SKKN Hướng dẫn học sinh tìm hiểu ngôn ngữ hội thoại của nhân vật Thúy Kiều trong đoạn Trao duyên trích Truyện Kiều Nguyễn Du Ngữ văn 10 tập II - Pdf 26

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"HƯỚNG DẪN HỌC SINH TÌM HIỂU NGÔN NGỮ HỘI THOẠI
CỦA NHÂN VẬT THÚY KIỀU TRONG ĐOẠN TRAO DUYÊN
TRÍCH TRUYỆN KIỀU NGUYỄN DU NGỮ VĂN 10 TẬP II"
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngôn ngữ là chất liệu, là phương tiện biểu hiện mang tính đặc trưng của văn học.
Ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên mà nhà văn sử dụng trong quá trình chuẩn bị và sáng tạo tác
phẩm. Văn học lấy ngôn từ làm chất liệu sáng tạo và là con đường để đi vào thế giới nghệ
thuật của nhà văn, còn những người nghiên cứu đi bóc tách các lớp vỏ ngôn ngữ để thấy
được giá trị nội dung, tư tưởng của tác phẩm. Đối với một tác phẩm văn học, lời thoại
nhân vật là một trong những phương tiện quan trọng được nhà văn sử dụng nhằm thể hiện
cuộc sống và cá tính nhân vật. Bởi mỗi nhân vật có một ngôn ngữ riêng.
Để thể hiện tính cách nhân vật, nhà văn không chỉ miêu tả ngoại hình, biểu hiện nội
tâm mà còn thể hiện qua lời thoại của nhân vật. Lời thoại của nhân vật là lời ăn tiếng nói
của nhân vật, là một căn cứ biểu đạt tính cách và phẩm chất của mỗi người. Do đó trong
thể hiện hình tượng nghệ thuật của mình các nhà văn hết sức coi trọng việc thể hiện tính
cách nhân vật thông qua lời thoại của nhân vật. Như vậy, lời thoại nhân vật (ngôn ngữ
nhân vật) là một khái niệm quen thuộc đối với những nhà nghiên cứu văn học, những nhà
nghiên cứu ngôn ngữ, những người dạy và học văn.
Trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, tác giả đã tập trung ngòi bút của mình vào
nhân vật chính là Thuý Kiều – một số phận hồng nhan bạc phận. Qua “cõi đoạn trường”
của Thúy Kiều, Nguyễn Du thể hiện nỗi “đau đớn lòng” – một phương diện của chủ
nghĩa nhân đạo Nguyễn Du. Ngoài nhân vật chính, ông lại xây dựng được hàng loạt nhân
vật có cá tính và đã trở thành nhân vật điển hình trong văn học: Kim Trọng,Từ Hải, Hoạn
Thư, Tú Bà, Mã Giám Sinh, Thúc Sinh… . Ngay cả những nhân vật tưởng như rất phụ
chỉ được nêu ra trong một số câu thơ, Nguyễn Du cũng để lại cho người đọc những ấn
tượng khó quên qua những màn, những cuộc hội thoại trong tác phẩm.
Qua thực tế giảng dạy các đoạn trích trong Truyện Kiều nhất là đoạn trích Trao
duyên, tôi xin mạnh dạn đề xuất một kinh nghiệm nhỏ qua đề tài: Hướng dẫn học sinh
tìm hiểu ngôn ngữ hội thoại của nhân vật Thúy Kiều trong đoạn Trao duyên (trích

