Nhân vật anh hùng trong thần thoại, sử thi, truyền thuyết - Pdf 30


1LỜI CẢM ƠN

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành sâu sắc đến giảng viên
Thạc sỹ Trần Thị Mỹ Hồng - người đã tận tình hướng dẫn, động
viên, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận.
Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn Quý thầy cô khoa Khoa học
Xã hội, Quý thầy cô Trường Đại học Quảng Bình đã tạo mọi
điều kiện thuận lợi để em bồi dưỡng tri thức và hoàn thành khóa
học vừa qua.
Thiết tha bày tỏ lời tri ân sâu sắc đến người mẹ và những
người thân trong gia đình đã luôn quan tâm, yêu thương và tạo
mọi điều kiện cho em học tập. Cảm ơn những người bạn đã góp
ý, trao đổi và động viên em trong quá trình nghiên cứu.
Chân thành cảm ơn!
Tác giả

Đậu Thị Thu
Kí hiệu Chú giải
[1; Tr 68] Trích dẫn ở tài liệu số 1 trang 68
VHGD Văn học dân gian
NXB Nhà xuất bản
UBKHXH Ủy Ban Khoa học Xã hội
H Hà Nội MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
4. Phương pháp nghiên cứu 8
5. Đóng góp của đề tài 8
6. Cấu trúc của khóa luận 9
PHẦN NỘI DUNG 10
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHÂN VẬT VĂN HỌC VÀ MỘT SỐ
THỂ LOẠI TRUYỆN DÂN GIAN 10
1.1.Nhân vật văn học 10
1.1.1. Khái niệm về nhân vật văn học 10
1.1.2. Chức năng của nhân vật văn học 11
1.1.3. Phân loại nhân vật văn học 12
1.2. Đặc trưng các thể loại Thần thoại, Sử thi, Truyền thuyết 14
1.2.1. Thần thoại 14
1.2.2. Truyền thuyết 18
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ở bất kì xã hội nào, từ Đông sang Tây, từ cổ chí kim, dù văn minh hay lạc hậu đều phát
triển dựa trên những giá trị văn hóa truyền thống. Trong đó văn học dân gian (VHDG) là một
bộ phận không kém phần quan trọng. Văn học dân gian vừa là một bộ phận của văn học
dân tộc, vừa là bộ phận nghệ thuật ngôn từ truyền miệng của văn hóa dân gian, phản
ánh sinh hoạt xã hội, đời sống tâm lí, tình cảm, thái độ nguyện vọng, kinh nghiệm mọi
mặt của nhân dân lao động các thế hệ. VHDG ra đời từ thời kì công xã nguyên thủy,
trải qua các thời kì phát triển lâu dài trong các chế độ xã hội có giai cấp tiếp tục tồn tại
cho tới ngày nay.
Trong văn học dân tộc, VHDG là một bộ phận ra đời sớm. Nó không chỉ là một
bộ phận của văn chương mà còn chính là đời sống, là quan niệm là kinh nghiệm là
tiếng lòng muôn đời của dân gian. Vì vậy vai trò và giá trị của văn học dân gian thật
lớn lao và toàn diện, không chỉ với văn học thành văn mà còn với nhiều nghành khoa
học và văn hóa khác nữa. Mặc dù VHDG có sử dụng nhiều yếu tố hư cấu tưởng tượng,
nhưng cốt lõi của những tư liệu đó vẫn là nguồn sử liệu quý báu, mang dấu ấn văn hóa
lịch sử. Khi chưa có chính sử, nguồn tư liệu VHDG chính là sử liệu duy nhất để tái
hiện lịch sử dân tộc. Khi có chính sử VHDG là nguồn tư liệu hỗ trợ cho chính sử, góp
phần đính chính, sàng lọc các sự kiện lịch sử theo quan điểm của nhân dân, qua đó
hiểu thêm chính sử một cách chính xác và sâu sắc hơn. Văn học viết đã kế thừa rất
nhiều phương diện nghệ thuật từ văn học dân gian. Các nhà thơ, nhà văn vĩ đại luôn

