links ôn thi các môn: http://tailieuonthithptquocgia2016.blogspot.com/
TUYỂN TẬP 45 BỘ ĐỀ THI THỬ
THPT QUỐC GIA MÔN NGỮ VĂN
NĂM 2016
Của các trường chuyên trong cả nước
(có đáp án và thang điểm)
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 19/04/2016
SỞ GD& ĐT LÀO CAI
TRƯỜNG THPT CHUYÊN
ĐỀ THI THỬ - KỲ THI THPT QUỐC GIA
NĂM HỌC 2015 - 2016
Môn: Ngữ văn
Thời gian làm bài: 180 phút
PhầnI.Đọc hiểu (3,0 điểm):
Đọc bài thơ sau đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4:
Con sẽ không đợi một ngày kia
khi mẹ mất đi mới giật mình khóc lóc
Những dòng sông trôi đi có trở lại bao giờ?
Con hốt hoảng trước thời gian khắc nghiệt
Chạy điên cuồng qua tuổi mẹ già nua
mỗi ngày qua con lại thấy bơ vơ
mấy kẻ đi qua
mấy người dừng lại?
sao mẹ già ở cách xa đến vậy”
tác giả muốn nói điều gì ? (0,5 điểm )
Câu 4:Viết đoạn văn khoảng 5 dòng trình bày cảm xúc khi đọc xong đoạn thơ? (
0,5 điểm )
Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 5 đến Câu 8:
Thư Các Mác gửi con gái.
Con ơi! Dù con sợ Tình yêu, Tình yêu vẫn cứ đến.
Con đừng bao giờ tự hỏi rằng người yêu con có xứng với con không? Cái thứ
Tình yêu mà lại mặc cả như món hàng ngoài chợ thì không còn gọi là tình yêu
được nữa. Yêu là không so tính thiệt hơn, con ạ!
Nếu người con yêu là một người nghèo khổ thì con sẽ cùng người ấy chung sức
lao động để xây đắp tô thắm cho Tình yêu. Nếu người yêu của con già hơn con
thì con làm cho người đó trẻ lại với con. Nếu người yêu con bị cụt chân thì con
sẽ là cái nạng vững chắc nhất đời họ. Tình yêu đẹp nhất sẽ đến với con nếu con
nghĩ và làm đúng lời cha dạy.
Nhưng con cũng phải luôn tự hỏi xem người đó yêu con vì lẽ gì. Nếu người đó
yêu con vì sắc đẹp, con nên nhớ sắc rồi sẽ tàn. Nếu người đó yêu con vì có chức
tước cao thì khẳng định người đó không yêu con, con hãy từ chối và bảo họ rằng
địa vị không bao giờ làm sung sướng cho con người, chỉ có sự làm việc chân
chính mới thoả mãn lòng người chân chính.
Con phải độ lượng, phải giàu lòng vị tha nếu có sự hối hận thực sự. Con phải
chung thuỷ với người con yêu. Nếu con làm mất hai chữ quý báu ấy, con sẽ hổ
thẹn không lấy gì mà mua lại được. Con sẽ không được quyền tự hào với chồng,
với con, với xã hội. Nếu con dễ dàng để cho 1 kẻ xa lạ nào đó đặt cái hôn gian
manh bẩn thỉu lên môi con, thì trước khi hôn họ đã khinh con, đang khi hôn họ
cũng khinh con và sau khi hôn họ càng khinh con hơn nhất.
Ai sẽ vì con mà chăm sóc đời con, vui khi con có tin mừng, buồn khi con không
may, nhất định đó là chồng con
Câu 2. (4,0 điểm)
Bàn về đặc điểm cái tôi trong bài thơ Sóngcủa Xuân Quỳnh, có ý kiến
cho rằng: Đó là cái tôi có khát vọng sống, khát vọng yêu chân thành mãnh liệt.
