SKKN MỘT VÀI KINH NGHIỆM CUNG CẤP VỐN TIẾNG VIỆT CHO TRẺ DTTS 56 TUỔI - Pdf 35

Đề tài: Một vài kinh nghiệm cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số

ĐỀ TÀI :
MỘT VÀI KINH NGHIỆM
CUNG CẤP VỐN TIẾNG VIỆT CHO TRẺ DTTS 5-6 TUỔI
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Việt Nam là một quốc gia gồm 54 dân tộc cùng chung sống. Mỗi dân tộc
có một tiếng nói riêng. Tiếng Việt không chỉ là phương tiện giao tiếp trong cộng
đồng người Việt mà còn được dùng làm phương tiện giao tiếp giữa người Việt
với người thuộc các dân tộc khác và cả giữa người các dân tộc khác với nhau.
Từ sau năm 1945, tiếng Việt không chỉ là tiếng nói phổ thông của các dân tộc
mà đã trở thành ngôn ngữ quốc gia chính thức và được sử dụng trong mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội. Trong giáo dục, tiếng Việt là công cụ dạy học ở tất cả
các cấp học từ Giáo dục Mầm non đến đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ…ở tất cả các vùng
miền và đối với tất cả các dân tộc.
Một trong những thành tựu lớn lao nhất của Giáo dục Mầm non là làm
cho trẻ sử dụng được một cách thành thạo tiếng Việt trong đời sống hằng ngày.
Tiếng Việt là phương tiện quan trọng nhất để lĩnh hội nền văn hóa dân tộc, để
giao lưu với những người xung quanh, để tư duy, để tiếp thu khoa học, để bồi
dưỡng tâm hồn… Trẻ em “Tốt nghiệp” xong trường Mẫu giáo là đứng trước một
nền văn hóa đồ sộ của dân tộc và nhân loại mà nó có nhiệm vụ phải lĩnh hội
những kinh nghiệm của cha ông để lại đồng thời có sứ mạng xây dựng nền văn
hóa đó trong tương lai. Cho nên việc phát triển tiếng Việt cho trẻ em lứa tuổi
Mẫu giáo là một nhiệm vụ cực kì quan trọng, mà ở tuổi Mẫu giáo lớn nhiệm vụ
đó phải được hoàn thành. Đặc biệt đối với trẻ là con em đồng bào dân tộc thiểu
số thì nhiệm vụ này là hết sức cần thiết. Bởi vì các cháu dân tộc thiểu số thường
hay dùng tiếng mẹ đẻ của trẻ, nên khó khăn trong việc tiếp nhận tiếng Việt, dẫn
đến cháu khó tiếp thu lời giảng của cô. Chính vì vậy việc cung cấp vốn tiếng
Việt cho trẻ dân tộc thiểu số là vấn đề cần được quan tâm, nhằm hình thành và
phát triển những kỹ năng cần thiết cho việc học tiếng Việt ở các bậc học cao

phương pháp, hình thức, biện pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu
số ngay ở độ tuổi mầm non.
3. Đối tượng nghiên cứu
Một số kinh nghiệm cung cấp vốn từ tiếng Việt cho trẻ DTTS 5-6 tuổi
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu trong khuôn khổ: Một số kinh nghiệm cung cấp vốn từ tiếng
Việt cho trẻ dân tộc thiểu số 5-6 tuổi trường Mầm non Hoa Sen.
Đối tượng khảo sát: Trẻ 5-6 tuổi Lớp Lá 3 – Buôn Ea Kruế trường Mầm
non Hoa Sen.
5. Phương pháp nghiên cứu
Sáng kiến này được thực hiện với những phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp phỏng vấn trò chuyện
- Phương pháp điều tra
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận:
Trong cuộc sống xã hội con người luôn luôn phải giao tiếp với nhau, có
nhiều cách để giao tiếp song cách giao tiếp chủ yếu là sử dụng ngôn ngữ. Nhờ
ngôn ngữ con người có thể trò chuyện, trao đổi tin tức, bày tỏ tư tưởng tình cảm,
học tập tri thức khoa học .... Đối với người Việt Nam, tiếng Việt là ngôn ngữ
chính, đặc biệt đối với trẻ dân tộc thiểu số việc giúp các cháu sử dụng thành thạo
tiếng Việt là việc làm cần thiết đối với mỗi giáo viên. Tuy nhiên trong thực tế
hiện nay đa số trẻ vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, trước khi đến
trường trẻ chỉ sống trong gia đình, ở các thôn bản nhỏ, trong môi trường tiếng
mẹ đẻ do vậy trẻ chỉ nắm được tiếng mẹ đẻ ở dạng khẩu ngữ. Trẻ biết rất ít hoặc
thậm chí không biết tiếng Việt. Trong khi đó tiếng Việt là ngôn ngữ được dùng
chính thức trong trường học và các cơ sở giáo dục khác. Trên thực tế tiếng nói
các dân tộc thiểu số, hầu như chưa có vai trò rõ rệt trong việc hỗ trợ tiếng Việt
Giáo viên: Võ Thị Xuân Nga.