điểm cá thể, tính cách cá nhân. Họ chính là hình tượng thể hiện những ước mơ, khát
vọng của cộng đồng, ở họ là sự tập hợp tất cả những gì tốt đẹp nhất, ưu việt nhất. Điều
này thể hiện mơ ước của bộ lạc, bộ tộc có được người đứng đầu người lãnh đạo xứng
đáng để dìu dắt họ vượt qua những khó khăn trong cuộc sống và trong đấu tranh chống
lại kẻ thù.
Những nhân vật xuất hiện trong truyện dân gian mang đậm màu sắc thần thánh
hóa, đặc biệt trong đó là các nhân vật anh hùng trong thần thoại, sử thi, truyền thuyết.
Từ thuở hồng hoang, những nhân vật anh hùng xuất hiện một cách tự nhiên nhằm giải
thích tự nhiên, xã hội và ước mơ chinh phục thế giới đó. Trong cuộc đấu tranh chống
giặc ngoại xâm của dân tộc ta, biết bao tấm gương anh hùng dám xả thân vì nghĩa lớn,
cùng với cả dân tộc bảo vệ vững chắc nền độc lập tự do của Tổ quốc đã được nhân dân
khắc cốt, sử sách lưu thơm, được ngàn đời thờ phụng ở các đền, chùa, đình, miếu Việt
Nam. Bằng cách ấy dân tộc ta, từ đời này qua đời khác muốn thể hiện lòng thành kính,
biết ơn đối với công trạng của các vị anh hùng. Họ trở thành Thần ở các làng và nhân
dân tin tưởng sâu sắc rằng các vị thần đó sống mãi ở một thế giới vô hình, và luôn hiện

3
về để phù trợ cho các thế hệ đời sau. Niềm tin ấy trở thành một sức mạnh to lớn khích
lệ cho dân tộc ta chiến thắng mọi kẻ thù, trường tồn mãi mãi. Điều mà truyện cổ dân
gian hấp dẫn và làm say lòng người cho tới tận hôm nay là bởi chính các nhân vật anh
hùng đã làm nên lịch sử, là niềm tự hào của mỗi bản làng, mỗi bộ tộc và mỗi dân tộc.
“Tôi yêu truyện cổ nước tôi
Rất nhân hậu vừa tuyệt vời sâu xa
Thương người rồi mới thương ta
Yêu nhau dù mấy cách xa cũng tìm…”.
(Lâm Thị Mỹ Dạ - Chuyện cổ nước mình)
Xuất phát từ những điều trên và tình yêu truyện cổ dân gian Việt Nam tha thiết từ
thuở bé thơ qua từng lời kể, bài học của thầy cô. Đặc biệt là các nhân vật anh hùng
trong thần thoại, sử thi, truyền thuyết được lưu danh muôn đời, các nhân vật ấy trở
thành thần tượng với tấm lòng mến mộ của người đọc qua mọi thế hệ. Tất cả những

Sưu tầm biên soạn truyện cổ dân gian Việt Nam, trước cách mạng tháng 8 năm
1945, Nguyễn Văn Ngọc đã có nhiều đóng góp, sau 1945 người đạt nhiều thành tựu
trong sưu tầm truyện dân gian là Nguyễn Đổng Chi với bộ Kho tàng truyện cổ tích
Việt Nam (5 tập). So với Nguyễn Văn Ngọc, Vũ Ngọc Phan không phải là người đi
trước. So với bộ sưu tập truyện cổ của Nguyễn Đổng Chi, sưu tập về truyện dân gian
của Vũ Ngọc Phan cũng không đồ sộ bằng. Tuy nhiên công lao của Vũ Ngọc Phan lại
đáng ghi nhận ở chỗ dưới chế độ mới, cuốn sách Truyện cổ Việt Nam (1955), tuy chỉ
có 174 trang do ông biên soạn, đã đóng vai trò mở đầu cho các sưu tập truyện dân gian
của các soạn giả khác xuất bản sau đó.
Với khối lượng các bài báo, tạp chí và sách xuất bản, Bùi Văn Nguyên xứng
đáng được xếp vào hạng các tác gia nghiên cứu folklore Việt Nam. Giáo sư Bùi Văn
Nguyên có những đóng góp tích cực theo nhiều chiều hướng khác nhau của quá trình
nghiên cứu. Điều đó chứng tỏ ông luôn tìm tòi những cái mới không những trên những
vấn đề cụ thể mà còn trên cả bình diện phương pháp luận. Suốt một thời gian dài từ
năm 1969 đến năm 1984, Bùi Văn Nguyên viết một loạt bài báo với khí thế hào hùng
của người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa chống giặc ngoại xâm:
- “Hình tượng anh hùng trong truyện dân gian các dân tộc thiểu số miền Bắc”,
1969
- “Việt Nam, nước của Thánh Gióng, truyền thống và hiện đại”, 1976
- “Tinh thần tự cường và bất khuất của dân tộc và ý nghĩa chân thực trong thư
tịch cổ thời Hùng Vương”, 1983
Công trình “Người anh hùng làng Dóng” (1969) là một đỉnh cao trong sự nghiệp
nghiên cứu của Cao Huy Đỉnh, cuốn sách hướng tới chủ đề đánh giặc, giữ nước thắng

