BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
LÊ THỊ VÂN HOÀI
NHÂN VẬT ANH HÙNG TRONG TRUYỆN KÍ
TÌNH BÁO VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
HÀ NỘI, 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
LÊ THỊ VÂN HOÀI
NHÂN VẬT ANH HÙNG TRONG TRUYỆN KÍ
TÌNH BÁO VIỆT NAM
Chuyên ngành : Lí luận văn học
Mã số
: 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. Nguyễn Văn Nam
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài .............................................................................................. 1
2.Lịch sử vấn đề ................................................................................................... 4
3.Mục đích nghiên cứu ........................................................................................ 5
4.Nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................................................ 6
5.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ........................................................................ 6
6.Phương pháp nghiên cứu .................................................................................. 7
7.Cấu trúc của luận văn........................................................................................ 7
B. PHẦN NỘI DUNG............................................................................................ 8
CHƢƠNG 1: TRUYỆN KÍ VIẾT VỀ HOẠT ĐỘNG TÌNH BÁO VÀ ........... 8
NHÂN VẬT ANH HÙNG ĐẶC BIỆT TRONG CHIẾN TRANH CÁCH
MẠNG Ở VIỆT NAM ........................................................................................... 8
1.1. Về văn học tình báo ...................................................................................... 8
1.1.1. Văn học tình báo trên thế giới ................................................................ 8
1.1.2.Văn học tình báo ở Việt Nam................................................................ 13
1.2. Về tác giả, tác phẩm và nhân vật được chọn khảo sát trong luận văn ........ 16
1.2.1. Từ Phạm Ngọc Thảo đến Nguyễn Thành Luân trong Ván bài lật ngửa16
1.2.1.1. Vài nét về cuộc đời Phạm Ngọc Thảo............................................. 16
1.2.1.2. Nguyễn Thành Luân và Ván bài lật ngửa ....................................... 19
1.2.2. Về nhà tình báo Vũ Ngọc Nhạ ............................................................. 20
1.2.2.1. Vài nét về cuộc đời Vũ Ngọc Nhạ .................................................. 20
1.2.2.2. Tiểu thuyết Ông cố vấn hồ sơ một điệp viên .................................. 24
1.2.3. Về nhà tình báo Phạm Xuân Ẩn ........................................................... 25
1.2.3.1 Vài nét về cuộc đời Phạm Xuân Ẩn ................................................. 25
1.2.3.2. Về Phạm Xuân Ẩn tên người như cuộc đời .................................... 27
tộc. Cuộc chiến đấu trên trận tuyến thầm lặng này đã diễn ra liên tục, bền bỉ, lâu
dài có nhiều kì tích và có cả những thất bại. Không phải ngẫu nhiên mà lịch sử
dân tộc ta trước công nguyên còn ghi lại câu chuyện “Nỏ thần” với bài học
xương máu mà nguyên nhân chủ yếu là mất cảnh giác, chủ quan, tin vào vũ khí,
thành lũy mà không điều tra, tìm hiểu đầy đủ âm mưu của kẻ thù. Cuộc chiến
đấu này không chỉ nhằm chấm dứt chiến tranh mà còn phòng ngừa, ngăn chặn
chiến tranh; không chỉ nhằm đánh đuổi kẻ thù xâm lược, giải phóng đất nước mà
còn góp phần quan trọng vào việc gìn giữ hạnh phúc cho mỗi gia đình, hòa bình,
chủ quyền an ninh tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại – người cha già của đân
tộc Việt Nam, của lực lượng công an nhân dân – đã đánh giá rất cao vai trò của
hoạt động tình báo. Người nói: “Vận mệnh của quốc gia còn hay mất, một phần
lớn là nhờ công của gián điệp, tình báo”, “Trong chiến tranh, tình báo là một bộ
phận quan trọng bậc nhất, nó là lỗ tai, con mắt của người chỉ huy”. (Trích bài
nói chuyện của Bác Hồ tại Hội nghị Tổng kết công tác tình báo toàn quốc 1946
– tạp chí NCKH CA-4-90 )
Do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, những thành tựu quan trọng của
trận tuyến bí mật này ở nước ta chưa được khai thác, đề cập đến một cách tỉ mỉ.