Lại có ý kiến khẳng định: Bài thơ đã thể hiện một cái tôi nhạy cảm, day dứt về
giới hạn của tình yêu và sự hữu hạn của kiếp người.
Từ cảm nhận về cái tôi của nhà thơ Xuân Quỳnh trong bài thơ Sóng,
anh/chị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.
-------------------HẾT---------------
>> Truy cập http://tuyensinh247.com/ để học Toán, Lý, Hóa, Sinh, Văn, Anh
tốt nhất !
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
Câu Ý
I
1
2
3
4
5
6
7
8
Nội dung
- Với người phụ nữ đã có chồng, hành động đó là sự phản bội với
chồng của mình nên người phụ nữ không đánh được tôn trọng.
>> Truy cập http://tuyensinh247.com/ để học Toán, Lý, Hóa, Sinh, Văn, Anh
tốt nhất !
II
1
1
2
a
b
Làm văn:
“Vào đêm thứ Sáu vừa qua,… Các ngươi đã nhầm ”.
Viết một bài văn nghị luận xã hội (khoảng 600 chữ) trình bày suy
nghĩ của anh/ chị về lời tâm sự trên.
Giải thích nội dung đoạn trích:
- Đoạn trích là lời tâm sự của một người đàn ông vừa mất đi những
người thân yêu nhất:
+ Hoàn cảnh nhân vật: “Vào đêm thứ Sáu…mẹ của con trai ta”
+ Tâm trạng của nhân vật: đau đớn đến tận cùng nhưng vẫn kìm nén
và thể hiện lòng vị tha: "không bao giờ căm thù", "không quan tâm,
không muốn biết ai là người đã giết vợ ta – những kẻ linh hồn đã chết",
"không bao giờ cho phép mình ghét bỏ các ngươi"; "không đáp lại
bằng sự giận dữ ngu ngốc"...
2
1
2
a
b
- Biểu hiện của lòng vị tha: không có những lời lẽ sỉ nhục đối phương,
không tìm cách trả thù, gây hại đối phương, sẵn sàng giúp đỡ người đã
từng hại mình khi gặp hoàn cảnh khó khăn...
- Trái ngược với lòng vị tha là sự hận thù, nó làm cuộc sống của chính
chúng ta trở nên căng thẳng, mệt mỏi trước nhất, có thể đưa ta đến
những con đường tội lỗi. Vì vậy, cần hóa giải sự hận thù.
Bài học nhận thức và hành động:
- Nhận thức: Lòng vị tha là phẩm chất cần có ở mỗi con người, là biểu
hiện của tính người và tình người.
- Hành động: Bình tĩnh, tỉnh táo, sáng suốt để suy xét vấn đề; dùng
tình yêu thương, vị tha để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống.
Cảm nhận về cái tôi của nhà thơ Xuân Quỳnh trong bài thơ Sóng.
Giới thiệu chung:
- Là một trong những người viết thơ tình có sức hấp dẫn nhất trong thơ
Việt nam từ đầu thập kỉ 60(của TK XX), Xuân Quỳnh vừa choinh phục
bạn đọc bằng một tiếng nói dung dị,chân thành vừa giàu trực cảm vừa
lắng sâu trải nghiệm.
- Bài thơ "Sóng" được Xuân Quỳnh viết năm 1967 tại biển Diêm Điền
- Thái Bình, in trong tập “Hoa dọc chiến hào” . Đây là bài thơ tiêu
biểu cho hồn thơ và phong cách thơ Xuân Quỳnh.
- Trích dẫn 2 ý kiến.
- Cái tôi còn khát vọng khám phá bản chất, nguồn gốc của tình yêu, để
rồi nhận ra rằng tình yêu là bí ẩn như là sóng và không thể nào lí giải
được.(Khổ 3,4)
- Cái tôi mang nỗi nhớ nồng nàn da diết vượt qua mọi khoảng cách
không gian, mọi giới hạn thời gian, không chỉ tồn tại trong ý thức mà
còn len lỏi cả vào trong tiềm thức, xâm nhập cả vào những giấc mơ.
