THỰC TRẠNG và GIẢI PHÁP NHẦM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH án dân sự ở VIỆT NAM - Pdf 35

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
------------------

NIÊN LUẬN
Đề tài:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẦM NÂNG CAO
HIỆU QUẢ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM

Giảng viên hướng
dẫn:
Ths: Vũ Thò Hương

Sinh viên thực
hiện:
Đinh Thò Hằng My
Lớp: K21B

H́, 4/2015




Với sự nỗ lực của bản thân và sự giúp đỡ
tận tình của các thầy cô giáo, gia đình và bạn
bè đã giúp tôi hoàn thành niên luận này. Tuy
nhiên với năng lực bản thân và thời gian có
hạn nên bài làm không thể tránh khỏi những
thiếu sót, rất mong được tiếp thu ý kiến để
niên luận được hoàn thiện hơn.
Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân

THADS

:

Thi hành án dân sự;

TAND

:

Toà án nhân dân;

CHV

:

Chấp hành viên;

TTDS

:

Tố tụng dân sự;

TTHS

:

Tố tụng hình sự;


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Bản án, quyết định của Tòa án nhân danh Nhà nước khi được chấp hành nghiêm
chỉnh có tác động trực tiếp đến lòng tin của nhân dân đối với pháp luật. Vì vậy, hoạt
động THA có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc giữ vững kỷ cương phép
nước, củng cố pháp chế và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đảm bảo cho quyền lực
tư pháp được thực thi trên thực tế. Hiến pháp 1992 khẳng định: "Các bản án và quyết
định của TAND đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức
kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng;
những người và đơn vị hữu quan nghiêm chỉnh chấp hành".
Nhận thức được tầm quan trọng trong công tác này, Đảng và Nhà nước ta đã đề
ra mục tiêu trong những năm tới đây là phải: "Tiếp tục tạo sự chuyển biến mạnh mẽ
trong công tác thi hành án dân sự, nâng cao hiệu quả công tác thi hành án, giải quyết
căn bản tình trạng án tồn đọng. Đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan
THADS, nâng cao vai trò trách nhiệm của các cơ quan THA". Nhiều năm qua, Chính
phủ đã xác định công tác THADS là một trong những nhiệm vụ trọng tâm và đã đưa
ra nhiều giải pháp hiệu quả nhằm tạo sự chuyển biến cơ bản trong công tác này. Do
vậy, công tác THADS trong những năm qua đạt được một số kết quả đáng khích lệ,
mà kết quả nổi bật nhất theo đánh giá của Chính phủ là: "Hệ thống cơ quan THADS
được hình thành trong cả nước, công tác THADS đã được triển khai và hoạt động có
hiệu quả bước đầu". Tuy nhiên, bên cạnh đó, công tác THADS hiện vẫn đang đứng
trước những khó khăn, thử thách to lớn với nhiều vấn đề tồn tại, bất cập đang đặt ra
cần được giải quyết. Hiệu quả công tác THADS chưa cao, chưa đáp ứng được yêu
cầu nhiệm vụ, và sự quan tâm, mong mỏi của Đảng, Nhà nước và nhân dân; hoạt
động THA chưa thật sự đảm bảo được tính công bằng và nghiêm minh của pháp luật.
Tồn tại lớn nhất trong công tác THADS những năm qua là tình trạng án "tồn
đọng" kéo dài, với số lượng lớn ngày càng tăng, song chưa có biện pháp hữu hiệu để
giải quyết. Tính đến hết năm 2002 trong tổng số trên 450 ngàn vụ việc phải thi hành,
thì có trên 173 ngàn vụ việc không có điều kiện thi hành, chiếm gần 39% với tổng số
tiền lên tới 8.000 tỷ đồng. Riêng năm 2002 trong số 276.749 việc có điều kiện thi

