Em xin gửi lời cảm ơn chân thành
sâu sắc đến giảng viên Thạc sỹ
Trần Thò Mỹ Hồng - người đã tận
tình hướng dẫn, động viên, giúp đỡ
em trong suốt quá trình thực hiện
khóa luận.
Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn
Quý thầy cô khoa Khoa học Xã hội,
Quý thầy cô Trường Đại học Quảng
Bình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi
để em bồi dưỡng tri thức và hoàn
thành khóa học vừa qua.
Thiết tha bày tỏ lời tri ân sâu
sắc đến người mẹ và những người
thân trong gia đình đã luôn quan tâm,
yêu thương và tạo mọi điều kiện cho
em học tập. Cảm ơn những người bạn
đã góp ý, trao đổi và động viên em
trong quá trình nghiên cứu.
Chân thành cảm ơn!
Taực giaỷ
ẹaọu Thũ Thu
LI CAM OAN
Tụi xin cam oan ti ny l kt qu nghiờn cu ca riờng tụi, khụng
sao chộp ca ai. Cỏc s liu, kt qu trong ti ny l trung thc, cha tng
c cụng b trong cỏc cụng trỡnh khỏc. Ni dung ti cú tham kho v s
Hà Nội
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU.................................................................................................................................... 1
1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
2.LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
3.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
6.CẤU TRÚC CỦA KHÓA LUẬN
1
3
8
8
8
8
9
10
PHẦN NỘI DUNG............................................................................................................................... 11
CHƯƠNG I......................................................................................................................................... 11
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHÂN VẬT VĂN HỌC VÀ MỘT SỐ THỂ LOẠI TRUYỆN DÂN GIAN................11
1.1.NHÂN VẬT VĂN HỌC
11
1.1.1.Khái niệm về nhân vật văn học..................................................................................................11
1.1.2.Chức năng của nhân vật văn học...............................................................................................12
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................................................ 80
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ở bất kì xã hội nào, từ Đông sang Tây, từ cổ chí kim, dù văn minh hay lạc
hậu đều phát triển dựa trên những giá trị văn hóa truyền thống. Trong đó văn học
dân gian (VHDG) là một bộ phận không kém phần quan trọng. Văn học dân gian
vừa là một bộ phận của văn học dân tộc, vừa là bộ phận nghệ thuật ngôn từ
truyền miệng của văn hóa dân gian, phản ánh sinh hoạt xã hội, đời sống tâm lí,
tình cảm, thái độ nguyện vọng, kinh nghiệm mọi mặt của nhân dân lao động các
thế hệ. VHDG ra đời từ thời kì công xã nguyên thủy, trải qua các thời kì phát
triển lâu dài trong các chế độ xã hội có giai cấp tiếp tục tồn tại cho tới ngày nay.
Trong văn học dân tộc, VHDG là một bộ phận ra đời sớm. Nó không chỉ là
một bộ phận của văn chương mà còn chính là đời sống, là quan niệm là kinh
nghiệm là tiếng lòng muôn đời của dân gian. Vì vậy vai trò và giá trị của văn học
dân gian thật lớn lao và toàn diện, không chỉ với văn học thành văn mà còn với
nhiều nghành khoa học và văn hóa khác nữa. Mặc dù VHDG có sử dụng nhiều
yếu tố hư cấu tưởng tượng, nhưng cốt lõi của những tư liệu đó vẫn là nguồn sử
liệu quý báu, mang dấu ấn văn hóa lịch sử. Khi chưa có chính sử, nguồn tư liệu
VHDG chính là sử liệu duy nhất để tái hiện lịch sử dân tộc. Khi có chính sử
VHDG là nguồn tư liệu hỗ trợ cho chính sử, góp phần đính chính, sàng lọc các sự
kiện lịch sử theo quan điểm của nhân dân, qua đó hiểu thêm chính sử một cách
chính xác và sâu sắc hơn. Văn học viết đã kế thừa rất nhiều phương diện nghệ
thuật từ văn học dân gian. Các nhà thơ, nhà văn vĩ đại luôn tìm đến VHDG như
mạch nguồn vô tận cho sáng tạo của mình. Về phương diện nhân vật, VHDG đã
xây dựng được những nhân vật điển hình đẹp đẽ mang tính biểu tượng cao, trở
thành khuôn mẫu của cái đẹp và cái hùng, trở thành nguồn mạch trong lành vô
tận cho văn học nhiều đời. Những hình tượng An Dương Vương, Thánh Gióng,
thể hiện những ước mơ, khát vọng của cộng đồng, ở họ là sự tập hợp tất cả
những gì tốt đẹp nhất, ưu việt nhất. Điều này thể hiện mơ ước của bộ lạc, bộ tộc
có được người đứng đầu người lãnh đạo xứng đáng để dìu dắt họ vượt qua những
khó khăn trong cuộc sống và trong đấu tranh chống lại kẻ thù.