(Khổ 5,6)
- Cái tôi khát vọng và tin tưởng tình yêu chung thuỷ sẽ vượt qua những
biến động của cuộc sống, những thăng trầm của cuộc đời để đến được
bến bờ hạnh phúc. (Khổ 7,8)
* Cái tôi nhạy cảm day dứt về giới hạn của tình yêu và sự hữu hạn
của kiếp người:
- Giả thiết: “dẫu xuôi”, “dẫu ngược” chất chứa dự cảm về những trắc
trở trong tình yêu. “Phương Bắc”, “phương Nam”: gợi không gian xa
cách, ẩn giấu những phấp phỏng lo âu về sự cách trở. Như vậy, ngay
cả khi tình yêu nồng nàn, mãnh liệt, say đắm, lòng người phụ nữ vẫn
không tránh khỏi những dự cảm không lành.
- Cái tôi tìm cách hoá giải nghịch lý và nỗi day dứt ấy bằng khát vọng
hoá thân vào sóng, hoà nhập vào biển lớn tình yêu để tình yêu được
bất tử hóa, vượt qua sự hữu hạn của đời người. (Khổ 9)
* Nghệ thuật thể hiện:
- Cái tôi trong Sóng được thể hiện bằng thể thơ ngũ ngôn với nhịp thơ
linh hoạt, giọng điệu chân thành, da diết, riêng khổ 5 là khổ duy nhất
trong bài gồm 6 câu thơ, như một sự phá cách để thể hiện một trái tim
yêu tha thiết, nồng nàn.
- Ngôn ngữ bình dị với thủ pháp nhân hoá, ẩn dụ, các cặp từ tương
phản, đối lập, các điệp từ; cặp hình tượng sóng và em vừa sóng đôi,
vừa bổ sung hoà quyện vào nhau cùng diễn tả vẻ đẹp tâm hồn của cái
tôi thi sĩ.
Bình luận, lí giải 2 ý kiến:
Truy cập http://tuyensinh247.com/ để luyện thi Toán, Lý, Hóa, Sinh, Văn,
Anh tốt nhất!
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
Câu Ý
I
1
2
3
4
5
6
7
8
II
1
1
Nội dung
Đọc hiểu:
Văn bản trên làm theo thể thơ 7 chữ.
Câu thơ "Mũi Cà Mau: Mỏm đất tươi non" gợi một Cà Mau xinh
chia với con người…
- Bán “trái tim” và “tâm hồn” chẳng khác nào đánh mất đi bản thân,
khiến chúng ta trở thành những người thiếu tình cảm, vô cảm, thờ ơ,
thậm chí là sa ngã vào nhiều tệ nạn xã hội, gây tội ác cho xã hội.
* Thực trạng:
- Trong xã hội hiện nay, có nhiều người làm được điều mà Tổng
thống Lin-Côn mong mỏi. Họ biết sử dụng bàn tay, trí tuệ của mình
vào những công việc trong cuộc sống, mà vẫn giữ được phẩm chất
tốt đẹp, lương tâm trong sáng.
- Nhưng bên cạnh đó, vẫn có một bộ phận con người có tài năng, có
hiểu biết, nhưng chỉ vì những tham vọng về mặt vật chất mà sẵn
sàng đánh mất đi “trái tim” và “tâm hồn” mình. Và kết quả của
những con người đó ( rơi vào tệ nạn xã hội, mắc phải những sai lầm
đáng tiếc,...) => Cần phê phán.
Học sinh lấy một vài dẫn chứng tiêu biểu cho các ý trên.
Bài học nhận thức và hành động:
Truy cập http://tuyensinh247.com/ để luyện thi Toán, Lý, Hóa, Sinh, Văn,
Anh tốt nhất!