đến đâu cũng bám lớp, bám trường thực hiện nhiệm vụ của người giáo viên nhân
dân, có trình độ chuyên môn vững vàng, yêu nghề mến trẻ.
Tình hình an ninh chính trị tương đối ổn định.
+ Khó khăn:
Phần đông học sinh là con em đồng bào dân tộc Êđê nên việc giao tiếp,
truyền thụ kiến thức giữa cô và trẻ bằng tiếng Việt còn nhiều khó khăn.
Phụ huynh học sinh chưa thực sự quan tâm và tạo điều kiện cho việc học
tập của chính con em mình học tập.
Trình độ dân trí thấp làm ảnh hưởng không nhỏ đến công tác xã hội hóa
giáo dục và phối kết hợp trong quá trình chăm sóc giáo dục và rèn luyện cho trẻ
Cơ sở vật chất còn thiếu, công trình vệ sinh chưa có, ít thiết bị đồ chơi
ngoài trời
Các trang thiết bị phục vụ cho công tác giảng dạy và học vẫn còn thiếu
2.2. Thành công và hạn chế
+ Thành công:
Giúp giáo viên nhận thức đúng đắn hoạt động dạy tiếng Việt cho trẻ dân
tộc thiểu số bậc học mầm non.
Giáo viên: Võ Thị Xuân Nga.

Đơn vị: Trường Mầm non Hoa Sen

Trang 3


Đề tài: Một vài kinh nghiệm cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số

Trẻ đến trường chuyên cần hơn và hứng thú hơn trong các hoạt động.
100% trẻ dân tộc thiểu số đã nghe hiểu được từ về gọi tên đặc điểm của
các đồ vật, con vật và sự hiện tượng gần gũi quen thuộc, biết sử dụng các từ và
câu đơn giản trong sinh hoạt hàng ngày, biết thể hiện hành vi trong giao tiếp và

việc chăm sóc và giáo dục trẻ. Nhận thức của một số phụ huynh về vấn đề giáo
dục trẻ còn thấp.
Tiếng dân tộc của giáo viên dân tộc Kinh còn hạn chế.
Giáo viên dân tộc thiểu số ít sử dụng tiếng Việt do có thói quen nói tiếng
mẹ đẻ trong giao tiếp với trẻ
Giáo viên: Võ Thị Xuân Nga.

Đơn vị: Trường Mầm non Hoa Sen

Trang 4


Đề tài: Một vài kinh nghiệm cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số

2.4. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động
Hầu hết trẻ là con em đồng bào dân tộc thiểu số, phụ huynh chưa hiểu hết
tầm quan trọng của việc đưa con em đến trường, trẻ thường phải tự đến lớp 1
mình, không có sự đưa đón của bố mẹ, dẫn đến việc lớp không đảm bảo sĩ số,
giáo viên không có cơ hội gặp gỡ các phụ huynh để trao đổi tình hình của các
cháu ở lớp cũng như ở nhà.
Các cháu 100% là người đồng bào dân tộc thiểu số, các cháu giao tiếp với
nhau chủ yếu bằng tiếng mẹ đẻ, các cháu ít có cơ hội giao tiếp tiếng việt vì ở
Thôn buôn các cháu ít có người kinh sinh sống… chính vì vậy mà việc các cháu
tiếp thu tiếng việt còn gặp rất nhiều hạn chế.
Cảnh quan nhà trường còn hạn hẹp, chưa được thoáng mát, ít cây xanh,
gây trở ngại khi cho trẻ hoạt động tích hợp vào các môn khác.
Điều kiện sử dụng, cập nhật công nghệ thông tin của giáo viên còn hạn
chế, nên sự cuốn hút sáng tạo của trẻ khi hoạt động còn hạn chế.
2.5. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra
Với thực trạng địa bàn còn nhiều khó khăn và bất cập, trẻ đến trường