Thời xưa, chúng ta chỉ biết được những chiến công này qua các tác phẩm sử liệu
như: “Đại Việt sử kí toàn thư”, “Binh thư yếu lược”, “Đại Nam quốc sử diễn
ca”, “An Nam chi lược”...
Qua hai cuộc kháng chiến trường kì và anh dũng, ngày nay khi đất nước
ta đã hoàn toàn thống nhất cùng với sự ra đời của nhiều tác phẩm viết về nhân
2
dân ta, quân đội ta, chúng ta cũng thấy mảng sách viết về đề tài bảo vệ an ninh
trật tự bao gồm: công tác tình báo, phản gián và công tác điều tra hình sự tuy
mới xuất hiện nhưng lại phát triển khá mạnh mẽ gây được sự chú ý và có sức
hấp dẫn, lôi cuốn nhiều lớp độc giả. Nhiều tác phẩm có giá trị văn học được độc
giả hoan nghênh. Điều đó cũng dễ lí giải, bởi lẽ cuộc đấu tranh giành độc lập
nạ, áo khoác khác. Do đó, đây cũng là một mảng đề tài rất đáng quan tâm với
người làm công tác nghiên cứu văn học. Tuy nhiên theo khảo sát của chúng tôi
lại chưa có nhiều công trình nghiên cứu về văn học tình báo Việt Nam. Chính
điều này đã là một gợi ý để chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu của mình.
Những cuộc chiến đấu thầm lặng trên trận tuyến bí mật của chúng ta cho
đến nay cũng không hề giảm đi mà trái lại ngày càng phức tạp quyết liệt hơn.
Với lòng khâm phục các chiến sĩ tình báo, dù với khả năng nghiên cứu hạn hẹp
của mình chúng tôi mạnh dạn đưa ra một số ý kiến đánh giá, nhận xét về hình
tượng: Nhân vật anh hùng trong truyện, kí tình báo Việt Nam để thấy được
tầm giá trị tư tưởng – thẩm mỹ lớn lao tương xứng của các nhân vật ở mảng đề
tài tình báo này
Tuy nhiên đây là một vấn đề lớn và phức tạp. Luận văn chỉ tập trung đi
sâu nghiên cứu ba tác phẩm viết về mặt trận tình báo của chúng ta trong thời kì
chống Pháp, chống Mĩ và được bạn đọc đánh giá ghi nhận về những thành công
của nó:
- Ván bài lật ngửa - Nguyễn Trương Thiên Lý.
- Ông cố vấn, hồ sơ một điệp viên - Hữu Mai
- Phạm Xuân Ẩn- Tên người như cuộc đời - Nguyễn Thị Ngọc Hải
Mặt khác chúng tôi cũng không đi sâu vào đánh giá phân tích các hoạt
động quân sự hay soi chiếu lịch sử mà chủ yếu khai thác nghiên cứu các tác
phẩm ở góc độ văn học và trọng tâm là hình tượng người anh hùng tình báo.
Đây là một đề tài nghiên cứu có “đụng chạm” tới các vấn đề lịch sử và chính trị
vốn là những vấn đề nhạy cảm. Do đó luận văn của chúng tôi không tập trung
4
vào những yếu tố bên ngoài văn bản mà chủ yếu đánh giá giá trị văn học của các
tác phẩm dựa trên chính văn bản của tác phẩm để xem xét.
2.Lịch sử vấn đề
Đến nay ở Việt Nam việc đánh giá truyện ký viết về đề tài tình báo như
phẩm văn học. Do đó nó không phải là các bài báo nghiên cứu văn học. Song
đây cũng là nguồn tư liệu đáng quý để chúng tôi tiếp cận đề tài của mình.
Trong quân sự có thể có các đề tài nghiên cứu về hoạt động tình báo của
ta trong lòng địch. Tuy nhiên cũng giống như các bài báo kể trên đây là các đề
tài thuộc lĩnh vực quân sự và lịch sử. Các đề tài này tuy nghiên cứu công phu và
có nhiều tư liệu quý nhưng lại không dễ tiếp cận vì liên quan tới các vấn đề quân
sự. Vì vậy chúng tôi cũng gặp không ít khó khăn khi tìm kiếm tư liệu cho đề tài
của mình. Theo khảo sát của chúng tôi thì các công trình nghiên cứu các tác
phẩm văn học thuộc mảng đề tài tình báo còn rất ít và chưa có hệ thống.
