i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận v ăn là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập của
tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN................................................i
3.1.1. 3.1.2. 3.1.1. 1.1.3. Vốn của ngân hàng thương mại 6 ii.....................................iii
3.1.2. 3.1.4. 3.1.2. Chính sách thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu điều tra 33 ii............iii
3.1.3. 3.1.6. 3.1.3. Chính sách phân phối 34 ii............................................................iii
3.1.4. 3.1.8. 1.1.3. Vốn của ngân hàng thương mại 6..................................................iii
3.1.5. 3.1.10. Chính sách thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu điều tra 33........................iii
3.1.6. 3.1.12. Chính sách phân phối 34.......................................................................iii
LỜI MỞ ĐẦU........................................................................................1
CHƯƠNG 1 ..........................................................................................4
LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG VỐN.......................................................4
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN................................4
3.1.7. 1.1.3. Vốn của ngân hàng thương mại.................................................................6
3.1.8. Chính sách thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu điều tra........................................33
3.1.9. Chính sách phân phối........................................................................................34
iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NHNN
TCTD
Tổ chức tín dụng
LỜI CAM ĐOAN................................................i
3.1.10........................3.1.1. 3.1.2. 3.1.1. 1.1.3. Vốn của ngân hàng thương mại 6 ii iii
ii
3.1.11. 3.1.2. 3.1.4. 3.1.2. Chính sách thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu điều tra 33 ii iii
ii
3.1.12.............................................3.1.3. 3.1.6. 3.1.3. Chính sách phân phối 34 ii iii
ii
3.1.13....................................3.1.4. 3.1.8. 1.1.3. Vốn của ngân hàng thương mại 6 iii
ii
3.1.14............3.1.5. 3.1.10. Chính sách thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu điều tra 33 iii
ii
3.1.15.......................................................3.1.6. 3.1.12. Chính sách phân phối 34 iii
ii
3.1.16................................................. 3.1.7. 1.1.3. Vốn của ngân hàng thương mại 6
ii
3.1.17...........................3.1.8. Chính sách thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu điều tra 33
ii
mà các doanh nghiệp luôn hướng tới. Đối với các ngân hàng thương mại cổ phần với
tư cách là một doanh nghiệp, một định chế tài chính trung gian hoạt động trong lĩnh
vực tiền tệ thì vốn lại có vai trò hết sức quan trọng. Các ngân hàng thương mại là đơn
vị chủ yếu cung cấp vốn thu lãi. Nhưng để cung cấp đủ vốn đáp ứng nhu cầu thị
trường thì các ngân hàng thương mại cần phải huy động vốn từ bên ngoài thị trường.
Nghiệp vụ huy động vốn là một trong những nghiệp vụ quan trọng nhất của mỗi ngân
hàng. Nguồn vốn huy động được chính là nguyên liệu đầu vào với ngân hàng để từ đó
ngân hàng sẽ luân chuyển và điều phối để tạo ra những sản phẩm thiết thực cho thị
trường. Để đảm bảo đầu vào của ngân hàng được đều đặn và chi phí ít nhất luôn là
mục tiêu đầu tiên với mỗi ngân hàng.Vì vậy các ngân hàng thương mại rất chú trọng
đến vấn đề huy động vốn. Tuy nhiên ngày nay việc huy động vốn của các ngân hàng
thương mại cũng gặp rất nhiều khó khăn và cạnh tranh gay gắt.
Ngân hàng Thương mại Việt Nam có “thâm niên” hoạt động chưa lâu, các
hình thức huy động vốn còn đơn điệu, chưa phù hợp và chưa đáp ứng được đòi
hỏi của nền kinh tế. Đặc trưng nguồn vốn và sử dụng vốn của các Ngân hàng
thương mại có sự chênh lệch đặc biệt là sự chênh lệch về kỳ hạn. Vốn huy động của
các ngân hàng thương mại chủ yếu là vốn ngắn hạn nhưng nhu cầu sử dụng vốn dài
hạn để đầu tư mở rộng hoạt động kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế lớn đã
ảnh hưởng đến hiệu quả và an toàn hoạt động của ngân hàng. Ngân hàng Thương mại
Cổ phần Quân đội cũng không nằm ngoài xu hướng đó. Ngân hàng Quân Đội chi
nhánh Hải Phòng có thời gian hoạt động chưa nhiều, mới có 14 năm hoạt động do đó
tăng cường huy động vốn là một trong những ưu tiên hàng đầu hiện nay. Nhằm giúp
ngân hàng đưa ra các công cụ và biện pháp tăng cường huy động vốn chính là mục
tiêu của luận văn “Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng thương
mại cổ phần Quân Đội chi nhánh Hải Phòng”.