Nguyễn Quang Thái về "Đổi mới tổ chức và hoạt động THADS ở Việt Nam"; Luận
văn thạc sĩ luật học của tác giả Lê Anh Tuấn về "Đổi mới thủ tục THADS ở Việt
Nam"... Bên cạnh đó là Giáo trình môn Luật TTDS của trường Đại học luật Hà Nội và
các trường Đại học có chuyên ngành luật;
Các công trình nêu trên đã có nội dung nghiên cứu về THADS ở những góc độ,
khía cạnh và mức độ khác nhau. ở một số công trình cũng đã đề cập đến vấn đề thực
trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả THADS, nhưng chưa có công trình nào
nghiên cứu vấn đề đó một cách toàn diện, chuyên sâu.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục tiêu
7


-

-

Mục tiêu tổng quát của đề tài là tìm ra các luận cứ khoa học và thực tiễn cho
việc đưa ra các giải pháp nhằm năng cao hiệu quả công tác THADS ở nước ta trong
giai đoạn hiện nay. Để đạt được mục tiêu lớn đó cần phải thực hiện các nhiệm vụ cụ
thể sau:
3.2. Nhiệm vụ
Làm rõ những cơ sở lý luận về THA và THADS.
Đánh giá đúng đắn và toàn diện về thực trạng pháp luật về THADS thực tiễn
THADS.
Phân tích nguyên nhân của thực trạng đó.
Đưa ra những giải pháp trước mắt và lâu dài nhằm nâng cao hiệu quả THADS.
4. Phạm vi nghiên cứu
"Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả THADS ở Việt Nam" là một
đề tài có tính khái quát cao, nội dung rất rộng, phong phú và phức tạp. Vì vậy, trong

đưa ra thi hành thành một giai đoạn độc lập của quá trình bảo vệ quyền và lợi ích của
các đương sự. Giai đoạn này được gọi là giai đoạn THA. Tuy nhiên, khi đưa ra khái
niệm về THADS thì có rất nhiều quan niệm khác nhau.
Quan điểm thứ nhất của PGS.TS Võ Khánh Vinh cho rằng THADS không phải
là một thủ tục TTDS, mà là một hoạt động mang tính chấp hành và điều hành như
vậy THADS là một thủ tục hành chính.
Quan điểm thứ 2 của TS. Phan Hứu Thư cho rằng THADS là một thủ tục TTDS.
Đây là giai đoạn tiếp theo của giai đoạn xét xử không thể thiếu trong quá trình bảo vệ
quyền lợi của đương sự.
Cả 2 quan điểm trên đều có điểm hợp lý, nhưng quan điểm thứ 2 là phù hợp hơn
cả vì những lý do sau:
Thứ nhất, khi tranh chấp dân sự phát sinh, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của
mình, các đương sự phải nhờ sự can thiệp của nhà nước mà cụ thể là của toà án. Sau
khi thụ lý vụ việc, Toà án tiến hành điều tra, hoà giải, xét xử để đưa ra phán quyết
của mình. Việc giải quyết vụ việc mới thực sự là giai đoạn đầu của quá trình tố tụng.
Ở giai đoạn này, toà án mới giải quyết được về nội dung của vụ án, phân định quyền
và nghĩa vụ của các bên. Nếu phán quyết đó không được thi hành đưa ra thi hành thì
lợi ích của đương sự thực chất chưa được bảo vệ. Hiệu lực bản án, quyết định của
Toà án không được bảo đảm. Việc bảo vệ quyền, lợi ích của đương sự là cả một quá
trình và phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau. Chỉ khi nào tiến hành xong các giai
đoạn này thì quá trình bảo vệ quyền lợi của đương sự mới được coi là hoàn thành.
Thứ hai, về nguyên tắc, khi bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật phải
được đưa ra thi hành theo yêu cầu của người được thi hành án hay cơ quan THA chủ
động thi hành. Tuy nhiên bản án, quyết định của Toà án đang được đưa ra thi hành
9


hoặc đã thi hành xong vấn có thể bị xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm
nếu có kháng nghị của người có thẩm quyền. Do đó, giai đoạn THA và quá trình xét
xử có mối quan hệ mật thiết hữu cơ với nhau, nó là hai mặt thống nhất của quá trình

THADS là một bộ phận của THA, đó là hoạt động của cơ quan THA tiến hành
theo trình tự, thủ tục nhất định nhằm đưa những Bản án, Quyết định có hiệu lực của
10