Với việc tìm hiểu, trình bày và làm sáng tỏ vấn đề nhân vật anh hùng
trong truyện tình báo Việt Nam chúng tôi hi vọng sẽ có một chút đóng góp nhỏ
thêm vào việc ghi nhận những thành công, những đóng góp của những người
chiến sĩ tình báo Việt Nam trên trận tuyến bảo vệ an ninh Tổ quốc. Tuy nhiên sự
đầu tư, tìm hiểu, nghiên cứu về nhân vật anh hùng trong truyện, kí tình báo Việt
Nam vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu và phát triển .
3.Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu các tác phẩm viết về đề tài tình báo Việt Nam luận
văn hướng tới mục đích:
- Tìm hiểu về những phẩm chất nổi trội của người anh hùng tình báo với
những phẩm chất đạo đức tốt đẹp giàu lí tưởng, giàu đức hi sinh, yêu Tổ quốc
mãnh liệt, có những khả năng siêu việt thông minh sáng suốt trong tư duy, mạnh
mẽ, quyết đoán trong hành động, giỏi chịu đựng thử thách trong điều kiện đặc
biệt, đồng thời có khả năng giao tiếp ứng biến tuyệt vời...
6
- Xác định nét độc đáo trong nghệ thuật xây dựng hình tượng người anh
hùng tình báo khi cần kết hợp đúng mức giữa hư cấu và sự thực ở ngoài đời.
Qua đó góp phần khẳng định vị trí của người anh hùng tình báo trên trận tuyến
bảo vệ an ninh tổ quốc.
6.Phƣơng pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu
chính sau đây:
- Phương pháp lịch sử xã hội.
- Phương pháp thống kê, phân loại.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp.
- Phương pháp so sánh.
- Phương pháp nghiên cứu loại hình.
7.Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn được triển khai thành 3
chương như sau:
Chương 1: Truyện, kí viết về hoạt động tình báo và nhân vật anh hùng đặc
biệt trong chiến tranh cách mạng ở Việt Nam
Chương 2: Các phẩm chất nổi trội của người anh hùng tình báo
Chương 3: Nghệ thuật xây dựng hình tượng người anh hùng trong truyện
kí viết về hoạt động tình báo ở Việt Nam
8
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
TRUYỆN KÍ VIẾT VỀ HOẠT ĐỘNG TÌNH BÁO VÀ
NHÂN VẬT ANH HÙNG ĐẶC BIỆT TRONG CHIẾN TRANH
CÁCH MẠNG Ở VIỆT NAM
1.1. Về văn học tình báo
1.1.1. Văn học tình báo trên thế giới
Tình báo là một hoạt động không còn bí mật hay xa lạ gì trên thế giới.
Tình báo không chỉ là hoạt động trong chiến tranh liên quan đến chính trị mà
thuyết phản gián Chiếc khuy đồng, sau này là Biển lạnh, Hiệp hai và một trong
những cuốn sách hiếm hoi về tình báo - phản gián Cuba: Bóng chim câu trên
sóng biển Miami.
10
Ngoài ra có thể kể tới Bảy năm gian khó, viết về quá trình thâm nhập vào
đài châu Âu tự do của một sĩ quan tình báo Ba Lan là Sekhovic và vài cuốn sách
về nhà tình báo Richard Sorge (Nhà tình báo vĩ đại, Người đã cứu Moscow,
Richard Sorge). Có lẽ tác giả nổi tiếng, được người đọc Việt Nam biết đến nhiều
nhất thời kỳ này là nhà văn Liên Xô Iulian Semionov với các tác phẩm
như Mười bảy khoảnh khắc của mùa Xuân (tình báo),TASS được quyền tuyên
bố (phản gián), Lệnh phải sống (hai tập) và Bành trướng ...