2
1
2
2.1
- Câu nói của Tổng thống Mĩ Lin-Côn thật đúng đắn, và có ý nghĩa
vô cùng sâu sắc.
hủ tục phong kiến, Mị gần như tê liệt hết sức sống.
b/ Khát vọng sống của Mị:
Tô Hoài đã khám phá ra lòng ham sống, khát khao tình yêu, hạnh
phúc, tự do tiềm ẩn mãnh liệt trong tâm hồn Mị. Chính sức sống này
là tiền đề quan trọng giúp Mị thoát khỏi nhà ngục thống lí tìm đến
Truy cập http://tuyensinh247.com/ để luyện thi Toán, Lý, Hóa, Sinh, Văn,
Anh tốt nhất!
Phiềng Sa được cán bộ A Châu dìu dắt để trở thành người tự do,
người làm chủ cuộc đời mình, chiến đấu, giải phóng quê hương
mình như một tất yếu.
* Sức sống tiềm tàng và tinh thần phản kháng của Mị trong đêm
tình mùa xuân:
- Các yếu tố làm thức tỉnh ý thức và lòng ham sống ở Mị: khung
cảnh ngày xuân ở Hồng Ngài, tiếng sáo gọi bạn yêu và hơi rượu
nồng ngày Tết.
- Sự trỗi dậy của sức sống vốn tiềm tàng trong Mị:
+ Mị thấy phơi phới trở lại, lòng đột nhiên vui sướng như những
đêm tết ngày trước…
+ Mị nghĩ lại sự tù túng của mình, nghĩ đến cái chết lần thứ 2 ->
Muốn giải thoát, kết thúc cuộc đời bi kịch, địa ngục trần gian.
+ Mị thức dậy ý thức và khát vọng: thấy mình còn trẻ, muốn đi chơi,
thắp sáng căn phòng lên – thắp sáng khát vọng đời mình, sửa soạn
đi chơi -> sự trở về của nữ tính… Mị thôi làm “con rùa…”, muốn
làm con chim tung cánh trên bầu trời tự do.
+ Khát vọng bị A Sử chặn đứng, sức sống mùa xuân trong lòng Mị
vẫn không hề bị trói buộc, dập tắt. Hồn Mị vẫn bay theo tiếng sáo
đến với những cuộc chơi xuân.
=> Những hành động của Mị có ý nghĩa to lớn vì nó là sự hồi sinh,
là biểu tượng của tinh thần phản kháng quyết liệt với cái ác, cái xấu.
* Qua việc xây dựng tình huống đặc sắc và miêu tả diễn biến tâm
lí nhân vật Mị, Tô Hoài đã đặt vấn đề khát vọng tự do, hạnh phúc
chân chính của người phụ nữ miền núi và con đường giải phóng
họ phải đi từ tự phát đến tự giác, dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Trong truyện ngắn “Vợ nhặt”:
a/ Người vợ nhặt hiện lên như một nạn nhân tiêu biểu của nạn
đói khủng khiếp năm 1945.
- Nhân vật không có tên riêng, không có lai lịch… chỉ là một thân
phận bọt bèo trôi dạt giữa dòng đời.
- Cái đói đã hủy hoại cả vẻ đẹp ngoại hình và vẻ đẹp nữ tính của một
người phụ nữ, khiến thị trở nên liều lĩnh, trơ trẽn đến mức sẵn sàng
theo không người ta về.
b/ Song đằng sau hành động liều lĩnh đó là một khát vọng sống
mãnh liệt:
- Người vợ nhặt theo Tràng về nhà không chỉ vì cái đói dồn đuổi mà
còn xuất phát từ ước mơ được sống trong một gia đình ấm cúng, từ
sự cảm động trước một tấm lòng hào hiệp hiếm có trong nạn đói. Vì
vậy trên đường về nhà cùng Tràng thị tỏ ra e thẹn, ngượng ngập và ý
tứ hơn. Khi nhìn thấy ngôi nhà lụp xụp rách nát, người phụ nữ ấy
vẫn ở lại để cùng chia sẻ cuộc đời đói khổ với Tràng chứ không bỏ
đi.