Tòa án ra thi hành. Đây là giai đoạn không thể thiếu của quá trình bảo vệ quyền lợi
của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Hoạt động THA nói chung và hoạt động THADS nói riêng có ý nghĩa hết sức
quan trọng đối với mọi phương diện của đời sống. Về mặt Nhà nước, THA là một
trong những phương thức thực hiện quyền lực Nhà nước, giữ nguyên kỉ cương phép
nước, bảo vệ lợi ích của nhân dân. Đối với đời sống xã hội, THA góp phần bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp cho các cơ quan, tổ chức và mọi công dân, tạo niềm tin vững
chắc của quần chúng nhân dân đối với pháp luật của quốc gia, đảm bảo trật tự an toàn
xã hội. Để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và tăng cường pháp chế Xã hội
chủ nghĩa, ngoài chức năng của cơ quan Công an, VKS, Tòa án thì cơ quan THADS
giữ một vai trò đặc biệt và là một mắt xích không thể thiếu của quá trình tố tụng. Mọi
phán quyết của Tòa án chỉ là những quyết định trên giấy và không thể phát huy trên
thực tế nếu không được thi hành đầy đủ và hiệu quả nhất là trong lĩnh vực THADS.
THA củng cố công tác xét xử, đảm bảo hiệu lực của các bản án, quyết định, bảo
về lợi ích của nhà nước, bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức kinh tế,
tổ chức xã hội và của công dân, góp phần tăng cương pháp chế Xã hội chủ nghĩa.
Ngoài ra, qua việc THADS còn kiểm tra được công tác xét xử của Toà án đối
với từng vụ án cụ thể. Trên cơ sở đó tổng kết rút kinh nghiệm nâng cao chất lượng
xét xử.
1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của THADS Việt Nam
Dưới thời Pháp thuộc, THADS hình thành với tên gọi Thừa phát lại. Nhưng đến khi
Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, công tác THA nói chung, THADS nói riêng
đã có sự thay đổi căn bản về chất.
Nhìn lại chặng đường lịch sử hình thành và phát triển của THADS Việt Nam từ
năm 1945 đến nay, chúng ta có thể chia thành các giai đoạn sau:

lý cho việc tăng cường, hoàn thiện tổ chức và hoạt động THADS (Pháp lệnh có 7
chương và 43 điều).
Với Pháp lệnh THADS năm 1989, những quy định về THADS của Việt Nam
lần đầu tiên được pháp điển hoá ở một văn bản pháp lý có hiệu lực cao đã tạo điều
kiện thuận lợi cho việc áp dụng và thực thi pháp luật trong hoạt động THADS, góp
phần bảo đảm hiệu lực của các bản án, quyết định về dân sự của Toà án, bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp chế độ xã hội chủ nghĩa.
Mặc dù cơ chế THADS đã từng bước hoàn thiện, đội ngũ cán bộ làm công tác
này dần dần được cũng cố, tăng cường cả về số lượng và chất lượng, tuy nhiên trong
quá trình thực hiện pháp lệnh đã bộc lộ những hạn chế nhất định, sự chỉ đạo điều
hành công tác THADS vẫn còn thấp.

12


1.3.3. Giai đoạn từ 1993 đến nay
Để khắc phục hạn chế nói trên, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa IX ngày
06/10/1992 đã thông qua nghị quyết về việc bàn giao công tác THA từ TAND các
cấp sang cơ quan của Chính phủ. Pháp lệnh THADS 1993 thay thế Pháp lệnh
THADS năm 1989 đã tạo bước ngoặt lớn về tổ chức và hoạt động THA, đưa công tác
này sang một giai đoạn mới, đáp ứng yêu cầu của đất nước trong thì kỳ đổi mới. Theo
đó, công tác THADS được chuyển từ TAND các cấp sang các cơ quan của Chính
phủ. Mô hình tổ chức cơ quan THADS được thiết lập với hai loại cơ quan: Cơ quan
quản lý THA và Cơ quan THADS. Địa vị pháp lý của CHV, quyền tự định đoạt của
đương sự tiếp tục được khẳng định. Ngoài ra, Pháp lệnh THADS 1993 cũng có những
qui định nhằm xác lập cơ chế phối hợp của các ngành, cấp trong công tác THADS.
Tuy nhiên, do được ban hành trong điều kiện khẩn trương nhằm kịp thời triển khai thi
hành nghị quyết về bàn giao công tác THADS từ TAND các cấp sang cơ quan của
Chính phủ, nên những sửa đổi, bổ sung của Pháp lệnh THADS năm 1993 là rất khiêm
tốn, chủ yếu tập trung vào sự chuyển đổi cơ chế THA, mà không có sự sửa đổi, bổ