Thực tế đây là một thể loại phát triển khá mạnh mẽ trên thế giới. Bởi
chiến tranh thế giới thứ nhất rồi thứ hai sau đó là cuộc chiến tranh lạnh là hoàn
cảnh lịch sử khiến hoạt động tình báo diễn ra mạnh mẽ. Từ các câu chuyện về
những điệp báo viên có thật các nhà văn đã viết lên những tác phẩm thể hiện rõ
bản chất của các cuộc chiến và phản ánh sâu sắc quan điểm của nhà văn.
Thomas Power, tác giả cuốn tiểu thuyết gián điệp nổi tiếng Người nắm giữ bí
mật: Richard Helms và CIA, nói: “Tiểu thuyết gián điệp trong thời kỳ này chính
là tấm gương phản ánh một cách trung thực nhất những sắc thái của cuộc chiến
tranh lạnh. Nó đã dạy chúng ta nhiều điều hơn bất kỳ những bài diễn thuyết dài
dòng nào về cuộc chiến giữa hai hệ thống trên thế giới”. Một trong những tác
giả nổi tiếng thời kỳ này là Ian Fleming nguyên là một điệp viên làm việc trong
tình báo hải quân Anh. Ông chính là cha đẻ của Điệp viên 007. Đây cũng là tác
giả mà các tác phẩm của ông được dịch và phóng tác ở miền Nam Việt Nam
trước 1975. Các tác phẩm của ông được biết tới ở Việt Nam (đặc biệt là miền
Nam Việt Nam) có thể kể đến như: Bí mật đảo phân chim, Sòng bạc Hoàng
gia, Điệp vụ kim cương, Sống hay là chết, Chiến dịch sấm sét. Ngoài ra còn có
thể kể đến John Le Carre với tác phẩm Người về từ vùng lạnh đoạt giải thưởng
Afghanistan (về mạng lưới khủng bố và cuộc chiến ở Afghanistan). John Le
Carré có Độc hổ (hoạt động điệp báo chống khủng bố), Thợ may Panama (được
giới thiệu ở Việt Nam dưới nhan đề Người tình Panama, chắc để câu khách!)...
12
Ngoài ra còn có Ngày tận thế của Moris Fairhi (về hoạt động điệp báo ở Trung
Đông), Săn đuổi của Gordon Thomas (về hoạt động chống khủng bố)... Mới
nhất là bộ ba tác phẩm của Daniel Silva gồm Hỏa thần, Người đưa tin, Kẻ
phụng sự thầm lặng ,. Đây là 3 trong số 12 tác phẩm của cùng tác giả này mà 9
trong số đó có nhân vật chính là điệp viên sát thủ Gabrrel Allon, hoạt động chủ
yếu trên mặt trận chống khủng bố. Hầu hết các tác phẩm của Daniel Silva đều
nằm trong danh sách bestseller của Thời báo New York.
Bên cạnh đó còn có một nhánh của dòng tiểu thuyết này là các hồi ký của
những người đứng đầu các cơ quan tình báo hoặc cựu điệp viên Điệp viên từ
Israel tới (về điệp viên Eli Cohen của Israel), Cuộc chiến đấu thầm lặng của
tôi (hồi ký của điệp viên Kim Philby), Kỹ thuật tình báo (hồi ký của cựu Giám
đốc CIA Allen Dulles), Tầm nhìn Béclinh (hồi ký của Chỉ huy tình báo Đông
Đức Markus Wolf), Tên trùm mật vụ phát xít Đức thú nhận (hồi ký của trùm
tình báo phát xít Đức Walter Schellenberg), CIA và bệnh sùng bái tình báo (của
hai chuyên gia CIA là Victor Marchetti và J. Marks), Lỗ hổng lớn(của cựu điệp
viên Richard Tomlinson), Mắt bão (hồi ký của cựu Giám đốc CIA George
Tenet), Bắt gián điệp (của cựu điệp viên Anh Peter Wright), Những chiến dịch
đặc biệt (của cựu chỉ huy tình báo Nga Pavel Sudoplatov. Hoặc các tiểu thuyết
phi-hư cấu về các vụ án gián điệp có thật như Thoát khỏi CIA của Ronald
Kessler (về vụ đào thoát sang Mỹ rồi tái đào thoát của đại tá KGB Yuri
Yurchenko), Điệp viên ở Washington của Peter Maas (về vụ điệp viên CIA
Aldrich Aimes hoạt động cho KGB)... Riêng về điệp viên cộng sản lừng danh
Phạm Xuân Ẩn của Việt Nam cũng đã có ít nhất hai cuốn của tác giả nước ngoài
được dịch ngược trở lại giới thiệu với độc giả Việt Nam là Điệp viên hoàn hảo,
cưới Kỳ Phát (1942), Bóng người áo tím (1942), Một cái Tết rùng rợn của Kỳ
Phát (1945)... Ngoài ra còn có những tác phẩm pha trộn giữa màu sắc mạo hiểm
14
với trinh thám như Máu đỏ lòng son (1937), Hàm răng mài nhọn (1942), Chiếc
gối đẫm máu (1942), Bàn tay sáu ngón (1950), Người chó sói (1950)...