2
quả đạt được và hạn chế trong hoạt động huy động vốn. Từ đó rút ra những kinh
nghiệm, ưu nhược của các phương pháp huy động vốn đưa ra giải pháp tối ưu.
Bên cạnh đó, đề tài còn sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, đánh giá thực
trạng phát triển, rút ra nguyên nhân và tìm hướng giải quyết.
Ngoài phần mở đầu, kết cấu và tài liệu tham khảo, luận văn bao gồ m
3chương:
Chương 1: Lý luận về huy động vốn tại ngân hàng Thương mại c ổ phần
Chương 2. Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Quân Đội Chi nhánh
Hải Phòng trong thời gian qua
3
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại MB Hải Phòng
giai đoạn 2012 - 2015
4
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG VỐN
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
l.l. Tổng quan về ngân hàng Thương mại
1.1.1.
Khái niệm về ngân hàng Thương mại
Trên thế giới có rất nhiều khái niệm và quan điểm khác nhau về ngân hàng
1.1.2.
Vai trò của NHTM đối vói sự phát triển của nền kinh tế
1.1.2.1 .NHTM là công cụ điều tiết vĩ mô nền của Nhà nước
NHTM với tư cách là một trung tâm tiền tệ của toàn bộ nền kinh tế, đảm
bảo cho sự phát triển hài hoà cho tất cả các thành phần kinh tế khi tham gia hoạt
động sản xuất kinh doanh. Có thể nói mỗi sự biến động của Ngân hàng đều gây
ảnh hưởng ít nhiều đến các thành phần kinh tế khác. Do đó sự hoạt động có hiệu
quả của NHTM thông qua các nghiệp vụ kinh doanh của nó thực sự là công cụ
tốt để Nhà nước tiến hành điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Ngoài ra với việc cho các thành phần trong nền kinh tế vay vốn, NHTM đã
thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền, tập hợp và phân chia vốn của thị trường,
điều khiển chúng một các có hiệu quả, đảm bảo cung cấp đầy đủ kịp thời nhu
cầu vốn cho quá trình tái sản xuất cũng như thực thi vai trò điều tiết gián tiếp vĩ
mô nền kinh tế. Mặt khác thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các
Ngân hàng trong hệ thống NHTM đã trực tiếp góp phần mở rộng khối lượng tiền
cung ứng trong lưu thông.
1.1.2.2. Ngân hàng là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế
NHTM ra đời là tất yếu của nền sản xuất hàng hoá. Sản xuất hàng hoá phát
triển, lưu thông hàng hoá ngày càng mở rộng, trong xã hội xuất hiện người có
vốn nhàn rỗi, ngược lại thì có người cần vốn cho hoạt động kinh doanh. Điều
này giải quyết bằng việc ra đời của NHTM giúp cho người cần vốn có được vốn và
người có vốn tạm thời nhàn rỗi có thể kiếm được lãi từ vốn. Các ngân hàng cũng cân
đối được vốn trong nền kinh tế giúp cho các thành phần kinh tế cùng nhau phát triển.
Các NHTM đứng ra huy động vốn tạm thời nhàn rỗi từ dân cư và doanh nghiệp sau đó
sẽ cung ứng lại cho nơi cần vốn để tiền hành tái sản xuất với trang thiết bị hiện đại
hơn, tạo ra sản phẩm tốt hơn, có lợi nhuận cao hơn. Xã hội ngày càng phát triển do đó
nhu cầu vốn cho nền kinh tế ngày càng tăng, không một tổ chức nào có thể đứng ra
Vốn của ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại có các hoạt động chính là: tín dụng, huy động vốn
và thực hiện chức năng thanh toán, trong đó hoạt động huy động vốn là một
trong những hoạt động chính và quan trọng của ngân hàng. Nguồn vốn của
NHTM đóng vao trò quan trọng không chỉ trong hoạt động kinh doanh của ngân
hàng mà còn đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội
nhất là trong thời điểm hiện nay cả ngân hàng và các doanh nghiệp đều đang rất
thiếu vốn.