THA tiến hành. Công tác THA do Thi hành viên đảm nhiệm. Căn cứ vào yêu cầu
thực tế, TAND cơ sở, TAND trung cấp có thể lập cơ quan thi hành án. Chức trách
của cơ quan THA do TAND Tối cao quy định.
- Cơ quan THA thuộc cơ quan hành chính hoặc cơ quan thuế
Các cơ quan THA loại này được chia làm hai dạng sau:
Một là, mô hình tổ chức THADS công, độc lập tạo thành một hệ thống từ Trung
ương đến địa phương thuộc thẩm quyền quản lý của các cơ quan quản lý hành chính
tư pháp.
Ví dụ như Thái Lan: Tổ chức cơ quan THA bao gồm: Ban thư ký, Ban tài chính,
Ban THADS, Ban thực hiện dịch vụ theo chỉ định các vụ phá sản; Trung tâm nhận
giữ tài sản, Ban kết toán THA và nhận giữ tài sản của các khu vực và tỉnh thành.
Hai là, mô hình tổ chức THADS công, độc lập tạo thành một hệ thống từ Trung
ương đến khu vực đặt dưới sự quản lý của Hội đồng thuế quốc gia.
Ví dụ như ở Thụy Điển, các cơ quan THA thuộc hệ thống các cơ quan nhà nước.
ở cấp Trung ương có cơ quan THA trực thuộc Bộ tài chính, ở địa phương tương
đương với 10 khu vực hành chính có 10 cơ quan THA khu vực. Trong mỗi cơ quan
THA có Giám đốc, CHV, nhân viên thanh tra với nhân viên hành chính.
* Tổ chức THA bán công.
Tổ chức THA bán công là tổ chức THA mà do công chức thực hiện đối với một
số việc THA nhất định như thu thuế, THA đối với bất động sản và quyền tài sản, tịch
thu tài sản sung công quỹ, phạt tiền... vừa cho viên chức thừa hành đảm nhiệm phần
lớn công việc THADS trên nguyên tắc lấy thu bù đắp chi phí THA. Tương tự như tổ
chức THA công, tổ chức THA bán công cũng có thể nằm trong cơ cấu tổ chức của Tòa
án, hoặc các cơ quan hành chính.
Ví dụ ở Đức: Việc THADS do Tòa án khu vực đảm nhiệm. ở Tòa án này có
thẩm phán, nhân viên Tòa án, CHV và nhân viên THA. CHV chịu sự giám sát trực
tiếp của Chánh án Tòa án cấp khu vực. Tuy là công chức nhưng CHV thực hiện công
việc của mình một cách độc lập, có con dấu riêng, được hưởng một khoản lương cố
14


tính trên cơ sở mức lệ phí tối thiểu (người yêu cầu phải nộp khi nộp đơn yêu cầu
THA) và lệ phí trên giá trị tài sản THA (được tính theo phần trăm giá trị tài sản thi
hành được). Ngoài ra, ngân sách nhà nước có thể hỗ trợ một phần cho hoạt động
THA, chủ yếu là việc chi trả lương cho CHV, thẩm phán THA nếu đó là thiết chế
thuộc bộ máy nhà nước (Cộng hòa Liên bang Đức, Thụy Điển, Nhật Bản,
Singapore…).
15