Sau đó do hoàn cảnh chiến tranh nên thể loại văn học này dường như
không phát triển. Đến thời kỳ sau 1975, khi chiến tranh đã kết thúc, dòng văn
học này lại được khơi nguồn trở lại trong đó phải kể tới một nhánh phát triển của
nó đó là dòng văn học tình báo. Khi chiến tranh đã lùi xa người ta mới có dịp
nhìn lại, vén các bức màn bí ẩn của lịch sử, đưa tên tuổi một số anh hùng ra
ngoài ánh sáng để đông đảo quần chúng được tiếp cận. Như vậy có thể thấy văn
học tình báo, tiểu thuyết tình báo Việt Nam ra đời muộn và mới có lịch sử rất
ngắn.
Các tác phẩm văn học tình báo Việt Nam chỉ thực sự phát triển (không kể
các tác phẩm phóng tác phỏng dịch xuất hiện ở Miền Nam Việt Nam trước
1975) vào khoảng những năm 80 của thế kỉ XX. Cuốn tiểu thuyết đầu tiên có
dấu ấn đáng kể trong thể loại này là X30 phá lưới của Đặng Thanh, với nhân vật
tình báo viên Phan Thúc Định, in dài kỳ trên báo Sài Gòn giải phóng rồi sau đó
được xuất bản dưới dạng sách vào năm 1976.
Sau đó có thể kể đến một số tác giả tác phẩm như: Đen vỏ đỏ lòng của
Mai Thanh Hải (1988), Bản đồ không bị lãng quên của Hải Lưu (1987), Ánh
sao đêm Snack – Bar của Dương Hảo (1987), Ván bài lật ngửa của Nguyễn
Trường Thiên Lý (1986), Sao đen của Triệu Huấn (1988), Miền đất lạ của
Nguyễn Sơn Tùng, Sau cành Violet của Nguyễn Tất Thắng (1985), Ông cố vấn
của Hữu Mai (1987), Phạm Xuân Ân tên người như cuộc đời của Nguyễn Thị
Ngọc Hải (1999), Vỏ bọc nhiệm màu của Hà Bình Nhưỡng (2005)….
Có thể thấy rằng các tiểu thuyết tình báo Việt Nam phần lớn được viết
trong khoảng những năm sau đổi mới khi tư tưởng chính trị đã cởi mở hơn và
16
1.2.Về tác giả, tác phẩm và nhân vật đƣợc chọn khảo sát trong luận văn
1.21. Từ Phạm Ngọc Thảo đến Nguyễn Thành Luân trong Ván bài lật ngửa
1.2.1.1. Vài nét về cuộc đời Phạm Ngọc Thảo
Phạm Ngọc Thảo (1922-1965) là một tình báo viên trong
chiến tranh chống Mỹ. Ông được phong đại tá của cả hai
quân đội đối nghịch trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam
từ (1954-1965) đó là quân đội Nhân dân Việt Nam và
quân lực Việt Nam cộng hòa. Phạm Ngọc Thảo đã có
nhiều đóng góp và giữ vị trí chủ chốt trong hai cuộc đảo
chính bất thành ở niềm Nam Việt Nam trong những năm 1964-1965.