Những nhân vật xuất hiện trong truyện dân gian mang đậm màu sắc thần
thánh hóa, đặc biệt trong đó là các nhân vật anh hùng trong thần thoại, sử thi,
truyền thuyết. Từ thuở hồng hoang, những nhân vật anh hùng xuất hiện một cách
tự nhiên nhằm giải thích tự nhiên, xã hội và ước mơ chinh phục thế giới đó.
2
Trong cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta, biết bao tấm gương
anh hùng dám xả thân vì nghĩa lớn, cùng với cả dân tộc bảo vệ vững chắc nền
độc lập tự do của Tổ quốc đã được nhân dân khắc cốt, sử sách lưu thơm, được
ngàn đời thờ phụng ở các đền, chùa, đình, miếu Việt Nam. Bằng cách ấy dân tộc
ta, từ đời này qua đời khác muốn thể hiện lòng thành kính, biết ơn đối với công
trạng của các vị anh hùng. Họ trở thành Thần ở các làng và nhân dân tin tưởng
sâu sắc rằng các vị thần đó sống mãi ở một thế giới vô hình, và luôn hiện về để
phù trợ cho các thế hệ đời sau. Niềm tin ấy trở thành một sức mạnh to lớn khích
lệ cho dân tộc ta chiến thắng mọi kẻ thù, trường tồn mãi mãi. Điều mà truyện cổ
dân gian hấp dẫn và làm say lòng người cho tới tận hôm nay là bởi chính các
nhân vật anh hùng đã làm nên lịch sử, là niềm tự hào của mỗi bản làng, mỗi bộ
tộc và mỗi dân tộc.
“Tôi yêu truyện cổ nước tôi
Rất nhân hậu vừa tuyệt vời sâu xa
Thương người rồi mới thương ta
Yêu nhau dù mấy cách xa cũng tìm…”.
(Lâm Thị Mỹ Dạ - Chuyện cổ nước mình)
Xuất phát từ những điều trên và tình yêu truyện cổ dân gian Việt Nam tha
thiết từ thuở bé thơ qua từng lời kể, bài học của thầy cô. Đặc biệt là các nhân vật
đại học. Đầu những năm 60 các giáo trình về văn học dân gian của các trường đại
học sư phạm và trường Đại học Tổng hợp Hà Nội được xuất bản. Việc nghiên
cứu, sưu tầm, xuất bản văn học dân gian ngày càng được đẩy mạnh.
Sưu tầm biên soạn truyện cổ dân gian Việt Nam, trước cách mạng tháng 8
năm 1945, Nguyễn Văn Ngọc đã có nhiều đóng góp, sau 1945 người đạt nhiều
thành tựu trong sưu tầm truyện dân gian là Nguyễn Đổng Chi với bộ Kho tàng
truyện cổ tích Việt Nam (5 tập). So với Nguyễn Văn Ngọc, Vũ Ngọc Phan không
phải là người đi trước. So với bộ sưu tập truyện cổ của Nguyễn Đổng Chi, sưu tập
về truyện dân gian của Vũ Ngọc Phan cũng không đồ sộ bằng. Tuy nhiên công lao
của Vũ Ngọc Phan lại đáng ghi nhận ở chỗ dưới chế độ mới, cuốn sách Truyện cổ
Việt Nam (1955), tuy chỉ có 174 trang do ông biên soạn, đã đóng vai trò mở đầu
cho các sưu tập truyện dân gian của các soạn giả khác xuất bản sau đó.