Đề tài: Một vài kinh nghiệm cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số

tin làm đúng, trẻ sẽ tự muốn nói và có thể tự thực hành với bạn của mình, giáo
viên cần cho trẻ đều được thực hành ở mỗi lần học. Chỉ sử dụng ngôn ngữ đơn
giản, ngắn gon, không dẫn dắt, giảng giải nhiều vì trẻ chưa hiểu tiếng Việt.
Khi dạy trẻ, giáo viên cần xác định trước những loại từ, câu nào sẽ sử
dụng khi hướng dẫn trẻ. Nên sử dụng các điệu bộ cử chỉ để ra hiệu cho trẻ hiểu ý
đồ của mình, thay cho việc nói nhiều của người dạy. Lúc đầu dạy từ 1-2 từ dễ
hiểu kết hợp với hành động như: Đứng lên, ngồi xuống... đến ngày hôm sau cô
giáo cần cho trẻ ôn lại những gì được học ngày hôm trước, để khắc sâu sự ghi
nhớ bằng hình thức chơi mà không cần phải giữ nguyên thứ tự từ các bước ngày
hôm trước dạy nữa ví dụ: Đứng lên - ngồi xuống, ngồi xuống - đứng lên, rửa tay
- rửa chân… Dạy tiếng Việt với biện pháp trực quan hành động với đồ vật, biện
pháp này dạy trẻ các từ mới như: Cái bàn, cái ghế, quyển vở…
Ngoài ra còn sử dụng các biện pháp dạy trẻ học tiếng Việt qua kể chuyện,
đóng vai, đối với mỗi câu chuyện, làm các đồ chơi minh hoạ, đơn giản tượng
trương cho các nhân vật chính, sử dụng các nhân vật có sẵn để làm đồ dùng
minh hoạ. Hoặc trẻ học tiếng Việt thông qua việc dạy trẻ nhận biết và phát âm
đúng 29 chữ cái tiếng Việt.
Biện pháp 1. Tuyên truyền huy động trẻ đi học chuyên cần, cung cấp
vốn tiếng Việt cho trẻ mọi lúc mọi nơi
* Tuyên truyền huy động trẻ đi học chuyên cần
- Tuyên truyền với các bậc phụ huynh về tầm quan trọng của tiếng Việt
đối với trẻ và nhờ họ khuyến khích con cháu mình giao tiếp bằng tiếng phổ
thông…
- Khi đến lớp tôi luôn tạo sự gần gũi với trẻ, tìm hiểu về hoàn cảnh gia
đình của từng trẻ, thường xuyên gặp gỡ nói chuyện và trao đổi với phụ huynh
của trẻ, cho họ biết việc đưa con mình đến lớp mẫu giáo là một vấn đề quan