Các nhà kinh tế đưa ra định nghĩa về nguồn vốn cùa NHTM như sau:
“Nguồn vốn của ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do bản thân Ngân
hàng thương mại tạo lập hoặc huy động được, dùng để đầu tư cho vay hoặc thực
hiện các hoạt động kinh doanh khác của mình”. Theo định nghĩa trên thì nguồn
7
vốn mà NHTM tạo lập được là một phần lợi nhuận hoặc là vốn góp của các cổ
đông hàng năm, vốn huy động là một phần thu nhập quốc dân tạm thời nhàn rỗi
trong quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng, được người chủ sở hữu của
khoản vốn đó gửi vào ngân hàng để thực hiện các mục đích khác nhau. Nói cách
khác họ chuyển quyền sử dụng khoản vốn cho ngân hàng để rồi nhận được một
khoản thu nhập từ việc chuyển quyền sử dụng đó gọi là lãi suất tiền gửi. Như
vậy, NHTM đã thực hiện vai trò tập trung và phân phối lại vốn cho nền kinh tế
dưới hình thức tiền tệ. Kết quả là làm tăng nhanh quá trình luân chuyển vốn,
phục vụ và kích thích các hoạt động sản xuất kinh doanh phát triến.
Nguồn vốn mà Ngân hàng thương mại tạo lập và huy động được đã góp
phần quan trọng trong việc đầu tư phát triển sán xuất kinh doanh của mỗi doanh
nghiệp nói riêng cũng như sự phát triển của toàn bộ nến kinh tế quốc dân nói
chung. Đồng thời cũng chính các hoạt động đó lại là công cụ giúp ngân hàng
kiện cụ thể.
- Vốn chủ sở hữu bổ sung trong quá trình hoạt động: vốn chủ sở hữu của
NHTM có thể gia tăng theo nhiều phương thức khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện
hoạt động kinh doanh cụ thể của NHTM đó bao gồm:
Nguồn bổ sung từ lợi nhuận: khi hoạt động kinh doanh tạo ra lợi nhuận thì
NHTM có thể chuyển một phần lợi nhuận thành nguồn vốn nhằm tái đầu tư. Lượng
vốn tích luỹ từ thu nhập tuỳ thuộc theo chiến lược kinh doanh của ngân hàng trong
từng thời kỳ.
Nguồn vốn bổ sung từ việc phát hành thêm cố phần góp thêm, cấp thêm: để
mở rộng quy mô hoạt động, để đổi mới trang thiết bị hoặc để đáp ứng nhu cầu gia tăng
vốn chủ do NHNN quy định. Đặc điểm cùa hình thức huy động vốn này là không
thường xuyên, song giúp cho NHTM có được lượng vốn chủ sở hữu lớn vào lúc cần
thiết.
- Các quỹ:
NHTM có nhiều quỹ khác nhau, mỗi quỹ được sử dụng cho những mục
đích nhất định tuỳ thuộc vào tình hình kinh doanh của chính ngân hàng đó. Các
quỹ này được hình thành từ thu nhập của ngân hàng bao gồm:
+ Quỹ bổ sung vốn điều lệ: có mục đích gia tăng số vốn ban đầu.
+ Quỹ dự phòng bù đắp rủi ro: dùng để dự phòng bù đắp rủi ro trong hoạt động
kinh doanh của ngân hàng nhằm bảo toàn vốn điều lệ. Quỹ này được trích hàng năm từ
thu nhập trước hoặc sau thuế (theo quy định của từng quốc gia theo một tỷ lệ nhất định
nào đó và được tích luỹ lại để bù đắp những tổn thất xảy ra).
Ngoài ra vốn chủ sở hữu bổ sung là một bộ phận trong nguồn vốn tự có của
NHTM, nó tồn tại dưới dạng các quỹ chuyên dùng, các quỹ đặc biệt c ủa ngân
Về bản chất, tiền gửi tiết kiệm là một bộ phận thu nhập của người lao động chưa
sử dụng cho tiêu dùng, họ gửi vào Ngân hàng với mục đích tích luỹ tiền một cách an
toàn và hưởng lãi trên khoản tiền gửi đó. Trong nền kinh tế thị trường tiền gửi tiết
kiệm được phát triển dưới hai hình thức đó là: Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền
gì tiết kiệm có kỳ hạn.
+ Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là loại tiền gửi mà người gửi có thể rút ra bất
10
cứ lúc nào song ít được sử dụng cho việc thanh toán.
+ Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là loại tiền gửi có sự thoả thuận giữa Ngân hàng và
người gửi về thời gian rút tiền (thường có lãi suất cao hơn tiền gửi tiết kiệm không kỳ
hạn).
- Các nguồn huy động khác
Bên cạnh nghiệp vụ nhận tiền gửi, các NHTM còn sử dụng một số nghiệp
vụ trên thị trường mở để huy động vốn như: phát hành Chứng chỉ tiền gửi và trái
phiếu... Trong đó, Chứng chỉ tiền gửi là công cụ nợ ngắn hạn và trái phiếu là công cụ
nợ trung và dài hạn. Việc phát hành hai loại phiếu nợ này tuỳ thuộc vào mục đích
HĐV của NHTM cũng như sự chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước. Đặc điểm của các
loại giấy nợ này là chúng có lãi suất cao hơn so với lãi suất tiền gửi và tiền gửi tiết
kiệm, có tính ổn định cao, nhưng quyền đòi tiền xếp sau các loại tiền gửi khác.
Nguồn vốn tiền gửi là nguồn vốn lớn nhất mà NHTM thu hút được. Thông qua
việc thu hút nguồn vốn này ngân hàng sẽ nắm bắt được những thông tin về tình hình
tài chính của khách hàng để thiết lập mối quan hệ tín dụng. Hơn thế nó cũng là cơ sở
cần thiết và sử dụng có hiệu quả chúng vào đúng mục đích. Nguồn vốn tự có của
doanh nghiệp thường không đáp ứng được nhu cầu vốn của doanh nghiệp, do đó
doanh nghiệp phải đi vay vốn nhằm bù đắp cho nhu cầu đầu tư của mình. Với sự xuất
hiện của thị trường tài chính và hệ thống NHTM thì việc vay vốn của các doanh
nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân trở nên dễ dàng hơn. Doanh nghiệp có thể chủ động
tìm kiếm vốn từ nhiều nguồn khác nhau với chi phí tiết kiệm và thủ tục đơn giản hơn
rất nhiều.
Chính phủ trong nhiều trường hợp cũng cần phải huy động lượng vốn nhất
định đề đáp ứng nhu cầu chi tiêu của mình. Ngân sách Nhà nước là nguồn cung cấp
chủ yếu cho kế hoạch chi tiêu của Chính phủ, song không phải lúc nào nó cũng ở trong
trạng thái lành mạnh, đủ khả năng đáp ứng. Giải pháp đặt ra là có thể in thêm tiền hoặc
tăng thuế, vay nợ nước ngoài nhưng việc này sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực lên toàn bộ
nền kinh tế, qua đó nảy sinh các vấn đề về xã hội.
1.1.5.2.Đối với ngân hàng
Chuyển sang nền kinh tế thị trường, vai trò của NHTM ngày càng quan
trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội. NHTM cũng là doanh nghiệp
nhưng là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng.
Các NHTM ngày càng năng động sáng tạo trong kinh doanh và có xu
hướng phát triển đa năng. Các nguồn vốn huy động được sẽ quyết định quy mô
cũng như định hướng hoạt động của NHTM.
NHTM thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, đầu tư chủ yếu dựa vào nguồn
12
này.
*Vốn là cơ sở nền tảng để Ngân hàng thương mại hoạt động kinh doanh
Đối với NHTM, vốn còn là cơ sở nền tảng để tiến hành tổ chức mọi hoạt
Thông qua huy động vốn, ngân hàng còn nắm bắt được năng lực tài chính của
13
khách hàng có quan hệ tín dụng với ngân hàng. Qua đó, có căn cứ để xác định mức
vốn đầu tư cho vay đối với những khách hàng đó hoặc có thể phát hiện kịp thời tệ
tham ô, trốn thuế, lừa đảo của các doanh nghiệp làm ăn không chính đáng. Từ đó có
biện pháp ngăn chặn và xử lý kịp thời.