Với khối lượng các bài báo, tạp chí và sách xuất bản, Bùi Văn Nguyên
xứng đáng được xếp vào hạng các tác gia nghiên cứu folklore Việt Nam. Giáo sư
Bùi Văn Nguyên có những đóng góp tích cực theo nhiều chiều hướng khác nhau
của quá trình nghiên cứu. Điều đó chứng tỏ ông luôn tìm tòi những cái mới
không những trên những vấn đề cụ thể mà còn trên cả bình diện phương pháp
luận. Suốt một thời gian dài từ năm 1969 đến năm 1984, Bùi Văn Nguyên viết
4
một loạt bài báo với khí thế hào hùng của người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa
chống giặc ngoại xâm:
- “Hình tượng anh hùng trong truyện dân gian các dân tộc thiểu số miền
Bắc”, 1969
- “Việt Nam, nước của Thánh Gióng, truyền thống và hiện đại”, 1976
- “Tinh thần tự cường và bất khuất của dân tộc và ý nghĩa chân thực trong
thư tịch cổ thời Hùng Vương”, 1983
Công trình “Người anh hùng làng Dóng” (1969) là một đỉnh cao trong sự
FAHASA đã chính thức công bố bộ sách “Kho tàng sử thi Tây Nguyên”, bộ sử
thi đồ sộ bậc nhất ở Việt Nam từ trước đến nay. Đây là kết quả của dự án điều
tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên mà
Chính phủ đã giao cho Viện KHXH Việt Nam chủ trì, tiến hành từ năm 2001 đến
nay. Sau cuốn sách “Bài ca Đam San” (của L.Sabatier) được xuất bản tại Pháp từ
năm 1927, đây là lần đầu tiên sử thi Tây Nguyên được công bố một cách có hệ
thống, in song ngữ, kèm chân dung nghệ nhân hát kể. Những giá trị của sử thi
Đăm Săn là không thể phủ nhận. Vậy mà, nó vẫn không được nhiều nhà nghiên
cứu quan tâm. Những công trình trực tiếp bàn đến Đăm Săn như Sử thi Êđê của
Phan Đăng Nhật, bài giảng thể loại của Hoàng Ngọc Hiến là không nhiều. Còn
với các khoá luận của sinh viên thì dường như Đăm Săn ít có duyên!
Năm 1959, Đào Tử Chí cho xuất bản “Bài ca chàng Đăm Săn”. Trong thời kì
đất nước bị chia cắt, một số cán bộ người Ê Đê tập kết ra bắc cùng Ngọc Anh hoàn
thành bản thảo một số khan Ê Đê và cho xuất bản với nhan đề Trường ca Tây
Nguyên vào năm 1963. Sử thi Ê Đê, nhất là sử thi Đăm Săn được nhiều nhà nghiên
cứu trong và ngoài nước rất quan tâm. G.Condominas, nhà dân tộc học nổi tiếng
người Pháp trong bài “Những quan sát về xã hội học về hai trường ca Rađê” đã
nghiên cứu khía cạnh về phương diện xã hội học, dân tộc học của tác phẩm Đăm Di
và Đăm Săn. Trong bài nghiên cứu này ông đã nhiệt liệt ca ngợi sử thi Đăm Săn
“Người ta không thể nói về văn hóa dân gian Đông Dương nguyên thủy mà không
nói đến một cái đầu đề: Trường ca Đăm Săn. Bài thơ tuyệt vời này, bài thơ lớn đầu
tiên ai cũng biết trong văn học truyền miệng của các bộ tộc người miền Trung Việt
Nam, hiện nay hiển nhiên vẫn là một tuyệt tác” [2; tr 230]. Các nhà nghiên cứu
trong nước đã dành sự chú ý và công sức để tìm hiểu Ê Đê. Chẳng hạn như Chu
Xuân Diên có bài “Tìm hiểu giá trị Bài ca Đăm Săn”; Bùi Văn Nguyên có bài “Vẻ
đẹp hùng tráng và nên thơ trong Trường ca Tây Nguyên”; Hoàng Ngọc hiến có bài
“Bài ca chàng Đăm Săn như là một tác phẩm anh hùng ca”; Nguyễn Văn Hoàn có
bài “Giới thiệu sử thi Đăm Săn”. Còn lại các nhà nghiên cứu chủ yếu tìm hiểu sử
6
Mơ Nông, Ba Na, việc sưu tầm xuất bản sử thi Xơ Đăng được tiến hành muộn
hơn, số tác phẩm công bố ít hơn. Còn việc nghiên cứu, giới thiệu nó cũng chưa
được tiến hành đầy đủ và kĩ lưỡng.