5
lợi cũng là chủ đề căn bản xuyên suốt cả lịch sử văn học dân gian Việt Nam. Trong
cuốn sách này, tác giả hướng tới ba mục tiêu:
- Chủ đề đánh giặc, giữ nước thắng lợi là chủ đề căn bản, quán xuyến cả lịch sử
văn học dân gian Việt Nam. Tác giả đã phân tích và nguồn gốc và quá trình phát triển
của chủ đề này ở trong truyện “Ông Gióng” theo sự lớn mạnh của ý thức dân tộc trên

tâm. Những công trình trực tiếp bàn đến Đăm Săn như Sử thi Êđê của Phan Đăng
Nhật, bài giảng thể loại của Hoàng Ngọc Hiến là không nhiều. Còn với các khoá luận
của sinh viên thì dường như Đăm Săn ít có duyên!
Năm 1959, Đào Tử Chí cho xuất bản “Bài ca chàng Đăm Săn”. Trong thời kì đất
nước bị chia cắt, một số cán bộ người Ê Đê tập kết ra bắc cùng Ngọc Anh hoàn thành bản
thảo một số khan Ê Đê và cho xuất bản với nhan đề Trường ca Tây Nguyên vào năm
1963. Sử thi Ê Đê, nhất là sử thi Đăm Săn được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài
nước rất quan tâm. G.Condominas, nhà dân tộc học nổi tiếng người Pháp trong bài
“Những quan sát về xã hội học về hai trường ca Rađê” đã nghiên cứu khía cạnh về
phương diện xã hội học, dân tộc học của tác phẩm Đăm Di và Đăm Săn. Trong bài nghiên
cứu này ông đã nhiệt liệt ca ngợi sử thi Đăm Săn “Người ta không thể nói về văn hóa dân
gian Đông Dương nguyên thủy mà không nói đến một cái đầu đề: Trường ca Đăm Săn.
Bài thơ tuyệt vời này, bài thơ lớn đầu tiên ai cũng biết trong văn học truyền miệng của
các bộ tộc người miền Trung Việt Nam, hiện nay hiển nhiên vẫn là một tuyệt tác” [2; tr
230]. Các nhà nghiên cứu trong nước đã dành sự chú ý và công sức để tìm hiểu Ê Đê.
Chẳng hạn như Chu Xuân Diên có bài “Tìm hiểu giá trị Bài ca Đăm Săn”; Bùi Văn
Nguyên có bài “Vẻ đẹp hùng tráng và nên thơ trong Trường ca Tây Nguyên”; Hoàng
Ngọc hiến có bài “Bài ca chàng Đăm Săn như là một tác phẩm anh hùng ca”; Nguyễn
Văn Hoàn có bài “Giới thiệu sử thi Đăm Săn”. Còn lại các nhà nghiên cứu chủ yếu tìm
hiểu sử thi Ê Đê về phương diện văn học, như các vấn đề về đề tài, nội dung thi pháp. Các
vấn đề thi pháp sử thi Ê Đê giới nghiên cứu đã đạt được nhiều thành tựu to lớn.
So với sử thi Ê Đê, việc phát hiện, sưu tầm, biên soạn và nghiên cứu sử thi Mơ
Nông diễn ra muộn hơn sáu thập kỉ. Tuy việc sưu tầm và suất bản sử thi Mơ Nông được
tiến hành muộn hơn và được thực hiện trong một thời gian ngắn hơn, nhưng kết quả đạt
được về số lượng là rất đáng kể. Trong việc tìm hiểu, nghiên cứu sử thi Mơ Nông, PGS.
TS. Đỗ Hồng Kỳ là người thâm canh và đạt được nhiều kết quả nhất. Năm 1990, trên tạp
chí Văn hóa dân gian, số 3, TS. Đỗ Hồng Kỳ công bố bài “Ôt nrong - sử thi cổ sơ Mơ
Nông”. Năm 1993, trên Tạp chí Văn hóa dân gian, số 1, PGS.TS. Đỗ Hồng Kỳ công bố
bài “Cốt truyện nhân vật trong sử thi nrong của người M’Nông”. Tác giả bàn đến cốt
truyện đơn và cốt truyện liên kết, phân tích đặc điểm của cốt truyện sử thi Ôt nrong, bàn