trong sân trường tôi thường đặt câu hỏi theo chủ đề đang thực hiện để trẻ trả lời
Ví dụ: Chủ đề Thế giới động vật
- Tôi tổ chức cho trẻ tham quan mô hình “Trang trại nhà bé”, tôi đặt câu
hỏi gợi ý để trẻ trả lời “ Đây là con gì?”, “Nó sống ở đâu?”, “Thức ăn của nó là
gì?”...
- Đa số trẻ đều dùng tiếng mẹ đẻ trả lời, trước tình huống đó tôi đã cho
cháu biết tên của con vật đó đồng thời khuyến khích các cháu gọi tên con vật
bằng tiếng Việt.
- Những lúc tổ chức cho các cháu chơi trò chơi dân gian hay chơi tự do tôi
luôn tìm sẵn những bài thơ, bài vè, ngắn dễ đọc, dễ nhớ có trong chương trình,
phù hợp với chủ đề để dạy cho các cháu, tôi luôn khuyến khích các cháu đọc,
sửa sai cho những cháu đọc chưa đúng, đối với các cháu đọc chưa rõ ràng thì tôi
dạy cho các cháu đọc từng câu.
- Trong những lúc rảnh tôi chải tóc hay sửa sang quần áo cho các cháu tôi
thường đặt những câu hỏi để các cháu trả lời.
Ví dụ: Ai mua kẹp tóc cho con mà đẹp vậy? Nhà con có mấy anh em? Có
em bé không?... qua những lúc trò chuyện với các cháu như vậy đã giúp tôi biết
được cháu nào còn rụt rè nhút nhát, cháu nào còn sử dụng câu cụt hay cháu nào
chưa phát âm rõ… từ đó tôi dành nhiều thời gian gần gũi trò chuyện và tập cho
cháu phát âm nhiều hơn, đồng thời giúp các cháu mạnh dạn hơn
Biện pháp 2: Cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ thông qua các giờ học
Trong tất cả các giờ học tôi đều trò chuyện và đặt câu hỏi tôi luôn khuyến
khích trẻ nói và trả lời cô bằng tiếng Việt.
* Cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ qua hoạt động khám phá khoa học:
- Đây là một môn học mà đòi hỏi người giáo viên phải tìm ra những
“nghệ thuật lên lớp” hấp dẫn vì môn học này sử dụng phương pháp quan sát và
đàm thoại, mà trẻ người dân tôc thiểu số thì rất hạn chế về ngôn ngữ tiếng việt.
Trẻ chỉ có thể trả lời theo sự gợi ý của cô hoặc trả lời bằng câu cụt…
- Môn khám phá khoa học là một trong những môn học giúp trẻ phát triển
nhận thức và ngôn ngữ tích cực nhất, vì vậy tôi nghĩ cần phát huy hết tác dụng

Bip

Con Heo

Ũn

- Một hạn chế mà trẻ người đồng bào thường mắc phải, đó là nói thiếu
dấu
Ví dụ: “ Con vịt ” thì trẻ đọc là “ Con vit”
- Tôi hướng dẫn các cháu cách phát âm đồng thời sửa sai kịp thời cho các
cháu, khuyến khích, tuyên dương những trẻ phát âm đúng, sửa sai và hướng dẫn
cho các cháu phát âm chưa đúng, giúp các cháu khắc phục cũng như hạn chế
được lỗi mất dấu khi phát âm.
- Với hình thức “Thi tài” hay “Đố vui có thưởng”… giữa cô và trẻ thì trẻ
đã có thể nghe và hiểu được câu hỏi của cô
- Ví dụ : Chương trình “Đố vui có thưởng” cô bốc thăm và đọc câu hỏi:
Con chó là động vật sống ở đâu? Trẻ nào biết thì lắc xắc xô và được quyền trả
lời: Thưa cô con chó là động vật sống trong nhà…
* Cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ qua hoạt động làm quen với toán
- Tôi luôn chuẩn bị đầy đủ đồ dùng dạy học phù hợp với chủ đề với đề tài.
Điều này theo tôi nghĩ là rất cần thiết vì nó tạo cho trẻ sự hứng thú hơn khi được
nhìn ngắm những đồ dùng đẹp, mới lạ đối với các cháu
Ví dụ: Chủ đề Gia đình
Đề tài: Đếm đến 6 - nhận biêt nhóm đồ dùng có 6 đối tượng - chữ số 6
Với đề tài này tôi chuẩn bị rất nhiều đồ dùng gia đình như ly, chén, đũa… tôi
cho các cháu gọi tên và nói công dụng của từng đồ dùng, trẻ rất thích thú và rất
vui khi mình nói đúng tên và công dụng của những đồ dùng đó. Mặc dù bên
cạnh đó vẫn còn một số cháu dùng tiếng mẹ đẻ để gọi tên đồ dùng đó và với tình
huống đó tôi đã khuyến khích các cháu bằng cách: Ai gọi đúng tên đồ dùng thì
được tham gia trò chơi cùng với cô và trẻ nào cũng muốn mình được tham gia