7
Trong các dân tộc thiểu số Việt Nam chỉ có một vài dân tộc được phát hiện
là có sử thi. Ở Tây Nguyên, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam đã sưu tầm và phát
hiện 622 tác phẩm sử thi tại hơn 1.000 buôn, bon, làng, plây của 35 huyện, thị xã,
thành phố, thuộc các dân tộc Êđê, Gia Rai, M'nông, Ba Na, và Chăm hơ roi, Xơ
tiêng, Xê đăng, Cơ ho, Mạ. Năm 2007, một bộ sách Kho tàng sử thi Tây
Nguyên đã được xuất bản gồm 75 tác phẩm, được in trong 62 tập với tổng số
60.400 trang sách. Đây được xem là bộ sách đồ sộ nhất Việt Nam từ trước đến
nay về văn hóa dân gian của Tây Nguyên.
Ta thấy rằng, sử thi vẫn là một “mảnh đất” màu mỡ nhưng còn "hoang hoá"
cần phải được "khai khẩn"! Nói như vậy cũng để khẳng định rằng: Chúng ta cần
chú ý hơn nữa đến những giá trị tinh thần vô giá của dân tộc.
Các công trình nghiên cứu trên đây là những gợi ý quý báu cho chúng tôi
trong việc thực hiện đề tài này. Việc nghiên cứu văn học dân gian và các nhân
vật anh hùng trong truyện cổ đã có nhiều nhà khoa học đề cập đến trên nhiều
phương diện khác nhau song chưa đi sâu vào tìm hiểu các nhân vật anh hùng
trong thần thoại, sử thi, truyền thuyết. Khảo cứu chưa có công trình nào nghiên
cứu về đề tài này, đây đó cũng chỉ xét trên một số phương diện nhất định để làm
rõ ý tưởng.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nhân vật anh hùng trong thần thoại, sử thi, truyền thuyết.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi tập trung vào khảo cứu các nhân vật anh hùng trong thần thoại, sử
hùng trong thần thoại, sử thi, truyền thuyết trong phạm vi tài liệu bao quát.
Thống kê và phân tích nghệ thuật xây dựng các nhân vật anh hùng. Góp thêm
tiếng nói mới vào vấn đề nghiên cứu nhân vật văn học nói chung và nhân vật anh
hùng trong truyện thần thoại, sử thi, truyền thuyết nói riêng.
- Về mặt thực tiễn, đề tài là nguồn tài liệu tham khảo cho sinh viên học tập,
nghiên cứu giúp cho các giáo viên vận dụng vào việc giảng dạy văn học dân
gian trong việc phân tích các nhân vật anh hùng.
9
6. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung khóa luận gồm
có ba chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề chung về nhân vật văn học và một số thể loại
truyện dân gian.
Chương 2: Các kiểu nhân vật anh hùng trong thần thoại, sử thi, truyền thuyết
Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật anh hùng trong thần thoại, sử thi,
truyền thuyết.
10
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHÂN VẬT VĂN HỌC VÀ
MỘT SỐ THỂ LOẠI TRUYỆN DÂN GIAN
1.1. Nhân vật văn học
1.1.1. Khái niệm về nhân vật văn học
M. Gorki có lần khuyên một nhà văn trẻ: “Anh hãy bỏ nghề viết đi. Đấy
thường nói đến nhân dân như là một nhân vật trung tâm trong Chiến tranh và
hòa bình của L. Tônxtôi, Ca Cao là nhân vật chính trong Ðất dữ của G.