thơ trên 3.254 tức 43,7% dành cho hội thoại. Đây chính là đặc trưng của tiểu thuyết hiện
đại bởi qua đó tính cách nhân vật được bộc lộ một cách trực tiếp.
Trong trích đoạn Trao duyên, Nguyễn Du sử dụng 26 câu đối thoại (thực chất là
Đơn thoại vì Đơn thoại là chỉ có một nhân vật phát biểu còn các nhân vật khác chỉ nghe
hoặc không phát biểu, một người nói ra thành lời có người nghe nhưng không có lời đáp
lại); 04 câu độc thoại (Độc thoại là dạng hội thoại mà nhân vật nói một mình hướng đến
một đối tượng không có mặt, ở đây Thúy Kiều nói với Kim Trọng); 04 câu độc thoại nội
tâm (độc thoại nội tâm là lời tự nhủ, tự mình nói với mình của các nhân vật, trong đoạn
trích là lời tự thương của Thúy Kiều). Như vậy, đặc điểm nổi bật của ngôn ngữ nhân vật
trong Truyện Kiều nói chung và đoạn trích Trao duyên nói riêng là sự cá tính hóa rất cao,
mỗi nhân vật Truyện Kiều đều có một lối nói riêng, một vốn từ riêng, không hề lẫn lộn.
Ngôn ngữ của nhân vật đều đã được lựa chọn hết sức chính xác, tiêu biểu cho nếp nghĩ,
nếp cảm và sự lựa chọn của tác giả không chỉ biểu hiện ở những từ không có khả năng
thể hiện trực tiếp, cụ thể nội dung tư duy cảm xúc của các nhân vật, bởi ngôn ngữ nhân
vật ở đây vừa tham gia vào việc thể hiện sự phát triển của các sự kiện vừa là nhân tố quan
trọng góp phần tạo nên những tính cách nhân vật đa dạng, điển hình.
Vì vậy, vấn đề đặt ra cho giáo viên khi dạy Truyện Kiều nói chung và đoạn trích
Trao duyên nói riêng không thể không hướng dẫn học sinh tìm hiểu ngôn ngữ hội thoại
đa dạng mà các nhân vật sử dụng vì nó không chỉ là căn cứ để khẳng định tài năng
Nguyễn Du mà còn là cơ sở để hiểu hơn về tâm trạng và sự sắc sảo trong tính cách Thúy
Kiều.
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ:
Việc dạy trích đoạn Trao duyên không chỉ giúp học sinh tiếp thu được các kiến
thức cơ bản theo yêu cầu của tiết học (giúp học sinh nhận ra được ngôn ngữ hội thoại của
nhân vật, tâm trạng thể hiện qua ngôn ngữ; khẳng định tài năng nghệ thuật bậc thầy của
Nguyễn Du qua việc dùng từ; củng cố cho học sinh kiến thức về ngôn ngữ hội thoại: đơn
thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm…) mà còn giúp hình thành ở học sinh một số kỹ
năng cần thiết trong học tập và cuộc sống (thông qua việc Thúy Kiều vận dụng ngôn ngữ
phù hợp cho từng hoàn cảnh, từng đối tượng hướng đến của lời nói mà học sinh đã nhận
thức được các giá trị của lời nói để có cách ứng xử có văn hóa trong các tình huống giao

18,8 %).
+ Có tới 90 cuộc thoại.
- Trong 34 câu của đoạn trích Trao duyên:
+ Có: 26 câu đối thoại (thực chất là Đơn thoại vì Đơn thoại là chỉ có một nhân vật
phát biểu còn các nhân vật khác chỉ nghe hoặc không phát biểu, một người nói ra thành
lời có người nghe nhưng không có lời đáp lại).
+ Có 04 câu độc thoại (Độc thoại là dạng hội thoại mà nhân vật nói một mình
hướng đến một đối tượng không có mặt).
+ Có: 04 câu độc thoại nội tâm (độc thoại nội tâm là lời tự nhủ, tự mình nói với
mình của các nhân vật).
1.2- Tìm hiểu lập luận trong hội thoại của trích đoạn Trao duyên.
a. Chỉ rõ đặc điểm cấu tạo của lập luận trong hội thoại trích đoạn Trao duyên
- Một lập luận bao gồm hai phần: luận cứ và kết luận. Lập luận có thể có một luận
cứ hoặc một số luận cứ.
- Về cấu tạo: lập luận có thể là một phát ngôn ghép hoặc là một đoạn văn.
b. Hướng dẫn tìm hiểu cách thức lập luận trong hội thoại của nhân vật Thúy Kiều
trong Trao duyên và cơ sở tạo nên tính thuyết phục của lập luận.
- Cơ sở tạo nên tính thuyết phục của lập luận: hội tụ 4 yếu tố: cơ hội, lí lẽ, tính biểu
cảm của lời và thái độ của người nghe.
- Ngôn ngữ của Kiều nổi bật trong Trao duyên bởi tính lập luận sắc bén và sức cảm
hoá, thuyết phục người đối thoại.
Kiều trao duyên cho Thúy Vân:
“…Cậy em em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
Giữa đường đứt gánh tương tư,
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.
Kể từ khi gặp chàng Kim,
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề.
Sự đâu sóng gió bất kì,
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.