Các chi phí cưỡng chế THA do người phải THA chịu, trường hợp tài sản của
người phải THA không đủ thì có thể do người được THA chịu.
* Việc cung cấp thông tin về điều kiện THA của người phải THA.
Ở nhiều nước, pháp luật qui định người được THA có nghĩa vụ cung cấp các
thông tin về điều kiện THA của người phải THA cũng như đề nghị biện pháp cưỡng
chế THA cần thiết để cơ quan THA thực hiện (Thụy Điển, Nhật Bản…). ở các nước
này, việc quản lý thu nhập, tài sản của cá nhân, tổ chức nói chung và người THA nói
riêng rất chặt chẽ, thể hiện ở hệ thống các cơ quan đăng ký tài sản. Mọi người đều có
quyền yêu cầu cơ quan này cung cấp các thông tin về tài sản, nhất là các thông tin về
bất động sản của một cá nhân hay một tổ chức nào đó phải nộp một khoản lệ phí cho
họ (Mỹ, Pháp, Nhật). Ngoài ra, giữa cơ quan THA và cơ quan đăng ký tài sản có thể
trao đổi thông tin qua mạng máy tính khi cần xác định điều kiện tài sản của người
phải THA.
* Về thời hiệu THA
Ở các nước khác nhau, thời hiệu THA được quy định cũng khác nhau. Nhưng so
sánh với Việt Nam, thì các nước qui định thời hiệu THA dài hơn.
Ví dụ ở Cộng hòa Liên bang Đức, thời hiệu THA là 30 năm kể từ ngày bản án,
quyết định có hiệu lực pháp luật; ở Thụy Điển thời hiệu THA là 10 năm. Hết 10 năm
người phải THA có đơn yêu cầu chấm dứt việc THA, nhưng sau 11 năm có đơn yêu
cầu của người được THA thì Tòa án vẫn phải THA.
* Các biện pháp chế tài đối với người cố tình không THA

Nhật Bản: ở Nhật Bản, tài liệu cơ bản nhất cho các thủ tục thi hành cưỡng chế
và tiêu chuẩn duy nhất để cơ quan THA thực hiện việc thi hành bằng biện pháp
cưỡng chế là chứng thư nghĩa vụ dân sự, bao gồm: Bản án, quyết định của Tòa án;
yêu cầu về thanh toán kèm theo tuyên bố về thi hành tạm thời, quyết định về lệ phí
kiện tụng và các chứng thư đã được cơ quan công chứng xác nhận.
* Các biện pháp cưỡng chế
Đây là biện pháp được áp dụng khi đương sự không tự nguyện thi hành.
Ở Thụy Điển: Các biện pháp cưỡng chế có thể áp dụng là: kê biên tài sản; trừ
lương hoặc tiền công của con nợ; đuổi người thuê nhà ra khỏi nhà cho thuê; phá dỡ
các công trình xây dựng, can thiệp vào việc thực hiện các hợp đồng, khôi phục lại
tình trạng ban đầu của tài sản bị xâm chiếm, một số biện pháp mang tính chất cảnh
báo đối với những hành vi chống đối (như yêu cầu bắt giam) của con nợ và người có
liên quan. ở Thái Lan: Các biện pháp cưỡng chế được thể hiện bằng các "Lệnh THA"
của Tòa án gồm: Lệnh tịch thu tài sản, lệnh thu theo thu nhập của người THA, lệnh
trục xuất người phải THA ra khỏi nhà, lệnh tháo dỡ nhà.
* Những tài sản không được kê biên
Xuất phát từ chính sách nhân đạo, pháp luật các nước đều có quy định những tài
sản cơ quan THA không được kê biên ở mức độ nhất định nhằm đảm bảo cho người
phải THA và gia đình họ có cuộc sống sinh hoạt bình thường ở mức tối thiểu.
ở cộng hòa Pháp: Pháp luật THA qui định những tài sản sau đây không được kê
biên: Thực phẩm, tiền trợ cấp nuôi dưỡng (trừ khoản tiền mà bên kê biên trả để cấp
dưỡng cho bên bị kê biên); các tài sản có thể định đoạt được nhưng người viết di chúc
17


hoặc người tặng cho tuyên bố không thể kê biên, hoặc là theo sự cho phép của thẩm
phán và trong một tỉ lệ do thẩm phán quyết định, được các chủ nợ sau khi đã quyết
định tặng cho hoặc mở thừa kế mà không thể kê biên; động sản cần thiết cho cuộc
sống, công ăn việc làm cho người bị kê biên và gia đình họ; những động sản, vật
dụng cần thiết của người tàn tật hay dùng để chăm sóc người ốm…