- Hôm sau, thị dậy rất sớm cùng mẹ chồng dọn dẹp, thu vén nhà cửa.
Sự thay đổi ấy người đọc cũng dễ nhận ra: nếu hôm qua thị chua
ngoa, đanh đá, chỏng lỏn bao nhiêu thì hôm nay thị lại hiền lành bấy
nhiêu.: “Tràng nom thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà
hiền hậu, đúng mực không còn vẻ gì chao chát, chỏng lỏn như
những lần Tràng gặp ở ngoài tỉnh”.
- Trong bữa cơm đầu tiên tại gia đình chồng, dù bữa ăn chỉ có “niêu
suy nghĩ của nhân vật bà cụ Tứ; suy nghĩ, cảm xúc của nhân vật trở nên thật gần gũi, được thể
hiện rất tự nhiên; nỗi lòng, tâm trạng của người mẹ thương con được diễn tả thật chân thực.
- Điểm 0,5: trả lời như đáp án.
- Điểm 0,25: trả lời 1 trong 2 nội dung trên hoặc trả lời không đầy đủ cả hai nội dung trên.
- Điểm 0: trả lời sai hoặc không trả lời.
Câu 4.(0,25 điểm)
- Phương thức biểu đạt mà văn bản sử dụng là phương thức biểu cảm.
- Điểm 0,25: trả lời như đáp án.
- Điểm 0: trả lời sai hoặc không trả lời.
Câu 5. (0,5 điểm)
- Trong đoạn thơ trên, tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ so sánh. Nét đặc sắc ở đây là tác giả đã
đưa ra một loạt hình ảnh so sánh (nai về suối cũ, cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa, đứa trẻ thơ
đói lòng gặp sữa, chiếc nôi ngừng gặp cánh tay đưa) để làm nổi bật một yếu tố được so sánh (con
gặp lại nhân dân). Đây là kiểu so sánh phức hợp, ít gặp trong thơ.
- Điểm 0,5: trả lời như đáp án.
- Điểm 0,25: trả lời 1/2 đáp án.
- Điểm 0: trả lời sai hoặc không trả lời.
Câu 6.(0,25 điểm)
- Cụm từ “con gặp lại nhân dân” được hiểu: trước cách mạng, nhà thơ sống xa rời nhân dân, bó
hẹp trong cái tôi cá nhân. Sau cách mạng, nhà thơ được hòa mình vào cuộc đời rộng lớn, cảm
thấy thân thiết, gắn bó, gần gũi máu thịt với nhân dân.
- Điểm 0,25: trả lời như đáp án.
- Điểm 0: trả lời sai hoặc không trả lời.
Câu 7.(0,5 điểm)
- Bốn câu thơ trên đã thể hiện cảm xúc mãnh liệt của Chế Lan Viên khi trở về với nhân dân. Một
loạt hình ảnh so sánh được đưa ra nhằm diễn tả sự hồi sinh của một hồn thơ. Đối với một người
nghệ sĩ, đó là niềm hạnh phúc lớn lao, vô bờ…
- Điểm 0,5: trả lời như đáp án (thành một đoạn văn hoàn chỉnh)
hướng phát triển đa tạp của cuộc sống, sự suy giảm lòng tin vào lí tưởng dẫn đường là những
nguyên nhân quan trọng khiến ý thức khẳng định mình của mỗi cá nhân có những biểu hiện lệch
lạc. Do đó việc nhận thức được khẳng định mình một cách đúng đắn là vô cùng cần thiết.
+ Khẳng định bản thân là biết đặt kế hoạch rèn luyện để có được những phẩm chất xứng đáng,
đáp ứng tốt những yêu cầu của lĩnh vực hoạt động mà mình tham gia, có thể khiến cộng đồng
phải tôn trọng. Tất cả, trước hết và chủ yếu, phải phụ thuộc vào chính năng lực của mình. Bởi thế,
rèn luyện năng lực, bồi đắp năng lực cá nhân là con đường tự khẳng định mình phù hợp và đúng
đắn. Mọi sự chủ quan, ngộ nhận, thiếu căn cứ không phải là sự tự khẳng định mình đúng nghĩa.