Các công trình nghiên cứu trên đây là những gợi ý quý báu cho chúng tôi trong
việc thực hiện đề tài này. Việc nghiên cứu văn học dân gian và các nhân vật anh hùng
trong truyện cổ đã có nhiều nhà khoa học đề cập đến trên nhiều phương diện khác
nhau song chưa đi sâu vào tìm hiểu các nhân vật anh hùng trong thần thoại, sử thi,

8
truyền thuyết. Khảo cứu chưa có công trình nào nghiên cứu về đề tài này, đây đó cũng
chỉ xét trên một số phương diện nhất định để làm rõ ý tưởng.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nhân vật anh hùng trong thần thoại, sử thi, truyền thuyết.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi tập trung vào khảo cứu các nhân vật anh hùng trong thần thoại, sử thi,
truyền thuyết ở một số tuyển tập truyện cổ dân gian Việt Nam, sử thi dân gian.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu
sau:
Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phân tích các nhân vật anh hùng trong truyện
thần thoại, sử thi, truyền thuyết để thấy được các đặc điểm, kiểu nhân vật cũng như
nghệ thuật xây dựng nhân vật từ đó tổng hợp, khái quát lại và đưa ra kết luận chung.
Phương pháp thống kê, phân loại: Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sử dụng
phương pháp này để thống kê những ý kiến nhận xét, đánh giá của các nhà nhiên cứu
về vấn đề có liên quan đến phạm vi nghiên cứu của khóa luận và các dẫn chứng một
cách hệ thống cho khóa luận. Đồng thời sử dụng phương pháp này trong việc khảo cứu
tư liệu, thống kê các nhân vật anh hùng có trong truyện thần thoại, sử thi, truyền thuyết
từ đó phân loại rõ các kiểu nhân vật với từng đặc điểm cụ thể trong từng thể loại văn
học.
Phương pháp hệ thống: Để tìm hiểu các nhân vật anh hùng trong thần thoại, sử
thi, truyền thuyết phải dựa trên hệ thống các đặc điểm phương diện nghệ thuật của
từng thể loại. Phương pháp hệ thống giúp người viết hệ thống hóa thế giới nhân vật


10
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHÂN VẬT VĂN HỌC VÀ MỘT SỐ THỂ
LOẠI TRUYỆN DÂN GIAN
1.1. Nhân vật văn học
1.1.1. Khái niệm về nhân vật văn học
M. Gorki có lần khuyên một nhà văn trẻ: “Anh hãy bỏ nghề viết đi. Đấy không
phải là việc của anh, có thể thấy rõ như thế. Anh hoàn toàn không có khả năng miêu tả
con người cho sinh động, mà đấy lại là điều chủ yếu” [3; tr 6]. Nhân vật văn học là
khái niệm dùng để chỉ các hình tượng các cá thể con người trong tác phẩm văn học -
cái được nhà văn nhận thức, tái tạo, thể hiện bằng phương tiện riêng của nghệ thuật
ngôn từ. Đọc bất cứ một văn bản văn học nào, trước hết người đọc cũng bắt gặp những
con người được miêu tả, trần thuật cụ thể. Đó chính là những nhân vật văn học. Ðối
tượng chung của văn học là cuộc đời nhưng trong đó con người luôn giữ vị trí trung
tâm. Những sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội, những bức tranh thiên nhiên, những lời
bình luận đều góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng cho tác phẩm nhưng cái quyết
định chất lượng tác phẩm văn học chính là việc xây dựng nhân vật. Ðọc một tác phẩm,
cái đọng lại sâu sắc nhất trong tâm hồn người đọc thường là số phận, tình cảm, cảm
xúc, suy tư của những con người được nhà văn thể hiện. Vì vậy, Tô Hoài đã có lí khi
cho rằng "Nhân vật là nơi duy nhất tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy trong một
sáng tác".
Nhân vật văn học là con người được nhà văn miêu tả trong tác phẩm bằng

Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh đã khẳng định: “Trong thế giới nghệ thuật của nhà
văn thường có một hình tượng tâm huyết cứ trở đi trở lại nhiều lần là một “ám ảnh”
đối với nhà văn. Những hình tượng như thế càng có tính phổ biến bao nhiêu, càng có ý
nghĩ tư tưởng sâu sắc và cơ bản bấy nhiêu” [5]. Như vậy nhân vật văn học là căn cứ
quan trọng giúp người đọc có thể hiểu được phong cách và tư tưởng nghệ thuật của
nhà văn.
Nhân vật văn học có chức năng khái quát những tính cách, hiện thực cuộc sống
và thể hiện quan niệm của nhà văn về cuộc đời. Khi xây dựng nhân vật, nhà văn có
mục đích gắn liền nó với những vấn đề mà nhà văn muốn đề cập đến trong tác phẩm.
Vì vậy, tìm hiểu nhân vật trong tác phẩm, bên cạnh việc xác định những nét tính cách
của nó, cần nhận ra những vấn đề của hiện thực và quan niệm của nhà văn mà nhân vật
muốn thể hiện. Chẳng hạn, khi nhắc đến một nhân vật, nhất là các nhân vật chính,
người ta thường nghĩ đến các vấn đề gắn liền với nhân vật đó. Gắn liền với Kiều là
thân phận của người phụ nữ có tài sắc trong xã hội cũ. Gắn liền với Kim Trọng là vấn

12
đề tình yêu và ước mơ vươn tới hạnh phúc. Gắn liền với Từ Hải là vấn đề đấu tranh để
thực hiện khát vọng tự do, công lí Trong Chí Phèo của Nam Cao, nhân vật Chí Phèo
thể hiện quá trình lưu manh hóa của một bộ phận nông dân trong xã hội thực dân nửa
phong kiến. Ðằng sau nhiều nhân vật trong truyện cổ tích là vấn đề đấu tranh giữa
thiện và ác, tốt và xấu, giàu và nghèo, những ước mơ tốt đẹp của con người
Do nhân vật có chức năng khái quát những tính cách, hiện thực cuộc sống và thể
hiện quan niệm của nhà văn về cuộc đời cho nên trong quá trình mô tả nhân vật, nhà
văn có quyền lựa chọn những chi tiết, yếu tố mà họ cho là cần thiết bộc lộ được quan
niệm của mình về con người và cuộc sống. Chính vì vậy, không nên đồng nhất nhân
vật văn học với con người trong cuộc đời. Khi phân tích, nghiên cứu nhân vật, việc đối
chiếu, so sánh có thể cần thiết để hiểu rõ thêm về nhân vật, nhất là những nhân vật có
nguyên mẫu ngoài cuộc đời (anh hùng Núp trong Ðất nước đứng lên, Tnú trong Rừng
xà nu ) nhưng cũng cần luôn luôn nhớ rằng nhân vật văn học là một sáng tạo nghệ
thuật độc đáo gắn liền với ý đồ tư tưởng của nhà văn trong việc nêu lên những vấn đề

tính tốt đẹp còn nhân vật phản diện thì hoàn toàn ngược lại. Trong văn học hiện đại,
nhiều khi khó phân biệt đâu là nhân vật chính diện, đâu là nhân vật phản diện. Việc
miêu tả này phù hợp với quan niệm cho rằng hiện thực nói chung và con người nói
riêng không phải chỉ mang một phẩm chất thâm mĩ mà bao nhiêu phẩm chất thẩm mĩ
khác nhau, cái nhìn của chủ thể đối với sự vật nhiều chiều, phức hợp chứ không đơn
điệu,… Những nhân vật Chí Phèo, Thị Nở, Tám Bính, Năm Sài Gòn,… là những nhân
vật có bản chất tốt nhưng đó không phải là phẩm chất duy nhất của nhân vật. Bakhtin
cho rằng: Cần phải thống nhất trong bản thân mình vừa các đặc điểm chính diện lẫn
phản diện, vừa cái tầm thường cao cả, vừa cái buồn cười lẫn cái nghiêm túc. Chính vì
vậy, ở đây sự phân biệt chính diện, phản diện chỉ có ý nghĩa tương đối. Khi đặt nhân
vật vào loại nào để nghiên cứu, cần phải xét khuynh hướng chủ đạo của nó đồng thời
phải chú ý đến các khuynh hướng, phẩm chất thẩm mỹ khác nữa.
Từ góc độ kết cấu cần xem xét chức năng và vị trí của nhân vật trong tác phẩm,
có thể chia thành các loại nhân vật: nhân vật chính, nhân vật trung tâm, nhân vật phụ.
Nhân vật chính là nhân vật giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức và triển khai tác
phẩm. Ở đây, nhà văn thường tập trung miêu tả, khắc họa ti mỉ từ ngoại hình, nội tâm,
quá trình phát triển tính cách của nhân vật. Qua nhân vật chính, nhà văn thường nêu
lên những vấn đề và những mâu thuẫn cơ bản trong tác phẩm và từ đó giải quyết vấn
đề, bộc lộ cảm hứng tư tưởng và tính điệu thẩm mỹ. Nhân vật chính có thể có nhiều
hoặc ít tùy theo dung lượng hiện thực và những vấn đề đặt ra trong tác phẩm. Với
nhứng tác phẩm lớn có nhiều nhân vật chính thì nhân vật chính quan trọng nhất xuyên
suốt toàn bộ tác phẩm được gọi là nhân vật trung tâm. Trong không ít trường hợp, nhà