- Luận cứ 3: Chị sẽ trao em hết những kỉ vật của tình yêu (câu 13 – 18):
Chiếc vành với bức tờ mây
……………….
- Luận cứ 4: Nếu em “thay lời nước non” giúp chị, chị vô cùng biết ơn (câu 11 – 12, 15 –
16):
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.
Và:
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên.
* Tính biểu cảm của lời nói: Khi thực hiện màn lập luận, Kiều lạy rồi thưa.
* Thái độ tích cực của Thúy Vân: Lặng im nghe giãi bày, nhận các kỉ vật Kiều trao.
Chính vì vậy, màn lập luận của Kiều đã thành công.

c. Tìm hiểu chiến lược giao tiếp của Thúy Kiều trong Trao duyên:
- Sử dụng lối nói gián tiếp, ước lệ:
Xót tình máu mủ thay lời nước non.
- Sử dụng các điển cố, điển tích, tránh đề cập trực tiếp vào vấn đề nhằm giữ thể diện cho
Thúy Vân, tránh sự sỗ sàng, đột ngột cho Vân; ngôn ngữ được lựa chọn, cân nhắc:
Giữa đường đứt gánh tương tư,
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.
2. HƯỚNG DẪN HỌC SINH KHẢO SÁT CÁC ĐỘNG TỪ VÀ CÁC TỪ CHỈ HÀNH
ĐỘNG NÓI NĂNG QUA NGÔN NGỮ HỘI THOẠI CỦA THÚY KIỀU TRONG
TRÍCH ĐOẠN TRAO DUYÊN
2.1- Đặc điểm các động từ và các từ chỉ hành động nói năng trong Trao duyên
- Có 09 động từ và các từ chỉ hành động nói năng gắn với lời của nhân vật.
a. Đặc điểm cấu trúc
- Từ đơn tiết: có 06 từ.
- Từ song tiết: 02 từ.
- Từ có ba âm tiết: 01 từ.
b. Đặc điểm ngữ nghĩa và sự hành chức
- Từ chỉ hành động hỏi (Hỏi để thăm dò thái độ người nghe): có chịu lời

Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề…
+ Thuý Kiều mất bao công sức để thuyết phục Thuý Vân nhưng chính lúc Thuý
Vân chấp nhận thì cũng là lúc Thuý Kiều bắt đầu chới với để cố níu mình lại với tình yêu.
Duyên đã khó trao, tình làm sao trao được? Tìm về với những kỉ vật thiêng liêng (chiếc
vành, bức tờ mây, mảnh hương nguyền) cũng là để được về với tình yêu của nàng. Những
kỉ vật đẹp đẽ đó gắn liền với những ngày đẹp nhất đời Kiều. Nó thiêng liêng khi nó chỉ là
của riêng nàng và Kim Trọng. Tình yêu không có người thứ ba, khi có người thứ ba, sự
thiêng liêng bắt đầu đổ vỡ. Câu thơ “Duyên này thì giữ vật này của chung” thể hiện tâm
trạng của Kiều xiết bao đau đớn. Tình yêu và niềm tin đối với Thuý Kiều giờ đây đã hoàn
toàn trượt mất.
+ Cố níu kéo tình yêu bằng kỉ vật (dù chỉ trong tâm tưởng), Thuý Kiều đành ngậm
ngùi đau xót nghĩ về tương lai.
Mai sau dù có bao giờ,
Đốt lò hương ấy so tơ phím này…
+ Ngay trong lúc tưởng chừng Kiều sẽ buông xuôi, thì suy nghĩ của nhân vật lại rẽ
sang hướng khác. Những thán từ chỉ hành động khóc được sử dụng khi Kiều nhớ về Kim
Trọng:
Ôi Kim lang ! Hỡi Kim lang
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây !
Màn trao duyên kết thúc trong tiếng kêu thảng thốt, tiếng nấc nghẹn ngào của
người con gái trong nỗi đau “phụ bạc chàng Kim”.
IV. KẾT QUẢ ỨNG DỤNG CỦA ĐỀ TÀI
Qua thực tế áp dụng đề tài vào việc giảng dạy tại 2 lớp 10A2 và 10A8 trường
THPT Hàm Rồng, tôi thu được kết quả như sau :
1. Về kiến thức:
- Với cách triển khai phần Đọc – hiểu văn bản Trao duyên theo hướng dành một
phần nhỏ lượng thời gian để hướng dẫn học sinh khảo sát ngôn ngữ hội thoại của Thúy
Kiều trong đoạn trích, học sinh có thể hoàn toàn chủ động điểm qua được ngôn ngữ nhân
vật Truyện Kiều – một phương diện nghệ thuật thành công đặc sắc của đoạn trích Trao
duyên. Học sinh đã thấy đặc điểm nổi bật của ngôn ngữ nhân vật trong Truyện Kiều là sự

