ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
––––––––––––––––––––––––
NGUYỄN QUANG DUY
SÁNG TẠO NHÂN VẬT ANH HÙNG TRẦN NGUYÊN HÃN
QUA BA TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ: SÓNG HẬN SÔNG LÔ;
NGƯỜI CON TRANG SƠN ĐÔNG; NGƯỜI VỀ CHỐN CŨ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ,
VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2018
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
––––––––––––––––––––––––
NGUYỄN QUANG DUY
SÁNG TẠO NHÂN VẬT ANH HÙNG TRẦN NGUYÊN HÃN
QUA BA TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ: SÓNG HẬN SÔNG LÔ;
NGƯỜI CON TRANG SƠN ĐÔNG; NGƯỜI VỀ CHỐN CŨ
Ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ,
VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Tác giả luận văn
Nguyễn Quang Duy
ii
MỤC LỤC
Lời cam đoan ........................................................................................................ i
Lời cảm ơn ........................................................................................................... ii
Mục lục ............................................................................................................... iii
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài ......................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu ........................................................................... 2
3. Mục đích nghiên cứu ................................................................................. 10
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu .......................................... 10
5. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................ 11
6. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................... 11
7. Dự kiến đóng góp ...................................................................................... 12
8. Cấu trúc luận văn ....................................................................................... 12
NỘI DUNG ....................................................................................................... 13
Chương 1: QUAN NIỆM VỀ TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VÀ DIỆN
MẠO CỦA TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM .................................... 13
1.1. Quan niệm về tiểu thuyết lịch sử ............................................................ 13
1.2. Diện mạo của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam ........................................... 18
1.2.1. Tiểu thuyết lịch sử trong văn học trung đại..................................... 18
1.2.2. Tiểu thuyết lịch sử từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945 ...................... 20
1.2.3. Tiểu thuyết lịch sử từ năm 1945 đến 1985 ...................................... 23
1.2.4. Tiểu thuyết lịch sử thời kỳ đổi mới (Từ năm 1986 đến nay) .......... 25
Tiểu kết chương 1 .............................................................................................. 28
Tiểu kết chương 3 .............................................................................................. 87
KẾT LUẬN....................................................................................................... 89
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN
LUẬN VĂN ..................................................................................................... 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................... 93
iv
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Lịch sử là một đề tài lớn, nguồn cảm hứng bất tận cho người nghệ sĩ
thỏa sức sáng tạo. Viết về đề tài lịch sử là một truyền thống của nền văn học
Việt Nam và đến nay nó vẫn tồn tại một cách bền bỉ, thậm chí là bộ phận phát
triển mạnh mẽ của văn học Việt Nam đương đại. Đã có nhiều nhà văn dành
trọn tâm huyết và rất thành công khi tìm đến với đề tài lịch sử. Chúng ta có thể
kể đến Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Quang Thân, Vũ
Ngọc Tiến, Hoàng Quốc Hải... Với đề tài lịch sử, các nhà tiểu thuyết đã dựng
lại cả một giai đoạn, một thời kỳ với những biến động xã hội, đồng thời đem
đến một cái nhìn, một tư tưởng và gửi gắm những suy tư, trăn trở về con người,
cuộc đời xưa và nay.
1.2. Trần Nguyên Hãn là nhân vật lịch sử, anh hùng dân tộc, có công lớn
trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Minh dưới ngọn cờ khởi
nghĩa của Lê Lợi đầu thế kỷ XV. Nhưng cuộc đời của một vị tướng lừng danh
đã kết thúc một cách bi thảm với cái chết oan khuất. Những tài liệu chính sử
viết về Trần Nguyên Hãn không nhiều. Trong những năm gần đây, ba bộ tiểu
thuyết lịch sử viết về Trần Nguyễn Hãn đã ra đời và thu hút được sự chú ý của
bạn đọc. Đó là các tác phẩm Sóng hận sông Lô (Vũ Ngọc Tiến), Người con
trang Sơn Đông (Nguyễn Anh Đào), Người về chốn cũ (Xuân Mai). Cả ba tiểu
thuyết trên đã dựng lại cả giai đoạn lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XV- một trong
ngôi vua, đã thẳng tay giết hại tôn tộc nhà Trần. Năm 1406, giặc Minh dùng
chiêu bài “phù Trần diệt Hồ”, sang xâm lược nước ta. Năm 1407, chúng bắt
được toàn bộ vua quan triều đình nhà Hồ đem về Trung Quốc. Từ đó, đất nước
ta chịu cảnh áp bức, bóc lột thậm tệ của giặc Minh.