14
văn dùng tên nhân vật trung tâm để đặt tên cho tác phẩm. Ví dụ: AQ chính truyện của
Lỗ Tấn, Truyện Kiều của Nguyễn Du,… Trừ một hoặc một số nhân vật chính, những
nhân vật còn lại đều là những nhân vật phụ ở cấp độ khác nhau. Đó là những nhân vật
giữ vị trí thứ yếu so với nhân vật chính trong quá trình diễn biến cốt truyện, của việc
thể hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm. Nhân vật phụ phải góp phần hỗ trợ, bổ sung
cho nhân vật chính nhưng không được làm mờ nhạt nhân vật chính. Có nhiều nhân vật

Thần thoại là gì? Thần thoại theo Mác nói đó là vẻ đẹp “một đi không trở lại” của loài
người khi xã hội nguyên thuỷ kết thúc. Sự thực thì trên thế giới, bất cứ dân tộc nào cũng có
thần thoại.
E.M. Mêlêtinxki đã định nghĩa thần thoại như sau: Thần thoại có nguồn gốc từ tiếng Hy
Lạp, nghĩa đen là truyền thuyết, huyền thoại. Thường người ta hiểu đó là những truyện về các
vị thần, các nhân vật được sùng bái hoặc có quan hệ nguồn gốc với các vị thần, về các thế hệ
xuất hiện trong thời gian ban đầu tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc tạo lập thế giới
cũng như vào việc tạo lập nên những nhân tố của nó - thiên nhiên và văn hoá (Thi pháp của
huyền thoại ).
Theo Từ điển Văn học - bộ mới - NXB thế giới: “Thần thoại là tập hợp những truyện
kể dân gian về các vị thần, các nhân vật anh hùng, các nhân vật sáng tạo văn hoá, phản ánh
quan niệm của người thời cổ về nguồn gốc của thế giới và của đời sống con người”.
1.2.1.2. Nguồn gốc ra đời của Thần thoại
Theo quan điểm của Mác, thần thoại gắn liền với thời kỳ ấu thơ của nhân loại “trong
những điều kiện xã hội vĩnh viễn không bao giờ trở lại nữa”, nó là thứ “nghệ thuật vô ý thức”.
Cũng theo Mác, “Thần thoại nào cũng chinh phục, chi phối và nhào nặn những sức mạnh tự
nhiên ở trong trí tưởng tượng và bằng trí tưởng tượng”. Nghĩa là không thể nào hiểu và lý
giải đúng thần thoại nếu tách nó ra ngoài xã hội nguyên thuỷ, thế giới quan thần linh và nhu
cầu lý giải, chinh phục tự nhiên, xã hội của con người thời cổ đại.
Theo Đinh Gia Khánh, ở nước ta “Thần thoại đã nảy sinh từ cuộc sống của người
nguyên thuỷ và phát triển theo yêu cầu của xã hội Lạc Việt”, có nghĩa là thần thoại có từ
trước công nguyên. Đồng quan điểm như trên, các nhà nghiên cứu Đỗ Bình Trị, Chu Xuân
Diên cũng đưa ra các ý kiến: “Nói một cách đơn giản thần thoại là một loại truyện nói về
thần, mang yếu tố thiên nhiên và xuất hiện vào thời kì khuyết sử” và “Thần thoại chỉ có thể
xuất hiện trong giai đoạn thấp của sự phát triển xã hội và của sự phát triển nghệ thuật. Trong
giai đoạn đó, thần thoại đã có một vai trò tích cực trong đời sống tinh thần của con người: đó
là phương tiện nhận thức quan trọng của người nguyên thuỷ, cũng là một trong những nguồn
hình thành những giá trị tinh thần truyền thống đầu tiên của dân tộc” .
Cơ sở đầu tiên dẫn đến sự ra đời của Thần thoại là sự phát triển của xã hội công xã
nguyên thủy khi con người đã xuất hiện tư duy và hoạt động ngôn ngữ. Con người thời kỳ