giúp trẻ nắm được nội dung câu chuyện.
- Để cháu nhớ và hiểu câu chuyện sâu hơn, cô có thể kể nhiều lần bằng
nhiều hình thức, khi kể cô thể hiện cử chỉ, điệu bộ, giọng nói, hành động của
từng nhân vật một cách rỏ ràng, phù hợp với tính cách của từng nhân vật để trẻ
có thể hiểu và cảm nhận được đâu là nhân vật hiền lành, đâu là nhân vật hung
dữ…
Ví dụ: Nhân vật Dê mẹ thì ta thể hiện giọng nhẹ nhàng, hiền lành…
Nhân vật Dê con khi nói chuyện với mẹ thì giọng ngây thơ trong sáng,
còn khi nói chuyện với Chó sói thì giọng cứng rắn, gan dạ…
Nhân vật Chó sói thì ta thể hiện giọng gian dối, xảo quyệt…
- Tiếp theo cô tiến hành đàm thoại với trẻ, để tạo cho không khí sôi nổi
hơn cô có thể dẫn dắt cuộc đàm thoại trở thành cuộc thi tài “các con thấy Dê con
có thông minh không? Vậy bây giờ chúng mình hãy thi xem ai thông minh
giống như bạn Dê con nhé”. Và cô đặt câu hỏi khuyến khích trẻ trả lời…cô có
thể mời các cháu lên kể chuyện theo tranh hay kể chuyện sáng tạo, đóng kịch…
(Cô có thể trang bị những chiếc mũ hoặc những đồ dùng của nhân vật để tạo sự
lôi cuốn và thích thú cho trẻ hơn…) và cô tuyên dương , khen trẻ kịp thời để
khuyến khích trẻ, cô có thể thay lời nhân vật như “Dê mẹ thấy bạn A kể chuyện
hay nên Dê mẹ đã thưởng cho bạn một món quà…” và những trẻ khác chắc chắn
sẽ cố gắng giống như bạn đó để được nhận quà.
- Đối với đọc thơ tôi luôn tạo cho trẻ sự chú ý tập trung bằng giọng đọc
diễn cảm và không quên thể hiện cử chỉ điệu bộ…tiến hành cho trẻ đọc thơ
Giáo viên: Võ Thị Xuân Nga.

Đơn vị: Trường Mầm non Hoa Sen

Trang 9


Đề tài: Một vài kinh nghiệm cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số

cháu có khả năng nghe và hiểu tiếng việt và tôi đã khuyến khích đồng thời tích
hợp môn âm nhạc vào mọi hoạt động nhằm giúp các cháu phát triển vốn tiếng
việt tốt hơn nữa
* Cung cấp vốn tiếng Việt qua hoạt động làm quen chữ cái
- Nội dung của hoạt động này là giúp trẻ nhận biết và phát âm đúng 29
chữ cái, bên cạnh đó còn giúp trẻ đọc đúng các từ, hiểu được nội dung các từ, từ
đó giúp trẻ sử dụng từ đã biết để diễn đạt ý mình muốn nói…
- Để việc rèn kỹ năng phát âm cho trẻ dân tộc thiểu số đạt hiệu quả, trước
hết giáo viên phải chuẩn về phát âm tiếng Việt, nếu giáo viên phát âm không
chuẩn thì sẽ làm các em phát âm sai.
- Trong lớp tôi cũng có một số cháu nói được tiếng phổ thông nhưng
không nhớ mặt chữ cái hay từ ngữ của tiếng Việt, các cháu thể hiện theo bản
năng bắt chước…chính vì vậy mà việc dạy trẻ làm quen với chữ cái sẽ giúp trẻ
Giáo viên: Võ Thị Xuân Nga.

Đơn vị: Trường Mầm non Hoa Sen

Trang 10


Đề tài: Một vài kinh nghiệm cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số

nhận biết được chính xác cấu tạo của các chữ cái cũng như cách phát âm, để từ
đó trẻ có thể nghe, cảm nhận, phát âm và tìm được chữ cái tương ứng trong từ…
Ví dụ: Chủ đề Gia đình
Đề tài: Làm quen chữ cái e,ê.
- Cô tạo tình huống cho trẻ đến thăm nhà 1 bạn, bạn đó ở nhà rất ngoan và
lớp mình có muốn ngoan giống bạn đó không, vậy bây giờ chúng mình hãy ngồi
thật ngoan để xem mẹ bạn ấy tặng cho chúng mình món quà gì nhé (và tất nhiên
trẻ nào cũng muốn mình ngoan giống như bạn…)

xanh”… và tất nhiên trẻ thấy cô giáo cùng chơi với mình nên trẻ rất vui và đã
bắt chước làm giống cô. Đến góc nghệ thuật, tôi đã gợi ý cho cháu chơi trò chơi
Giáo viên: Võ Thị Xuân Nga.