+ Khi khẳng định bản thân là khi chúng ta thực sự thúc đẩy sự phát triển bền vững của cuộc sống,
của xã hội. Sự khẳng định mình bước đầu không nhất thiết phải gắn liền với những kế hoạch đầy
tham vọng. Nó có thể được bắt đầu từ những việc làm nhỏ trên tinh thần trung thực, trọng thực
chất và hiệu quả.
- Rút ra bài học nhận thức và hành động cho bản thân.
*Biểu điểm chung:
- Điểm 1,5 - 2: làm được trọn vẹn các ý trên, diễn đạt trôi chảy, văn viết có hình ảnh cảm xúc.
- Điểm 0,75 - 1,25: trình bày được 2/3 các ý trên, diễn đạt còn có một số đoạn chưa lưu loát.
- Điểm 0,25 -0,5: trình bày được ½ các ý trên, diễn đạt lủng củng, chữ viết cẩu thả, khó đọc.
- Điểm 0: làm sai đề, lạc đề.
d. Sáng tạo:
- 0,25 điểm: Có nhiều cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo (viết câu, sử dụng từ ngữ, hình ảnh và
các yếu tố biểu cảm,...); văn viết giàu cảm xúc; thể hiện khả năng cảm thụ văn học tốt; có liên hệ
so sánh trong quá trình phân tích, có quan điểm và thái độ riêng sâu sắc nhưng không trái với
chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
- Điểm 0: Văn viết còn thiếu cảm xúc, chưa sử dụng thao tác lập luận…
e.Chính tả:
- Điểm 0,25: Không sai Chính tả, dùng từ, đặt câu (Hoặc có 1 vài lỗi nhỏ, không đáng kể).
- Điểm 0: chữ viết cẩu thả, sai từ 5 lỗi chính tả trở lên.
Câu 2 (4,0 điểm):
rừng xà nu ở Tây Nguyên.
+ Nghĩa biểu tượng: Rừng xà nu biểu tượng cho con người Tây Nguyên.
(Rừng xà nu bị tàn phá với rất nhiều vết thương "Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào
không bị thương".
Nỗi đau của con người Tây Nguyên trong chiến tranh: bị tra tấn, bị giết hại.
(Hình dáng đặc biệt, sự "ham ánh sáng mặt trời" của cây xà nu.
Biểu tượng cho phẩm chất tốt đẹp của người Tây Nguyên: yêu tự do, có khát vọng sống mãnh
liệt.
(Sự sinh sôi nảy nở diệu kì của xà nu.
Biểu tượng cho sự hiên ngang, anh dũng, bất khuất trước kẻ thù, sự tiếp nối của các thế hệ
người dân Tây Nguyên đứng lên đánh giặc.
(Hóa thân thành ngọn lửa.
Chứng nhân cho mọi sự kiên trọng đại, đau thương và anh dũng của làng Xô Man.
(Với các thủ pháp nghệ thuật so sánh, nhân hóa, thậm xưng, tác giả làm cho rừng xà nu trở thành
biểu tượng đẹp đẽ của con người Tây Nguyên, con người miền Nam, con người Việt Nam trong
kháng chiến chống Mĩ.
(Hình ảnh cây xà nu nổi bật, xuyên suốt tác phẩm, là một biểu tượng nghệ thuật đẹp, giàu giá trị
thẩm mĩ, góp phần thể hiện chủ đề và tạo không khí Tây Nguyên độc đáo.
- Đánh giá chung về nội dung, nghệ thuật và thành công của tác phẩm, đặc biệt là hình tượng
rừng xà nu.