*Quyết định quy mô hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
Thực tế đã chứng minh, những NHTM có vốn lớn thường có khoản mục
đầu tư và cho vay đa dạng hơn rất nhiều so với những NHTM có quy mô vốn nhỏ,
phạm vi và khối lượng cho vay của các NHTM này cũng lớn hơn. Thật vậy trong khi
các NHTM lớn có thể cho vay tại thị trường trong nước thậm chí là cả thị trường quốc
tế thì các NHTM nhỏ lại bị giới hạn trong phạm vi hẹp, thường là thị trường khu vực,
thị trường địa phương. Hơn nữa, do lượng vốn hạn hẹp nên các NHTM nhỏ sẽ không
phản ứng nhanh nhạy trước những tình huống biến động về lãi suất thị trường, từ đó
tác động đến khả năng thu hút vốn đầu tư từ các tầng lớp dân cư và các thành phần
kinh tế. Vì vậy, khi khả năng vốn của NHTM dồi dào thì chắc chắn sẽ mở rộng và đáp
ứng được nhu cầu vay vốn, có điều kiện để mở rộng thị trường tín dụng, tăng đều khả
năng thanh toán và dịch vụ ngân hàng.
*Nguồn vốn huy động còn ảnh hưởng tới kết quả hoạt động kinh doanh của ngân
hàng thương mại
Nguồn vốn huy động có ảnh hưởng lớn tới kết quả hoạt động kinh doanh
của NHTM. Cụ thể, nếu ngân hàng huy động được nguồn vốn dồi dào với chi
phí thấp nó có thể mở rộng được tín dụng đầu tư, thu được lợi nhuận cao và
ngược lại. Chi phí huy động vốn của NHTM liên quan chặt chẽ với lãi suất tiền
gửi, lãi suất tiền gửi tiết kiệm các loại và lãi suất các công cụ nợ do ngân hàng
của ngân hàng, đặc biệt là dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt và các dịch
vụ tín dụng khi khách hàng cần vốn cho sản xuất kinh doanh hay cần tiền cho
tiêu dùng.
1.2. Những vấn đề cơ bản về huy động vốn của Ngân hàng thương mại
1.2.1. Các hình thức huy động vốn của Ngân hàng thương mại
Tuỳ theo các tiêu chí, mục đích huy động khác nhau mà có thể phân chia
thành các hình thức huy động vốn khác nhau bao gồm huy động vốn theo loại
tiền và huy động vốn theo kỳ hạn.
1.2.1.1.Huy động theo loại tiền
Ngân hàng thương mại có thể huy động vốn bằng các loại tiền khác nhau,
có thể chia làm hai loại đó là nội tệ và ngoại tệ.
1.2.1.1.1. Huy động vốn bằng nội tệ
Trong cơ cấu tổng nguồn vốn huy động được của NHTM thi nguồn vốn
huy động bằng nội tệ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn huy động, thường
15
chiếm khoảng 75% tổng nguồn vốn huy động. Nguồn nội tệ huy động được của
NHTM có thể từ các nguồn sau:
- Tiền gửi bằng nội tệ của các tầng lớp dân cư: đây chủ yếu là tiền gửi tiết kiệm, nguồn
này có quy mô cơ cấu lớn trong tổng nguồn vốn huy động bằng nội tệ của NHTM.
Huy động bằng tiền gửi tiết kiệm thường có lãi suất cao trong khi đó thời gian gửi
thường ngắn (chủ yếu là dưới 12 tháng). Điều này đã ảnh hưởng lớn đến khả năng sử
dụng vốn, khả năng chuyển dịch kỳ hạn dư nợ, kết quả kinh doanh và khả năng cạnh
tranh của ngân hàng.
* Tiền gửi bằng nội tệ của các tổ chức kinh tế xã hội: Nguồn tiền này cũng có quy mô
và cơ cấu lớn trong tổng nguồn vốn huy động của NHTM. Tiền gửi này thường là tiền
cao nhất trong tổng số vốn huy động bằng ngoại tệ của NHTM. Tại Việt Nam đối
tượng cho vay chủ yếu là các NHTM nhà nước.
* Tiền vay bằng ngoại tệ: cũng giống như tiền vay bằng nội tệ, chỉ khi thật sự cần
thiết NHTM mới đi vay nhất là bằng ngoại tệ với lãi suất cao và đầy biến động. Do đó
lượng vay này thường nhỏ.
l.2.1.2. Huy động vốn theo kỳ hạn
Ngày nay người ta thường phân chia các khoản tiền gửi theo tiêu thức này
để có thể quản lý tốt lượng tiền gửi, tiền lãi, và là cơ sở để ngân hàng xây dựng
chiến lược dự trữ vốn phù hợp.