Vào lúc này, Trần Nguyên Hãn (người con làng Quan Tử, trang Sơn
Đông, huyện Lập Thạch, phủ Tam Đới - nay là xã Sơn Đông, huyện Lập
Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc) đã trở thành lao động chính trong gia đình, vừa tiếp tục
học tập, vừa làm ruộng, ép dầu. Nhìn lũ giặc hoành hành khắp nơi trong vùng,
Trần Nguyên Hãn bầm gan tím ruột, nhưng cố nuốt hận, ra sức rèn luyện võ
2
nghệ, nghiền ngẫm binh thư, nuôi chí cứu nước giúp dân. Tháng 2 năm Canh
Dần (1410), ông bí mật chiêu tập thanh niên trai tráng trong vùng tổ chức luyện
quân, lập căn cứ tại rừng Thần, ao Tó, đầm Trạch (nay gọi là đầm Đa Mang)
thuộc hai xã Sơn Đông, Văn Quán để chờ thời cơ đánh giặc cứu nước. Cuối
năm Ất Mùi (1415), Trần Nguyên Hãn cùng với Nguyễn Trãi (anh em con cô
con cậu) trèo đèo, lội suối tìm đến Lam Sơn để theo Lê Lợi khởi nghĩa. Gần tết
năm Mậu Tuất (1418), Trần Nguyên Hãn đem 200 quân tinh nhuệ của nghĩa
quân Rừng Thần cùng hơn 100 ngựa chiến vào tụ nghĩa với nghĩa quân Lam
Sơn. Trần Nguyên Hãn đã dâng Lê Lợi thanh bảo kiếm của Tướng quốc Thái
sư Trần Quang Khải để tỏ một lòng một dạ phò Lê Lợi làm minh chủ chống
giặc cứu nước.
Tài năng, nhân cách, đức độ của Trần Nguyên Hãn được thể hiện rõ nét
trong cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược. Trong suốt những năm sát
cánh cùng Lê Lợi, Trần Nguyên Hãn đã cùng với nghĩa quân Lam Sơn không
quản ngại khó khăn, gian khổ, hi sinh làm nên những chiến thắng thần kỳ, bảo
vệ vững chắc giang sơn, Tổ quốc. Trần Nguyên Hãn luôn bất chấp nguy hiểm,
gian khổ để làm tròn trách nhiệm của một kẻ bề tôi trung quân báo quốc, được
lương trực Tả tướng quốc Trần phủ quân chi thần”.
Hiện nay, những tài liệu chính sử viết về Trần Nguyên Hãn không nhiều.
Tư liệu để lại về danh nhân này là rất ít so với một con người, một cuộc đời và
một thời đại như vậy. Sách Đại Việt sử kí toàn thư có viết ngắn gọn về ông:
“Lê Hãn là cháu của tư đồ nhà Trần là Trần Nguyên Đán, có học thức, tinh binh
pháp, thì Thái Tổ yêu dùng, thường dự bàn mưu kín và theo đi đánh dẹp, đến
đâu là lập công ngay. Năm Mậu Thân thứ 1, bàn công, được gia hữu tướng
quốc, cho quốc tính, công lao danh vọng hơn người. Hãn nói riêng với người
thân rằng: “Vua có tướng như Việt Vương (Câu Tiễn). Không có thể cùng
hưởng yên vui được”, bèn xin về nghỉ. Vua cho. Hãn là con cháu nhà Trần, bị
vua ngại. Khi đã về Sơn Đông (ấp thuộc huyện Lập Thạch), ở làng mà dựng
nhà đóng thuyền, không tránh hình tích, có kẻ gièm là mưu phản. Vua tin, sai
lực sĩ đến bắt. Xuống thuyền đậu ở bến Sơn Đông, tự trầm chết” [32, tr.530].