*Biểu điểm chung:
- Điểm 2,5 - 3: làm được trọn vẹn các ý trên, diễn đạt trôi chảy, văn viết có hình ảnh cảm xúc, có
sáng tạo.
- Điểm 1,5 - 2,25: trình bày được 2/3 các ý trên, diễn đạt còn có một số đoạn chưa lưu loát.
- Điểm 0,25 - 1,25: trình bày được ½ các ý trên, diễn đạt lủng củng, chữ viết cẩu thả, khó đọc.
- Điểm 0: làm sai đề, lạc đề.
d. Sáng tạo:
- 0,25 điểm: Có nhiều cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo (viết câu, sử dụng từ ngữ, hình ảnh và
các yếu tố biểu cảm,...); văn viết giàu cảm xúc; thể hiện khả năng cảm thụ văn học tốt; có liên hệ
a. Mong bạn giữ gìn cẩn thận dấu câu của mình bạn nhé!
b. Thiếu những dấu câu trong một bài văn, có thể bạn chỉ bị điểm thấp vì bài văn của bạn mất ý
nghĩa, nhưng mất những dấu chấm trong cuộc đời, tuy không ai chấm điểm nhưng cuộc đời bạn
cũng mất ý nghĩa như vậy.
c. Cứ như vậy anh ta đi đến dấu chấm hết.
d. Có một người chẳng may đánh mất dấu…..(1). Anh ta sợ những câu phức tạp và chỉ tìm những
câu đơn giản. Đằng sau những câu đơn giản là những ý nghĩa đơn giản.
Sau đó anh lại làm mất dấu……(2). Anh bắt đầu nói khe khẽ, đều đều, không ngữ điệu. Anh
không cảm thán, không xuýt xoa. Không gì có thể làm anh ta sung sướng, mừng rỡ hay phẫn nộ
nữa cả. Đằng sau đó là sự thờ ơ với mọi chuyện.
Kế đó, anh ta đánh mất dấu….(3) và chẳng bao giờ hỏi ai điều gì nữa. Mọi sự kiện xảy ra ở
đâu, dù trong vũ trụ hay ở mặt đất hoặc ngay trong nhà mình, anh đều không hay biết. Anh đánh
mất khả năng học hỏi. Đằng sau đó là sự thờ ơ với mọi điều.
Một thời gian sau, anh đánh mất dấu….(4). Từ đó anh không liệt kê được, không còn giải
thích được hành vi của mình nữa, lúc nào cũng chỉ trích dẫn lời của người khác. Thế là anh ta
hoàn toàn quên mất cách tư duy.
Anh/chị hãy trả lời các câu hỏi từ câu 4 đến câu 7:
Câu 4: phần văn bản d) có 4 vị trí đã bị lược bớt từ. Điền các từ gợi ý để khôi phục đoạn văn
hoàn chỉnh: chấm than, phẩy, chấm hỏi, hai chấm. (0,5đ)
Câu 5: Sau khi khôi phục đoạn văn bản ở mục d), hãy sắp xếp thứ tự đúng của các đoạn văn để
tạo thành một văn bản hoàn chỉnh. (0,5đ)
Câu 6: Văn bản sau khi đã được khôi phục nói về điều gì? (0,25đ)
Câu 7: Hãy viết một đoạn văn (từ 5 đến 7 câu) trình bày suy nghĩ của anh/chị về vấn đề đặt ra
trong văn bản trên? (0,5đ)
II. PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1 (3,0 điểm):
Trước lúc ra làm trưởng Ban Nội chính Trung ương, cố bí thư Nguyễn Bá Thanh dặn dò
lãnh đạo Thành phố Đà Nẵng: "Hãy khát vọng chứ đừng tham vọng".
Anh/chị hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) để bày tỏ suy nghĩ gì về lời dặn dò đó.
Câu 2 (4,0 điểm):
cho đời. Qua đó thể hiện niềm yêu đời, yêu cuộc sống tha thiết, mãnh liệt.