Amađô, chiếc quan tài là nhân vật trong tác phẩm Chiếc quan tài của Nguyễn
Công Hoan... Tô Hoài nhận xét về Chiếc quan tài: "Trong truyện ngắn Chiếc
quan tài của Nguyễn Công Hoan, nhân vật không phải là người mà là một
chiếc quan tài. Nhưng chiếc quan tài ấy chẳng phải là vô tri mà là một sự thê
thảm, một bản án tố cáo chế độ thảm khốc thời Pháp thuộc. Như vậy, chiếc quan
tài cũng là một thứ nhân vật". Tuy vậy, nhìn chung nhân vật vẫn là hình
tượng của con người trong tác phẩm văn học.
Nhân vật văn học không giống với các nhân vật thuộc các loại hình nghệ
thuật khác. Ở đây, nhân vật văn học được thể hiện bằng chất liệu riêng là ngôn
từ. Vì vậy, nhân vật văn học đòi hỏi người đọc phải vận dụng trí tưởng tượng,
liên tưởng để dựng lại một con người hoàn chỉnh trong tất cả các mối quan hệ
của nó.
Tóm lại, nhân vật văn học là một hình tượng nghệ thuật do nhà văn sáng tạo
nên, nhân vật văn học rất phong phú, nó có thể là đồ vật, loài vật… nhưng chủ
yếu vẫn là con người. Sự thể hiện nhân vật cũng ở những hình thức rất đa dạng.
Dù nhân vật là thế giới loài người hay loài vật nó cũng đều có vai trò rất quan
trọng trong sáng tác của nhà văn, nó làm nên linh hồn của tác phẩm.
1.1.2. Chức năng của nhân vật văn học
Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh đã khẳng định: “Trong thế giới nghệ thuật của
nhà văn thường có một hình tượng tâm huyết cứ trở đi trở lại nhiều lần là một
“ám ảnh” đối với nhà văn. Những hình tượng như thế càng có tính phổ biến bao
nhiêu, càng có ý nghĩ tư tưởng sâu sắc và cơ bản bấy nhiêu” [5]. Như vậy nhân
vật văn học là căn cứ quan trọng giúp người đọc có thể hiểu được phong cách và
tư tưởng nghệ thuật của nhà văn.
12
phẩm văn học.
13
1.1.3. Phân loại nhân vật văn học
Nhân vật văn học là một hiện tượng rất phong phú và đa dạng. Những nhân
vật được xây dựng thành công từ xưa đến nay bao giờ cũng là những sáng tác
độc đáo, không lặp lại. Tuy xét về mặt nội dung tư tưởng, kết cấu, chất lượng
miêu tả… có thể thấy những hiện tượng lặp đi lặp lại tạo thành các loại nhân vật
khác nhau. Để hiểu được thế giới nhân vật đa dạng, phong phú có thể tiến hành
phân loại ở nhiều góc độ khác nhau.
Xét từ góc độ nội dung tư tưởng hay phẩm chất của nhân vật, có thể nói đến
nhân vật chính diện (nhân vật tích cực), nhân vật phản diện (nhân vật tiêu cực).
Nhân vật chính diện là nhân vật đại diện cho lực lượng chính nghĩa trong xã
hội, cho cái thiện, cái tiến bộ. Khi nhân vật chính diện được xây dựng với những
phẩm chất hoàn hảo, có tính chất tiêu biểu cho tinh hoa của một giai cấp, một dân
tộc, một thời đại, mang những mầm mống lí tưởng trong cuộc sống,… có thể coi
là nhân vật lí tưởng. Ở đây, cũng cần phân biệt nhân vật lí tưởng với nhân vật lí
tưởng hóa. Loại nhân vật sau là loại nhân vật được tô hồng, hoàn toàn theo chủ
quan của nhà văn. Ở đây là nhà văn đã vi phạm tính chân thực của sự thể hiện.