Cơ quan THADS huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh( gọi chung là cơ quan
THADS cấp huyện)
Cơ quan THADS quân sự và tương đương ( gọi chung là cơ quan THADS cấp quân
khu)
Nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan quản lý THADS; tên gị cơ cấu tổ chức cụ thể
do Chính phủ quy định.
Các điều luật quy định về cơ quan THADS và CHV được xây dựng dựa trên nền
tảng của Pháp lệnh THADS năm 2004 và các văn bản hướng dẫn có liên quan được
pháp điển hóa thành các quy định của Luật THADS năm 2008.
Nhiệm vụ, quyền han chung của THADS các cấp:
Theo quy định tại các điều 14,15,16 của Luật THADS năm 2018 thì cơ quan
THADS có sự khác nhau và tuỳ thuộc vào sự khác nhau đó để xác định là cơ quan
THA cấp nào, trong quân đọi hay ngoài quân đội, tuy nhiên nhìn chung đều có các
nhiệm vụ quyền hạn:
Thực hiện chế độ thống kê, báo cáo công tác tổ chức, hoạt động THADS theo hướng
dẫn của cơ quan quản lý THADS cấp cao hơn;
Trực tiếp tổ chức thi hành bản án, quyết định theo quy định tại điều 35 của luật
THADS;
Lập hồ sơ đề nghị xét miễn giảm nghĩa vụ THADS;
Giải quyết khiếu nại, tố cáo về THADS thuộc thẩm quyền theo quy định của Luật
THADS;
Thực hiện quản lý công chức, cơ sở vật chất, kinh phí, phương tiện hoạt động của cơ
quan THADS theo hướng dẫn, chỉ đạ của cơ quan quản lý THADS cấp trên;
19


-

+
+

THADS năm 2008.
Thực hiện quảng lý công chức, cơ sở vật chất, kinh phí, phương tiện hoạt động của cơ
quan THADS tại địa phương theo hướng dẫn, chỉ đạo của cơ quan THADS thuộc Bộ
Tư pháp.
Giúp UBND cũng cấp thưc hiện trách nhiệm, quyền hạn theo quy định tại khoản 1;2
điều 173 của luật THADS năm 2008.
Báo cáo công tác THADS trước HĐND cùng cấp khi có yêu cầu.
Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan THA cấp quân khu
Theo điều 15 luật THADS năm 2008 quy định:
Trực tiếp tổ chức thi hành bản án, quyết định tại điều 37 Luật THADS năm 2008.
Tổng kết thực tiễn công tác thi hành bản án theo thẩm quyền; thực hiện chế độ thống
kê, báo cáo công tác tổ chức, hoạt động THADS theo hướng dẫn của cơ quan quản lý
công tác THA thuộc Bộ Quốc Phòng.
Giải quyết khiếu nại, tố cáo về THA thuộc thẩm quyền theo quy định của Luật
THADS.
Phối hợp với các cơ quan chưc năng của của quân khu trong việc quản lý cán bộ, cơ
sở vật chất, kinh phí và phương tiện hoạt động của cơ quan THA cấp quân khu theo
hướng dẫn, chỉ đạo của cơ quan quản lý THA cấp quân khu theo hướng dẫn, chỉ đạo
của cơ quan quản lý THA Bộ Quốc phòng.
Lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ THADS; phối hợp với cơ quan THA phạt
tù và đặc xá cho người có nghĩa vụ THADS đang chấp hành hình phạt tù.
20


*
-

Giúp Tư lệnh quân khu và tương đương thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định
tại khoản 1 điều 172 của luật THADS 2008.
Nhiệm vụ, quyền hạn của THADS cấp huyện.