+ Điểm 0,5: trả lời như đáp án (mỗi ý 0,25 điểm)
+ Điểm 0,25: Ý1 như đáp án, nhưng Ý2 trả lời theo cách khác mà thấy hợp lí.
+ Điểm 0: Trả lời sai, hoặc không trả lời.
Câu 4: Điền các từ gợi ý để khôi phục đoạn văn cho hoàn chỉnh:
(1) Phẩy; (2) chấm than; (3) chấm hỏi; (4) hai chấm.
- Điểm 0,5: trả lời đúng 3 ý như đáp án .
- Điểm 0,25: trả lời đúng 2 ý như đáp án.
- Điểm 0: trả lời đúng một ý như đáp án hoặc không trả lời.
Câu 5: Sắp xếp thứ tự đúng của các đoạn văn để tạo thành văn bản hoàn chỉnh:
d-c-b-a. hoặc b-d-c-a
- Điểm 0,5: trả lời đúng một trong hai đáp án trên.
- Điểm 0,25: trả lời đúng ½ của một đáp án trên.
- Điểm 0: trả lời sai hoàn toàn hoặc không trả lời.
Câu 6: Văn bản nói về “ý nghĩa dấu câu” đối với mỗi con người.
- Điểm 0,25: trả lời như đáp án.
- Điểm 0: Không trả lời hoặc trả lời sai.
Câu 7: Viết đoạn văn:
- Hình thức: viết đúng kết cấu của đoạn văn với độ dài từ 5 đến 7 câu.
- Nội dung: có thể làm rõ các ý sau:
+ Khi tạo lập một văn bản rất cần sử dụng dấu câu chính xác.
+ Phê phán những trường hợp không sử dụng đúng dấu câu.
+ Đề xuất giải pháp.
- Điểm 0,5: Viết như yêu cầu, văn viết có hình ảnh, cảm xúc, diễn đạt trôi chảy, trình
bày sạch đẹp.
- Điểm 0,25 đảm bảo nội dung nhưng hình thức viết chưa đủ độ dài hoặc viết dài quá
(10 dòng trở lên), văn viết lủng củng, trình bày cẩu thả sai nhiều lỗi chính tả.
- Điểm 0: Không trả lời hoặc lạc đề hoàn toàn.
cho những người xung quanh trong tương lai, thúc đẩy sự phát triển của xã hội, đất nước. (dẫn
chứng)
+ Người có khát vọng là người nhận thức đúng đắn bản thân mình là ai, có thể làm gì cho mình
và cho mọi người. Họ có trái tim say mê lý tưởng, có đầu óc tỉnh táo, nhận thức đúng, sai, lợi,
hại. Họ có thể điều chỉnh và làm chủ bản thân mình. Vì thế, họ tránh được rủi ro trong cuộc sống.
(dẫn chứng)
+ Khát vọng có thể thành hiện thực, có thể không. Khát vọng đem đến niềm tin, niềm lạc quan
cho con người, tạo sức mạnh tinh thần để họ vượt qua thử thách. (dẫn chứng)
- Phân tích tác hại việc sống trong tham vọng:
+ Tham vọng là hiện tượng tâm lý ít nhiều mang sắc thái tiêu cực. Khi đó, con người quá ham
muốn đạt điều gì đó lớn lao cho riêng mình. Tham vọng xuất phát từ sự ích kỉ, từ lòng tham.
Người có tham vọng chỉ muốn lợi cho bản thân, đôi khi không quan tâm lợi ích của người khác.
Khi bị tham vọng làm mờ mắt, con người có thể làm hại người khác để đạt mục đích đề ra. (dẫn
chứng)
+ Tham vọng xuất hiện khi con người không còn nhận thức đúng đắn về bản thân, mong ước
những điều cao xa, ngoài khả năng của mình. Người có tham vọng sẽ bất chấp đúng sai, luật
pháp, tình người để thực hiện bằng được ý muốn của mình. Vì thế, họ sẽ lãnh hậu quả khó lường.