Nhân vật phản diện là nhân vật đại diện cho lực lượng phi nghĩa, cho cái ác, cho
cái lạc hậu, phản động, cần bị lên án. Trong quá trình phát triển văn học, trong
mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, việc xây dựng các loại nhân vật trên cũng khác
nhau. Nếu như trong thần thoại chưa có sự phân biệt rạch ròi giữa nhân vật chính
và nhân vật phản diện thì trong truyện cổ tích, các truyện thơ Nôm, các nhân vật
thường được xây dựng thành hai tuyến rõ rệt có tính chất đối kháng quyết liệt. Ở
đây, hễ là nhân vật chính diện thường tập trung những đức tính tốt đẹp còn nhân
vật phản diện thì hoàn toàn ngược lại. Trong văn học hiện đại, nhiều khi khó
phân biệt đâu là nhân vật chính diện, đâu là nhân vật phản diện. Việc miêu tả này
phù hợp với quan niệm cho rằng hiện thực nói chung và con người nói riêng
nhiều nhân vật phụ vẫn được các nhà văn miêu tả đậm nét, có cuộc đời và tính
cách riêng, cùng với những nhân vật khác tạo nên một bức tranh đời sống sinh
động và hoàn chỉnh
Xét từ góc độ thể loại, có thể phân thành các nhân vật: Nhân vật trữ tình,
nhân vật tự sự và nhân vật kịch.
Xét từ góc độ chất lượng miêu tả, có thể phân thành các loại: Nhân vật, tính
cách, điển hình. Nhân vật là những con người nói chung được miêu tả trong tác
phẩm. Nhà văn chỉ có thể mới nêu lên một vài chi tiết về ngôn ngữ, cử chỉ, hành
động… cũng có thể miêu tả kĩ và đậm nét. Tính cách là nhân vật được khắc họa
15
với một chiều sâu bên trong. Nó như một điểm qui tụ mà từ đó có thể giải thích
được mọi biểu hiện muôn màu, muôn vẻ sinh động bên ngòai của nhân vật. Điển
hình là tính cách đã đạt đến độ thực sự sâu sắc, là sự thống nhất giữa cái chung
và cái riêng, cái khái quát và cái cá thể… nói một cách nghiêm ngặt, thuật ngữ
này chỉ áp dụng từ chủ nghĩa hiện thực phê phán trở về sau. Ngoài những loại
nhân vật dược trình bày, có thể nêu lên một số khái niệm về nhân vật qua các
trào lưu văn học khác nhau. Chẳng hạn, khái niệm nhân vật bé nhỏ trong văn học
hiện thực phê phán, khái niệm nhân vật - con người trong chủ nghĩa tự nhiên,
nhân vật - phi nhân vật trong các trào lưu văn học hiện đại chủ nghĩa phương
Tây…
1.2. Đặc trưng các thể loại Thần thoại, Sử thi, Truyền thuyết
1.2.1. Thần thoại
1.2.1.1. Khái niệm chung về Thần thoại
Từ thời khởi thủy của xã hội loài người, con người đã biết dùng lời văn
tiếng nhạc để làm phong phú thêm vẻ đẹp tâm hồn. Điều này được thể hiện bằng
những câu hát, truyện kể lưu truyền trong dân gian của các dân tộc trên thế giới.
Trong các câu hát, truyện kể trong dân gian thì thần thoại xuất hiện từ khá sớm,
gắn liền với sự hình thành và phát triển của xã hội loài người.
thần thoại có từ trước công nguyên. Đồng quan điểm như trên, các nhà nghiên
cứu Đỗ Bình Trị, Chu Xuân Diên cũng đưa ra các ý kiến: “Nói một cách đơn
giản thần thoại là một loại truyện nói về thần, mang yếu tố thiên nhiên và xuất
hiện vào thời kì khuyết sử” và “Thần thoại chỉ có thể xuất hiện trong giai đoạn
thấp của sự phát triển xã hội và của sự phát triển nghệ thuật. Trong giai đoạn
đó, thần thoại đã có một vai trò tích cực trong đời sống tinh thần của con người:
đó là phương tiện nhận thức quan trọng của người nguyên thuỷ, cũng là một
trong những nguồn hình thành những giá trị tinh thần truyền thống đầu tiên của
dân tộc” .
Cơ sở đầu tiên dẫn đến sự ra đời của Thần thoại là sự phát triển của xã hội
công xã nguyên thủy khi con người đã xuất hiện tư duy và hoạt động ngôn ngữ.