bộ hoạt động ở những lĩnh vực khác nhau phù hợp với yêu cầu của cuộc cải cách
hành chính, cải cách tư pháp. Tuy nhiên trong quá trình áp dụng quy định về thi
tuyển, các cơ quan có thẩm quyền cần nghiên cứu đến các trường hợp ngoại lệ được
21


quy định trong trong Nghị quyết của Quốc hội về việc thi hành Luật THADS năm
2008, phải nghiên cứu áp dụng các trường hợp ngoại lệ để phù hợp với các điều kiện
cụ thể ở Việt Nam, về nguồn cán bộ , công chức làm công tác THADS tại các địa bàn
miền núi, vùng sâu, vùng xa trong giai đoạn chưa có đủ số cán bộ đào tạo cho các
vùng đó.
Để nâng cao tính độc lập trong quá THA thì đòi hỏi trước hết phải là phải tạo
cho CHV có một tâm lí ổn định khi quyết định các vấn đề về THA theo quy định của
pháp luật.
CHV được bổ nhiệm suốt đời sẽ xây dựng cho họ một tâm lý ổn định không để
chi phối bởi quyền lực hay bất cứ cán nhân hoặc tổ chức nào trong việc đánh giá,
xem xet để bổ nhiệm lại như quy định trước đây.
Việc bổ nhiệm suốt đời có đồng nghĩa với môi trường bị phát sinh tiêu cực hay
không thì đây là hai môi quan hệ khác nhau lien quan đến tư cách nhiêm vụ CHV.
Mặt khác trong quá trình thực thi nhiệm vụ CHV không tuỳ tiện làm trái pháp luật.
Thực hiện cơ chế bổ nhiệm CHV suốt đời còn là bước đầu thực hiện định hướng
của Bộ Chính trị theo nghị quyết 49NQ/TW “ Tăng cường thời hạn bổ nhiệm chức
danh tư pháp hoặc thực hiện theo bổ nhiệm không có kỳ hạn”
2.1.3. Những bất cập, hạn chế, giải pháp của pháp luật về tổ THADS
* Những bất cập về tổ chức THA
- Bản án số 21/2014/HSST ngày 16/6/2014 của TAND tỉnh S tuyên:
Án phí HSST: mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đ;
Án phí DSST, bị cáo Dương Văn Thương phải chịu: 271.235 đồng, bị cáo Danh
Sam phải chịu: 265.000 đ, bị cáo Danh Thương phải chịu: 265.000 đồng.
Phạt sung quỹ nhà nước số tiền: 850.000 đồng tiền thu lợi bất chính của bị cáo

Tòa Phúc thẩm TAND tối cao tại ĐN tuyên các bị cáo Ngô Thị Bông, Nguyễn Thị
Thu Hồng, Đặng Thị Ngân, Nguyễn Thị Minh, Lê Văn Đức phạm tội “Trốn thuế”.
Ngoài việc phải chấp hành hình phạt tù, các bị cáo còn phải thi hành phần trách
nhiệm dân sự, cụ thể như sau:
Chấp nhận bị cáo Ngô Thị Bông đã tự nguyện khắc phục nộp 8.245.856.000
đồng tại Cục THADS tỉnh Đ. Chuyển trả lại cho Chi cục thuế huyện C, tỉnh B số tiền
4.268.086.000 đồng; cho Chi cục thuế huyện M, tỉnh N số tiền 1.974.496.060 đồng;
cho Chi cục thuế thị xã L, tỉnh N số tiền 2.003.274.000 đồng.
Chấp nhận bị cáo Nguyễn Thị Minh đã tự nguyện khắc phục nộp 800.000.000
đồng tại Cục THADS tỉnh Đ. Chuyển trả cho Chi cục thuế huyện Đ, tỉnh Đ số tiền
800.000.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Thị Minh còn phải trả lại 1.196.564 cho Chi cục
thuế huyện Đ, tỉnh Đ.
Chấp nhận bị cáo Lê Văn Đức đã tự nguyện khắc phục 1.276.898.500 đồng.
Chuyển trả lại cho Chi cục thuế thành phố T, tỉnh Đ số tiền 1.276.898.500 đồng.
Buộc bị cáo Đặng Thị Ngân phải trả 1.701.515.000 đồng cho Chi cục thuế
huyện S, tỉnh Đ.
Khó khăn, vướng mắc mà Cục THADS tỉnh Đ là chưa xác định được khoản nào
phải ra Quyết định THA chủ động; khoản nào phải ra quyết định THA theo đơn yêu
23