khổ của Thúy Kiều. Khi Vương Ông và Vương Quan bị bắt vì có kẻ vu oan, Thúy Kiều
đã phải bán mình để lấy tiền cứu cha và em. Đêm hôm trước ngày Kiều phải ra đi theo
Mã Giám Sinh, nàng đã trao duyên cho em để “trả nghĩa chàng Kim”. Vì vậy khi hướng
dẫn học sinh tìm hiểu phần Tiểu dẫn, GV phải yêu cầu các em chú ý đến điều này vì đó là
hoàn cảnh dẫn đến việc trao duyên của Kiều, cũng là cơ sở thứ nhất giúp việc lập luận
của màn trao duyên thành công.
Thứ ba, đoạn văn đậm đặc tính người trong một không gian nghệ thuật bao hàm cả
một hệ thống các thủ pháp nghệ thuật, ngôn ngữ, hình tượng, nhất là ngôn ngữ. Ở đó
Nguyễn Du đã sáng tạo nên một cuộc vừa mang tính đối thoại vừa mang tính độc thoại,
gây nên một hiệu ứng thẩm mĩ vô cùng độc đáo; là nơi gặp gỡ giữa ba tâm hồn đồng
cảnh, đang quằn quại vì những lẽ khác biệt của tình đời. Giúp học sinh phân tích đặc
điểm sử dụng ngôn ngữ hội thoại độc đáo, đặc sắc của đại thi hào Nguyễn Du trong đoạn
trích; chỉ rõ nhóm động từ chỉ hành động nói năng của Thúy Kiều từ đó thấy được vai trò
của chúng trong việc khắc hoạ tính cách nhân vật cũng như thể hiện ý đồ nghệ thuật của
đoạn trích là việc giáo viên cần phải lưu ý.
Đoạn trích không dài, cũng không mang một nội dung to tát. Chỉ vẻn vẹn 34 câu
thơ lục bát tái hiện lại cái đêm Kiều nhờ Thúy Vân thay mình lấy Kim Trọng để trả
nghĩa, để chấp nối duyên tình mà Kiều bỏ lại. Đoạn trích có lẽ cũng chỉ có vậy, là một
cuộc đối thoại khá công khai giữa hai chị em: Kiều là người nói, vân là người nghe. Mặt
khác, Thúy Kiều đã trao duyên nhưng tình thì còn giữ lại. Tuy nhiên trong cả 34 câu thơ
ấy, người ta không thấy, không nghe lời của Thúy Vân, điều này cho thấy Nguyễn Du rất
tinh tế, bởi trong hoàn cảnh ấy Thúy Vân không thể nói gì. Tất cả ngôn ngữ của Thúy
Kiều đều đặt Thúy Vân vào hoàn cảnh “mặc nhiên phải chấp nhận”, đó là hiệu quả của
phương thức lập luận trong lời thoại của Thúy Kiều cũng như chiến lược giao tiếp của
nhân vật. Dạy đoạn trích, giáo viên không thể không chú ý đến điều này vì nó không chỉ
là căn cứ để khẳng định tài năng Nguyễn Du mà còn là cơ sở để hiểu hơn về tâm trạng và
sự sắc sảo trong tính cách Thúy Kiều.
Trong sự hoảng loạn khi tình yêu đã mất, mọi cái đều trở nên hư ảo, nửa tỉnh nửa mê.
Từ chỗ nói với em, rất tự nhiên Kiều chuyển sang nói với mình, nói với người yêu, tức là
từ đối thoại (thực chất là đơn thoại) chuyển sang độc thoại (nói với người vắng mặt) và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status