Con người thời kỳ nguyên thuỷ trong khi tiếp xúc với thiên nhiên, tiếp xúc với
các hiện tượng vũ trụ kỳ bí, họ đã muốn cố gắng tìm hiểu, xuyên qua cái bề ngoài
để nhận thức thế giới, nhận thức tự nhiên. Sự nhận thức thế giới của con người
lúc đó là hoang đường và ấu trĩ. Con người tưởng tượng ra và đặt niềm tin vào sự
tưởng tượng ấy, rằng thế giới là do các vị thần linh tạo ra. Thế giới đó luôn bí ẩn
và to lớn, nó chế ngự con người và luôn luôn đe dọa đời sống của họ.
17
Trong quá trình lao động, sản xuất, con người nguyên thuỷ đã vận dụng lý
trí non nớt, sự nhận biết thô sơ của mình về thiên nhiên, vũ trụ để tìm câu trả lời
cho những gì xảy ra xung quanh như: Tại sao lại có ngày? Tại sao lại có đêm?
Tại sao lại có bầu trời? Tại sao lại có mặt đất? Tại sao lại có mặt trời, mặt trăng
và các vì sao? Tại sao lại có sự sống, sự chết? Con người sinh ra từ đâu? Tại sao
lại có mưa gió, bão lụt, hạn hán?... Và còn rất nhiều câu hỏi khác. Chính vì thế,
họ đã làm ra thần thoại. Và Mác đã gọi thần thoại là thứ nghệ thuật được người
xưa sáng tạo ra một cách không tự giác.
Lúc này, con người cũng đã nhận thức được mình là một bộ phận của thiên
nhiên và hơn nữa còn muốn khẳng định mình là bộ phận tinh tuý nhất của thiên
1.2.1.4. Nhân vật thần thoại
Nhân vật trong thần thoại là thần, hầu hết có nguồn gốc từ thiên nhiên. Họ là
“lời giải thích” cho chính nguồn gốc mà họ sinh ra. Thần trụ Trời giải thích về sự
hình thành của trời đất. Thần Mặt Trăng giải thích tại sao mặt trăng lại mát dịu hơn
mặt trời. Thần Mưa, Thần Gió giải thích tại sao lại có hiện tượng mưa, gió. Thần
Sông giải thích cho sự hình thành của sông... Đây là những nhân vật thần thoại đầu
tiên có trong những câu truyện cổ tích đầu tiên về tự nhiên. Chính vì thế người ta
gọi kiểu nhân vật này là nhân vật suy nguyên trong thần thoại suy nguyên.
Nhân vật thần thoại có tầm vóc và hành động phi thường mang tầm cỡ vũ
trụ. Để xây dựng môtíp nhân vật này, tác giả dân gian đã tận dụng tuyệt đối trí
tưởng tượng bay bổng của mình và sử dụng biện pháp nghệ thuật thần thánh hóa
và nhân cách hóa các hiện tượng tự nhiên. Đây là biện pháp nghệ thuật bắt nguồn
từ thế giới tâm linh hoàn toàn biệt lập với những quy luật và kiến thức khoa học
tự nhiên cho nên nó mang tính “vô thức” một cách thuần khiết. Người ta cho
rằng tất cả mọi thứ, mọi sự vật trong thiên nhiên đều có thần, có hồn, có ý thức
và có một khả năng phi phàm hơn hẳn con người (không phải thần thánh sinh ra
con người mà con người đã sáng tạo ra thần thánh bằng trí tưởng tượng ngây thơ
của mình). TS. Lê Đức Luận đã nhận định: “Các nhân vật có nguồn gốc thiên
nhiên, vũ trụ không có hình hài rõ ràng, vô hạn định, hành động của thần thì
biến hóa khôn lường, đi mây về gió, thoắt biến, thoắt hiện, hành động của thần
là nguyên nhân của các hiện tượng tự nhiên. Hành động đó vừa có yếu tố thực
vừa có yếu tố hoang đường. Yếu tố thực lấy từ các hoạt động của con người, yếu
tố hoang đường là màu sắc thần thánh là cách lý giải ngây thơ về các hiện tượng
tự nhiên xã hội”.
19