* Tiền gửi không kỳ hạn: đây là khoản tiền gửi không có kỳ hạn xác định và người
gửi tiền có thể rút ra bất kỳ lúc nào do đó lãi suất thường thấp. Tiền gửi không kỳ hạn
là một trong những nguồn vốn biết động nhiều nhất và ngân hàng khó có thể dự báo
về quy mô tiền gửi không kỳ hạn có thể huy động. Hình thức này chủ yếu là mở cho
các doanh nghiệp bởi vì các doanh nghiệp gửi tiền vào ngân hàng không phải mục
đích chính là để nhận lãi mà để hưởng các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp như dịch
vụ thanh toán, ngân quỹ ...
Tuy nhiên tiền gửi không kỳ hạn có thể đáp ứng nhu cầu cho những khách
hàng chưa có ý định rõ ràng trong tương lai hoặc không thực sự an tâm v ề việc
gửi tiền mà chỉ mong muốn nhận được một số lãi nào đó với lượng tiền đang nhàn rỗi.
Hiện nay cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và nhu cầu của
khách hàng, nhằm tối đa hoá lượng tiền huy động một số ngân hàng đã áp dụng
hình thức tiết kiệm mới, theo đó khách hàng có thể tự chuyển đổi tiền từ tài
khoản thanh toán sang gửi tiết kiệm với lãi suất cao hơn và sau đó khi có nhu
cầu có thể tự chuyển sang tài khoản tiết kiệm không kỳ hạn một cách thuận tiện và
hiệu quả. Hình thức này ngày càng được nhiều doanh nghiệp và cá nhân có số dư tiền
kiệm, tiền gửi có kỳ hạn hoặc đi vay các cá nhân, hộ gia đình và các tổ chức
kinh tế.
Mặt khác ngân hàng phát hành thẻ tiết kiệm không kỳ hạn để thu hút những
món tiền nhỏ lẻ hoặc những khoản tiền có thời gian nhàn rỗi ngắn, khách hàng
nhận được một quyển sổ tiết kiệm không kỳ hạn và sổ tiết kiệm này có thể rút ra
bất cứ lúc nào khách hàng cần.
Do nhu cầu gửi tiền của khách hàng rất đa dạng nên tuỳ theo kế hoạch sử
dụng tiền của họ trong hiện tại và tương lai mà ngân hàng đưa ra các sản phẩm
tiết kiệm với những kỳ hạn hợp lý cho khách hàng lựa chọn như các kỳ hạn từ
một tuần, 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng ... đến 36 tháng.
Ngoài hình thức phát hành sổ tiết kiệm các ngân hàng thương mại còn phát
hành chứng chỉ tiền gửi và mua chiết khấu các chứng chỉ này nhằm đáp ứng các
nhu cầu đầu tư an toàn và mang lại lợi nhuận cao cho khách hàng. Tại Việt Nam
huy động từ các cá nhân và hộ gia đình thu hút được rất đông dân cư tham gia.
18
* Huy động vốn từ các tổ chức kinh tế
Đây là kênh huy động mà các ngân hàng có thể huy động được nhiều nhất
là tiền gửi giao dịch. Thông qua việc đứng ra làm trung gian thanh toán và
chuyển hoá các phương tiện thanh toán các ngân hàng thu hút được một lượng
lớn các tổ chức mở tài khoản tạo ra tiề n gửi giao dịch. Đây là nguồn mất chi phí
thấp nên các NHTM thường xuyên cải tiến nâng cấp các phương thức, nâng cao công
nghệ thanh toán để thắng thế trong việc hấp dẫn và thu hút khách hàng gửi tiền và
ngân hàng sẽ bán thêm các dịch vụ.
Các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế thường mở tài khoản tiền gửi tại một
hoặc một số NHTM nhất định khi cần thiết có thể yêu cầu rút ra hoặc chuyển trả
tiền cho bên hưởng thụ một cách nhanh chóng và tính chất của tài khoản này là
NHNN. NHNN điều hành vay mượn một cách chặt chẽ và tuỳ thuộc vào chính sách
tiền tệ từng thời kỳ mà NHTW phải thực hiện các điều kiện đảm bảo và kiểm soát nhất
định.