Phạm Ngọc Thảo sinh ngày 14/2/1922 tại Sài Gòn, nguyên quán ở Vĩnh
Long (có nguồn tài liệu khác là Bến Tre). Cha ông là Adrian Phạm Ngọc Thuần
là một địa chủ lớn người công giáo có quốc tịch Pháp. Hầu hết các anh em của
Phạm Ngọc Thảo vì thế đều được đưa sang Pháp học. Phạm Ngọc Thảo còn có
thên là Albert Phạm Ngọc Thảo hoặc Chín Thảo. Lúc nhỏ ông học một trường
tư thục công giáo ở Sài Gòn nổi tiếng vào bậc nhất thời bấy giờ. Khi học song tú
tài tại Sài Gòn Phạm Ngọc Thảo không sang Pháp học như các anh em khác của
ông mà theo học Kỹ sư công chính tại Hà Nội.
Trong gia đình của ông có người anh cả là Gaston Phạm Ngọc Thuần và
người anh thứ bảy là Phạm Ngọc Hùng (học ở Pháp lấy vợ Pháp rồi về Việt
Nam) là tham gia phong trào Việt Minh từ sớm giữ những vị trí lãnh đạo trong
chính quyền kháng chiến tại địa phương. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945
khi thực dân Pháp bội ước quay trở lại xâm lược Việt Nam, Phạm Ngọc Thảo đã
tuyên bố hủy bỏ quốc tịch Pháp của mình và trở về Vĩnh Long để tham gia
kháng chiến cùng các anh. Trên đường từ Hà Nội trở về Vĩnh Long ông từng bị
dân quân Việt Minh bắt hai lần và suýt bị giết chết.
Những năm 1956-1957 Phạm Ngọc Thảo ra nhập đảng Cần Lao và tham
gia biên tập nguyệt san Bách khoa – tạp chí của đảng Cần Lao. Sau đó ông dần
dần tìm cách bộc lộ mình để Diệm – Nhu thấy được tài năng và trọng dụng ông.
Những bài báo viết về các vấn đề quân sự của Phạm Ngọc Thảo được giới quân
sự chú ý, Diệm – Nhu đề cao. Đến năm 1957 ông được phong hàm thiếu tá và
lần lượt giữ chức vụ Tỉnh đoàn trưởng bảo an tỉnh Vĩnh Long, rồi tỉnh đoàn
trường Bảo an tỉnh Bình Dương. Năm 1960 sau khi học một khóa chỉ huy và
tham mưu ở trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt, ông được thăng lên quân hàm thiếu
tá và làm nhiệm vụ Thanh tra khu trù mật. Năm 1961 ông được phong quân hàm
trung tá và làm tỉnh trưởng tính Kiến Hòa (Bến Tre). Thời gian này do nghi ngờ
ông là cộng sản nằm vùng nên Diệm – Nhu đã cho ông sang Hoa Kỳ học một
khóa về chỉ huy và tham mưu. Trong thời gian làm tỉnh trưởng Bến Tre Phạm
Ngọc Thảo có công không nhỏ trong việc tạo điều kiện cho khởi nghĩa Bến Tre
bùng nổ.
Sau này Phạm Ngọc Thảo đã hai lần âm mưu đảo chính. Lần thứ nhất vào
năm 1963 cùng với bác sĩ Trần Kim Tuyến. Sau đó 1965 Phạm Ngọc Thảo đang
làm tùy viên văn hóa Việt Nam tại Mỹ thì bị gọi về nước. Ông đã đào nhiệm và
bí mật liên lạc với các lực lượng đối lập để tổ chức đảo chính ở Sài Gòn. Vì ông
nắm được một nguồn tài liệu cho thấy Mỹ sẽ ném bom miền Bắc vào 20/2/1965
do đó ông sẽ tiến hành đảo chính đúng ngày 19/2. Âm mưu đảo chính không
thành Phạm Ngọc Thảo phải bỏ trốn.
Sau này, khi hoạt động của ông trở nên khó khăn và ông được đề nghị
quay về chiến khu hoặc ra nước ngoài thì Phạm Ngọc Thảo đều từ chối vì ông
tin vào khả năng thực hiện một cuộc đảo chính khác. Ngày 16/7/1965 ông bị
19
phục kích và bị thương sau đó bị bắt. Ông đã bị tra tấn dã man và chết vào đêm
17/7/1965 khi 43 tuổi.
Năm 1987 sau khi được các đồng đội sưu tầm tư liệu đề nghị Nhà nước