cầu. Trong quá trình tổ chức THA, tại Cục THADS tỉnh Đ có nhiều ý kiến trái chiều
như sau:
- Ý kiến thứ nhất: nên ra Quyết định THA chủ động, vì tất cả các khoản tiền trên
là tiền thuế nộp ngân sách nhà nước.
- Ý kiến thứ hai: nên ra Quyết định THA theo đơn yêu cầu của đương sự, vì tại
Khoản 1 Điều 36 Luật THADS quy định trường hợp trên không phải là khoản chủ
động THA; đồng thời, các khoản trên do có tác động của cơ quan tố tụng nên các bị
cáo mới nộp tiền khắc phục hậu quả, để hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
- Ý kiến thứ ba: Nên ra Quyết định THA chủ động đối với khoản: “Chuyển trả

36 Luật THADS quy định ra quyết định THA, tại khoản 1 quy định: Thủ trưởng cơ
quan THADS chủ động ra quyết định thi hành đối với phần bản án, quyết định
sau đây: a. Hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí. Tác giả
cho rằng: khoản án phí có thể phải thu và cũng có thể không phải thu nên cơ quan
THA vẫn phải ra quyết định thi hành án chủ động.
Vậy trong thực tế các cơ quan THADS có ra quyết định THA trong trường hợp
này hay không vì rõ ràng tình huống phát sinh này chưa được văn bản pháp luật về
THADS quy định dẫn đến việc xử lý của các cơ quan THA chưa thống nhất?
* Quan điểm giải quyết một số vướng mắc khó khăn
- Đối với việc ra một hay nhiều quyết định THA và việc ra quyết định THA đối
với phần tiêu hủy cần căn cứ Khoản 1, Khoản 3 Điều 5 Nghị định 125/NĐ-CP để
thực hiện. Khoản 1 Điều 5 áp dụng trong trường hợp ra một quyết định THA chung
cho các khoản thuộc diện chủ động thi hành trong một bản án, quyết định, nhưng
phải loại trừ khi bản án, quyết định đó có các khoản chủ động về trả lại tiền, tài sản
thì đối với mỗi người được THA, Thủ trưởng cơ quan THADS ra một quyết định
THA đối với các khoản đó ( Khoản 2 Điều này) hoặc trường hợp trong một bản án,
quyết định có nhiều người phải thi hành nhiều khoản chủ động khác nhau thì đối với
mỗi người phải THA, Thủ trưởng cơ quan THADS ra một quyết định THA chung
cho các khoản thuộc diện chủ động THA mà người đó phải thi hành (Khoản 3 Điều
này). Như vậy, trường hợp được đưa ra tại phần 1.1 có 03 người phải THA (nhiều
người) đối với khoản án phí, phạt sung quỹ…( nhiều khoản) thì cần áp dụng khoản 3
Điều 5 Nghị định 125/NĐ-CP để ra 03 Quyết định THA. Đối với phần tiêu hủy cũng
như phần tịch thu sung công tài sản là vật chứng thu được trong bản án, có thể không
xác định là tài sản của bị cáo nào, trường hợp này Luật THADS và các văn bản có
liên quan đều chưa đề cập đến, trong thực tế hầu hết phần tiêu hủy vật chứng trong
trường hợp tách án thì nên đưa vào Quyết định THA đối với người phải THA là
người đầu vụ trong một bản án, quyết định của Tòa án để thực hiện các thủ tục giải
quyết tiếp theo.
- Đối với việc ra quyết định THA chủ động hay quyết định thi hành án theo đơn
được đề cập đến tại phần “ Khó khăn trong việc xác định khoản ra quyết định THA


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status