm chăm sóc chú đáo. Rồi khi
người con chết bất ngờ (do tai nạn, đột tử …) mà chưa có vợ con và cũng không
để lại di chúc thì tài sản đó sẽ được chia theo pháp luật và sẽ thuộc về cha mẹ
của người con đấy. Vậy những người chị người anh người em sẽ không được
hưởng bất kì phần di sản nào vì anh chị em ruột chỉ thuộc hàng thừa kế thứ hai !
Luật qui định rằng không được phân biệt đối xử giữa con đẻ, con nuôi, con
trong giá thú, con ngoài giá thú … Vậy thì tại sao lại phân biệt giữa cháu nuôi
với cháu ruột trong thừa kế thế vị ? Theo qui định thì chỉ có cháu ruột được thừa
kế thế vị của ông bà để lại trong trường hợp cha mẹ cháu chết cùng hoặc chết
trước ông bà, còn cháu nuôi thì cho dù cha mẹ nuôi chết trước hoặc chết cùng
ông bà thì cũng không được hưởng thừa kế. Theo qui định về diện và hàng thừa
kế thì giữa người được thừa kế và người để lại di sản thừa kế phải có một trong
ba mối quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng. Nhưng việc qui định cháu
13
nuôi không được hưởng thừa kế thế vị phải chăng là “cô lập” cháu nuôi và cháu
nuôi chỉ phải có quyền và nghĩa vụ với cha mẹ nuôi còn những người khác như
ông bà, cô dì chú bác, anh em … của cha mẹ nuôi thì không cần quan tâm tới ?
Bên cạnh đó do sự phát triển của khoa học công nghệ, nhiều trẻ em sinh ra
dưa trên những phương pháp sinh học, gien …. Thì pháp luật chưa qui định rõ
những người con này có thuộc diện và hàng thừa kế theo pháp luật hay không ?
1. Giáo trình Luật dân sự Việt Nam, TS. Lê Đình Nghị, Nxb. Giáo dục
Việt Nam, 2010
2. Luật thừa kế Việt Nam (sách chuyên khảo), TS Phùng Trung Tập,
Nxb. Hà Nội, 2010
3. Diện và hàng thừa kế theo quy định của Bộ luật dân sự 2005, Phan Thị
Kim Chi (Luận văn thạc sĩ Luật học), 2006
4. Bộ Luật dân sự năm 2005 của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam
5. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 của nước Cộng hòa XHCN Việt
Nam
16