Quả bầu,… hiện tượng phức hợp chủ đề trong thần thoại phản ánh sự đa dạng, nhiều
tầng chồng chất lên nhau trong quá trình lưu truyền. Chính điều này đã tạo nên tính đa
nghĩa ở một số thần thoại như: Sơn Tinh - Thủy Tinh, Thánh Gióng,… Dạng kết cấu
khác của thần thoại là một cốt truyện mang hình thức liên kết của nhiều cốt truyện
đơn, làm nên một hệ thần thoại. Kết cấu này chủ yếu là của những áng sử thi, thần
thoại lớn như họ Hồng Bàng, Đẻ đất đẻ nước, Đăm Săn,…

17
Tóm lại, do ra đời từ thời khởi thủy của xã hội loài người, giai đoạn mà ý thức
con người chưa phát triển nên cốt truyện của thần thoại có phần đơn giản. Tuy nhiên, ở
một mức độ nào đó ta cũng thấy được sự cố gắng của tổ tiên trong việc lí giải các hiện
tượng, nguồn gốc của thế giới.
1.2.1.4. Nhân vật thần thoại
Nhân vật trong thần thoại là thần, hầu hết có nguồn gốc từ thiên nhiên. Họ là “lời
giải thích” cho chính nguồn gốc mà họ sinh ra. Thần trụ Trời giải thích về sự hình
thành của trời đất. Thần Mặt Trăng giải thích tại sao mặt trăng lại mát dịu hơn mặt
trời. Thần Mưa, Thần Gió giải thích tại sao lại có hiện tượng mưa, gió. Thần Sông giải
thích cho sự hình thành của sông Đây là những nhân vật thần thoại đầu tiên có trong
những câu truyện cổ tích đầu tiên về tự nhiên. Chính vì thế người ta gọi kiểu nhân vật
này là nhân vật suy nguyên trong thần thoại suy nguyên.
Nhân vật thần thoại có tầm vóc và hành động phi thường mang tầm cỡ vũ trụ. Để
xây dựng môtíp nhân vật này, tác giả dân gian đã tận dụng tuyệt đối trí tưởng tượng
bay bổng của mình và sử dụng biện pháp nghệ thuật thần thánh hóa và nhân cách hóa
các hiện tượng tự nhiên. Đây là biện pháp nghệ thuật bắt nguồn từ thế giới tâm linh
hoàn toàn biệt lập với những quy luật và kiến thức khoa học tự nhiên cho nên nó mang
tính “vô thức” một cách thuần khiết. Người ta cho rằng tất cả mọi thứ, mọi sự vật
trong thiên nhiên đều có thần, có hồn, có ý thức và có một khả năng phi phàm hơn hẳn
con người (không phải thần thánh sinh ra con người mà con người đã sáng tạo ra thần
thánh bằng trí tưởng tượng ngây thơ của mình). TS. Lê Đức Luận đã nhận định: “Các
nhân vật có nguồn gốc thiên nhiên, vũ trụ không có hình hài rõ ràng, vô hạn định,

Không gian chiều dọc trong thần thoại thể hiện sự xâm nhập của các vị thần trên trời
xuống mặt đất và từ mặt đất lên trời như: Thần mưa, thần sét, thần thổ công. Điều này góp
phần giải thích sự phân cách giữa trời và đất trong thần thoại một số dân tộc. chẳng hạn như
thần trụ trời trong thần thoại người Việt.
Thời gian trong thần thoại là thời gian không xác định, thời gian vĩnh hằng. Các truyện
không chỉ ra vào thời gian nào, chỉ biết thuở xưa, thuở mới khai thiên lập địa. Nhưng thuở
khai thiên lập địa là vào khi nào rồi kết thúc ra sao, thần thoại không nói rõ bởi lẽ thế giới thần
là thế giới của vĩnh hằng. Thần không có tuổi, không biết thần sinh ra khi nào, thần không bao
giờ chết.
1.2.2. Truyền thuyết
1.2.2.1. Khái niệm chung về truyền thuyết
Truyền thuyết là thể loại cho đến nay vẫn có nhiều ý kiến khác nhau. Môt số
nghiên cứu coi truyền thuyết là dã sử do tính chất gắn bó khá chặt chẽ với lịch sử của