Đơn vị: Trường Mầm non Hoa Sen

Trang 11


Đề tài: Một vài kinh nghiệm cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số

“Đồ Rê Mí” và khuyến khích các cháu tự giới thiệu tên của mình, bao nhiêu tuổi
và sở thích … Điều đó đã làm cho các cháu thực sự rất thích thú. Tôi nhận thấy
qua giờ hoạt động góc trẻ rất hiếu động, mạnh dạn, tự tin và đăc biệt các cháu
rất thích được trò chuyện với cô. Từ đó tôi luôn khuyến khích cũng như tạo cho
trẻ những cuộc trò chuyện, đối thọai với nhau bằng tiếng Việt giữa cô với trẻ và
giữa trẻ với trẻ để giúp các cháu phát triển ngôn ngữ đồng thời có thêm nhiều
vốn từ tiếng Việt hơn nữa. và để hoạt động góc luôn hấp dẫn trẻ tôi đã sưu tầm
và chuẩn bị nhiều đồ chơi, nguyên vật liệu mới lạ …để lôi cuốn trẻ vào hoạt
động, và trẻ hứng thú hơn khi chơi, cô bao quát trẻ trong lúc trẻ chơi, để ý và
động viên hướng dẫn kịp thời những trẻ nhút nhát, chưa tự tin trong hoạt động,
hoặc chưa thành thạo trong giao tiếp bằng tiếng Việt từ đó giúp trẻ tăng vốn từ
tiếng Việt hơn.
Biên pháp 3. Cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ mọi lúc mọi nơi
Để làm tăng hiệu quả trong việc cung cấp vốn từ tiếng Việt cho trẻ tôi
nghĩ việc cung cấp vốn từ cho trẻ mọi lúc, mọi nơi là điều hết sức cần thiết.
Như chúng ta đã biết trẻ dân tộc thiểu số vốn từ tiếng Việt rất hạn chế.
Khả năng nhận thức và tiếp thu chậm, vì vậy trong quá trình cho trẻ làm quen
với tiếng Việt ta cần phải có sự kiên nhẫn, nhẹ nhàng, tạo cho trẻ tâm thế thoải
mái trong mọi hoạt động.


Ví dụ: Cháu nghe và hiểu được tiếng Việt thì khi vào lớp một cháu sẽ tiếp
thu bài một cách tốt hơn mà tiếp thu bài tốt thì cháu sẽ học giỏi hơn…
- Tôi thiết nghĩ là cha mẹ ai cũng momg muốn con cháu của mình ngoan,
học giỏi vì vậy chúng ta có thể phối hợp với phụ huynh nhờ họ khi trẻ về nhà
phụ huynh có thể trò chuyện, trao đổi với các cháu bằng tiếng việt và mong phụ
huynh của các cháu tạo điều kiện cho các cháu được xem những chương trình
dành cho thiếu nhi trên tivi cũng như để ý quan tâm đến các cháu nhiều hơn và
tập cho các cháu có những thói quen tốt trong học tập.
3.3. Điều kiện để thực hiện giải pháp, biện pháp
Cung cấp vốn tiếng Việt tốt nhất khi và chỉ khi trẻ được nói bằng tiếng
Việt nhiều nhất. Do đó trong các hoạt động giáo dục, giáo viên tăng cường hỏi
trẻ, khuyến khích trẻ nói càng nhiều càng tốt.
- Đồ dùng học tập tốt nhất là: bộ phận cơ thể, đồ vật, vật thật, động tác,
tranh ảnh. Hạn chế sử dụng máy tính, bởi công nghệ thông tin chỉ giúp trẻ nhìn,
khó có thể cảm nhận được chính xác thế giới xung quanh (nghe, ngửi, nếm hoặc
sờ trực tiếp) cũng như trẻ ít có cơ hội được nói tiếng Việt.
- Giáo viên phải thật sự yêu nghề, mến trẻ, luôn gần gũi yêu thương trẻ,
không có sự phân biệt đối xử và không ngừng học hỏi để nâng cao trình độ
chuyên môn
3.4. Mối quan hệ giữa các giải pháp và biện pháp
- Các giải pháp và biện pháp luôn tương trợ cho nhau, có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau cùng hướng về một mục đích là gây hứng thú cho trẻ và đạt
hiệu quả cao như mong muốn. Giúp trẻ phát triển mọi mặt chuẩn bị tâm thế cho
trẻ trước khi vào lớp Một
- Ở lứa tuổi mẫu giáo trẻ “Học mà chơi, chơi mà học” ghi nhớ của trẻ
không có chủ định chóng quên do đó việc cung cấp tiếng Việt không dừng lại
trên tiết học mà phải thường xuyên mọi lúc mọi nơi, mọi hoạt động trong cuộc
sống hằng ngày để củng cố thêm kiến thức kĩ năng đã học
3.5. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu

Tổng Tỷ
số
lệ %

Tổng Tỷ lệ Tổng Tỷ lệ Tổng Tỷ lệ Tổng
số
%
%
số
%
số
số

26

13

100%

50%

09

35%

4

Tỷ lệ
%


Một.
Cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số là một vấn đề rất khó đòi
hỏi ở cô giáo phải thật sự yêu thương gần gũi trẻ. Bản thân giáo viên phải là tấm
gương về cách ứng xử và tôn trọng tất cả những quy định. Cô giáo luôn tạo cho
lớp học có không khí vui vẻ thỏa mái bằng cách tạo ra một không khí đoàn kết,
tránh so sánh trẻ với những trẻ khác, cư xử thật công bằng và cho trẻ cơ hội sửa
sai trong chương trình chăm sóc giáo dục trẻ.
Giáo viên: Võ Thị Xuân Nga.

Đơn vị: Trường Mầm non Hoa Sen

Trang 14


Đề tài: Một vài kinh nghiệm cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số

2. Kiến nghị
Nhằm tăng cường tiếng Việt cho trẻ mầm non dân tộc thiểu số ở Buôn Ea
Kruế trong thời gian tới, xin kiến nghị một số vấn đề sau:
Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, có chính sách hỗ trợ chế độ cho giáo
viên và học sinh để tổ chức “bán trú” hoặc “bán trú dân nuôi” nhằm tăng thời
gian cho trẻ được học tập, sinh hoạt cả ngày tại trường, tạo điều kiện, cơ hội cho
trẻ được tăng cường tiếng Việt, hình thành nề nếp, thói quen tốt trong học tập,
sinh hoạt, giao tiếp...; Chuẩn bị tốt các điều kiện cần thiết cho trẻ vào lớp 1 phổ
thông. Đồng thời, cung cấp đầy đủ đồ dùng, thiết bị tối thiểu dùng cho GDMN,
đặc biệt là trẻ mẫu giáo 5 tuổi dân tộc thiểu số. Đây là một điều kiện rất quan
trọng trong việc dạy và học tiếng Việt, đồng thời là một tiêu chuẩn để công nhận
phổ cập GDMN cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi.
Tổ chức bồi dưỡng tiếng dân tộc cho giáo viên dạy trẻ người dân tộc thiểu
số; Có chính sách cho giáo viên học thêm ngôn ngữ thứ 2 là tiếng dân tộc; Tổ

................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG CHẤM SÁNG KIẾN
(Ký tên, đóng dấu)

Giáo viên: Võ Thị Xuân Nga.

Đơn vị: Trường Mầm non Hoa Sen

Trang 16


Đề tài: Một vài kinh nghiệm cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tài liệu thử nghiệm dạy trẻ làm quen với Tiếng việt
2. Giáo trình phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non
3. Hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục mầm non trong lớp mẫu giáo
4. Tạp chí giáo dục Mầm non
5. Hướng dẫn chuẩn bị Tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo vùng dân tộc thiểu số trong
thực hiện chương trình giáo dục mầm non
6. Tâm lí học trẻ em lứa tuổi Mầm non

Giáo viên: Võ Thị Xuân Nga.

Đơn vị: Trường Mầm non Hoa Sen


2. Kiến nghị:………………………………………………………….…..15

Giáo viên: Võ Thị Xuân Nga.

Đơn vị: Trường Mầm non Hoa Sen

Trang 18


Đề tài: Một vài kinh nghiệm cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số

Giáo viên: Võ Thị Xuân Nga.

Đơn vị: Trường Mầm non Hoa Sen

Trang 19




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status