Thông thường NHTW chỉ tái chiết khấu cho những thương phiếu có chất
lượng (thời gian đáo hạn ngắn, khả năng trả nợ cao ) và phù hợp với mục tiêu
của NHTW trong từng thời kỳ. Tuy nhiên tại những thời kỳ nhất định cho dù
NHTW có áp dụng mức lãi suất tái chiết khấu hoặc lãi suất phạt cao hay thấp thì
NHTW vẫn phải cho NHTM vay khi khó khăn trong thanh toán hoặc để tránh những
cơn khủng hoảng kinh tế không đáng xảy ra.
Về phía các NHTM thì đi vay NHTW là một dịch vụ tiện lợi vào những khi
NHTW hạ lãi suất chiết khấu trong chính sách cung ứng tiền tệ nới lỏng để kích thích
đầu tư. Trong trường hợp gặp khó khăn trong thanh toán NHTM phải đến vay NHTW
giữa lúc NHTW đang thắt chặt cung ứng chống lạm phát làm cho lãi suất tái chiết
khấu tăng, khi đó dù nhìn thấy những khoản lỗ trông thấy thì NHTM vẫn phải vay
NHTW và tìm mọi cách trả nợ nhanh nhất. Tuỳ thuộc vào tình hình tài chính và nền
kinh tế mà NHTW có thể tăng hoặc hạ lãi suất tái chiết khấu. Song dù sao đây cũng là
nguồn cuối cùng đối với hoạt động vốn của các NHTM.
1.2.2.3. Huy động vốn từ thị trường liên ngân hàng
Khi đối đầu với những tình huống khó khăn về tài chính, để tránh nguy cơ
mất khách hàng, bảo đảm uy tín cho ngân hàng thì giải pháp tốt nhất là đi vay. NHTM
có thể đi vay từ các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên ngân hàng hay thị trường
tiền tệ trong và ngoài nước.
Việc vay mượn vốn giữa các NHTM, giữa NHTM với các tổ chức tín dụng
khác được diễn ra liên tục trong quá trình hoạt động kinh doanh của NHTM. Nó
hình thành nên một loại tài sản nợ khá thường xuyên trong bảng cân đối tài sản.
Mặt khác nó còn đảm bảo cho NHTM có những mối quan hệ tốt với các ngân
Để tồn tại và ngày càng mở rộng quy mô hoạt động đòi hỏi các ngân hàng
phải có uy tín cao trên thị trường. Với tiềm năng vốn lớn thì ngân hàng có thể
hoạt động kinh doanh với quy mô ngày càng mở rộng, tiến hành các hoạt động
cạnh tranh có hiệu quả vừa giữ chữ tín vừa nâng cao uy tín của ngân hàng. Uy
tín của NHTM trong kinh doanh được thể hiện trước hết ở khả năng sẵn sàng thanh
toán chi trả cho khách hàng. Khả năng thanh toán chi trả của NHTM càng cao thì uy
tín cũng như vốn khả dụng của ngân hàng càng lớn.
Mặt khác, vốn lớn sẽ giúp cho NHTM có đủ khả năng tài chính để kinh
21
doanh đa năng trên thị trường, mở rộng các lĩnh vực kinh doanh như: kinh
doanh chứng khoán, kinh doanh dịch vụ thuê mua .. . Và chính các hình thức kinh
doanh đa dạng này đã góp phần phân tán, giảm thiểu rủi ro, tạo thêm vốn cũng như
tăng sức cạnh tranh cho NHTM trên thị trường.
* Vốn quyết định quy mô hoạt động tín dụng và các hoạt động khác của ngân hàng.
Vốn của ngân hàng quyết định đến việc mở rộng hay thu hẹp quy mô tín
dụng. Các ngân hàng có vốn lớn sẽ có lợi h ơn so với các ngân hàng có vốn nhỏ vì
khả năng vốn của họ có thể đáp ứng được nhiều nhu cầu vay trên thị trường. Khả năng
vốn lớn là điều kiện thuận lợi đối với ngân hàng trong việc mở rộng quan hệ tín dụng
với các thành phần kinh tế. Điều đó sẽ thu hút ngày càng nhiều khách hàng, doanh số
hoạt động của ngân hàng sẽ tăng lên nhanh chóng và ngân hàng sẽ có nhiều thuận lợi
hơn trong kinh doanh. Đồng thời vốn sẽ giúp ngân hàng có đủ khả năng tài chính để
kinh doanh đa năng trên thị trường không chỉ đơn thuần là cho vay mà còn mở rộng
các hình thức liên doanh liên kết.
Bên cạnh vai trò quan trọng của nguồn vốn trong kinh doanh thì chức năng