19
thể loại. Tuy nhiên, truyện kể về nhân vật lịch sử hay sự kiện lịch sử thì cũng khác với
lịch sử. Đặc biệt, những nhân vật lịch sử khi vào truyện đã được hình tượng hóa để
phản ánh lịch sử một cách nghệ thuật. Trong sự phản ánh đó, không phải bao giờ sự
thật lịch sử cũng được tôn trọng, cũng không nhất thiết phải quan tâm đến mọi chi tiết
vốn có, mà chỉ chọn lựa và nhấn mạnh một số chi tiết có dụng ý, và quan tâm nhiều
hơn đến những điều nên có theo mong ước của nhân dân.
Một số tác giả phủ nhận sự tồn tại của truyền thuyết với tư cách là thể loại văn
học dân gian độc lập như Nguyễn Đổng Chi, Đinh Gia Khánh Ngược lại, Đỗ Bình
Trị, Kiều Thu Hoạch và nhiều nhà nghiên cứu khác quan niệm truyền thuyết là một thể
loại tự sự dân gian. Trong cuốn giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam (Bùi Văn Nguyên
chủ biên) Đỗ Bình Trị xếp truyền thuyết bên cạnh thần thoại, và định nghĩa truyền
thuyết là những truyện có dính líu đến lịch sử mà lại có sự kỳ diệu - là lịch sử hoang
đường - hoặc là những truyện tưởng tượng ít nhiều gắn với sự thực lịch sử. Tính chất
thể loại của truyền thuyết bắt đầu được khẳng định rõ.
Năm 1971, trong cuốn sách “Truyền thống anh hùng dân tộc trong loại hình tự

thực, có liên quan - ảnh hưởng tới lịch sử trọng đại của dân tộc hay giai cấp, qua đó
nhân dân thể hiện ý thức và thái độ đối với nhân vật và sự kiện lịch sử.
1.2.2.2. Nguồn gốc ra đời truyền thuyết
Theo Ph. Ăngghen: “Tất cả các dân tộc trong quá trình phát triển lịch sử của nó
đều phải trải qua thời đại anh hùng”. Truyền thuyết Việt Nam ra đời và phát triển
trong thời đại anh hùng Việt Nam, thời đại mà những yếu tố xã hội - lịch sử của nó
mang đặc trưng chung của thời đại anh hùng trong lịch sử nhân loại: Đó là thời kỳ con
người bứt ra khỏi đời sống dã man, bước vào chế độ văn minh đầu tiên. Thời kỳ được
đánh dấu bằng những chiến công lao động và những biến đổi xã hội sâu sắc, nên còn
được gọi là thời kỳ của “thanh kiếm sắt, cái cày và cái rìu bằng sắt”. Ở Việt Nam, nó
được đánh dấu bằng sự kết thúc của thời kì tiền sử, sự khởi đầu của thời kì sơ sử, với
sự hình thành của nhà nước Văn Lang đầu tiên, thuộc thời kì văn hoá kim khí mà đỉnh
cao là văn hoá Đông Sơn.
Việc sử dụng công cụ kim loại được coi như một cuộc cách mạng kỹ thuật. Đồ
đồng cực kỳ phong phú về số lượng, đa dạng về loại hình, thể hiện trình độ cao về kỹ
thuật chế tác và năng khiếu thẩm mỹ dồi dào của chủ nhân nó như những chiếc rìu,
lưỡi cày đồng, xẻng, cuốc đồng, dao gặt… Công cụ sản xuất vô cùng phong phú và
tiến bộ đã dẫn đến thành quả lao động được nâng cao, đời sống con người được cải
thiện. Bên cạnh nhu cầu ăn, ở, người ta đã có nhu cầu thẩm mĩ, không chỉ là ăn no mặc
ấm mà còn là ăn ngon, mặc đẹp, và sinh hoạt tiện lợi. Con người đã phần nào khám

Trích đoạn Kiểu nhân vât anh hùng chinh phục tự nhiên và nhân vật anh hùng sáng tạo Kiểu nhân vật anh hùng chiến trận Thần thánh hóa nhân vật
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status