4
Tài năng quân sự kiệt xuất cùng tấm lòng yêu nước thương dân của Trần
Nguyễn Hãn được các nhà nghiên cứu, bác học, sử học và quân sự đánh giá cao.
Nhà bác học Lê Quý Đôn trong Lê triều thông sử ở thế kỷ XVIII có viết:
“Ông Hãn luôn luôn nuôi chí cứu đời giúp dân” và “Ông Hãn là người tinh
binh pháp, hữu học thức” [Dẫn theo 3, tr.45].
Trong bài “Trần Nguyên Hãn, nhà chỉ huy sáng tạo”, Thượng tướng,
GS. Hoàng Minh Thảo đánh giá: “Trong tất cả những hoạt động quân sự của
mình, khi trực tiếp chỉ huy một đạo quân, khi đảm nhiệm một hướng, khi vận
động phục kích, khi công thành, khi đối đầu trực tiếp với lực lượng thiện chiến
nhất của giặc, khi lĩnh nhiệm vụ diệt phá hậu cần của chúng, Trần Nguyên Hãn
đều hoàn thành xuất sắc, xứng đáng là một vị tướng giỏi” [Dẫn theo 3, tr.46].
GS. Lê Văn Lan, trong bài “Về thời đại của Trần Nguyên Hãn” viết:
“Ông là người có một phẩm chất lớn mà một phần quan trọng trong việc làm
ngoại xâm, tên tuổi của ông vẫn luôn sống mãi trong lòng dân tộc.
2.2. Nghiên cứu về những tác phẩm văn học viết về Trần Nguyên Hãn
Ba tiểu thuyết lịch sử Sóng hận sông Lô, năm 2013 (Vũ Ngọc Tiến),
Người con trang Sơn Đông, năm 2013 (Nguyễn Anh Đào), Người về chốn cũ,
năm 2014 (Xuân Mai) là những tác phẩm mới được ra đời trong những năm
gần đây. Ngay từ khi xuất hiện, ba tiểu thuyết lịch sử đã trở thành đối tượng thu
hút và quan tâm của giới nghiên cứu, phê bình văn học.
Trong buổi tọa đàm ra mắt cuốn tiểu thuyết lịch sử Sóng hận sông Lô
(ngày 10/8/2013) của Vũ Ngọc Tiến, đã có nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu phê
bình đánh giá, nhận định về những nét đặc sắc và thành công của tác phẩm này.
Nhà văn Hoàng Quốc Hải, một cây bút tiểu thuyết lịch sử cho rằng Sóng
hận sông Lô là “cuốn sách kịp thời cảnh tỉnh những ai giả vờ, hoặc cố tình ngủ
quên trước hiểm họa đất nước. Đồng thời thổi một luồng sinh khí mới vào tinh
thần yêu nước có lúc bị xúc phạm” [Dẫn theo 41]. Nhà văn tâm đắc với những
thông điệp nổi và chìm trong tiểu thuyết này.
6
Nhà nghiên cứu sân khấu Nguyễn Văn Hồng “cảm nhận tính kịch trong
tiểu thuyết, đặc biệt là với nhân vật Trần Nguyên Hãn” [Dẫn theo 41].
PGS.TS. La Khắc Hòa cho rằng “Vũ Ngọc Tiến đã dựng được cái khung
mới cho tiểu thuyết lịch sử ở ta. Vũ Ngọc Tiến không viết Lịch Sử như ngụ
ngôn, rút ra bài học; nhà văn đã kể “câu chuyện thú vị” về Lịch Sử để người
đọc nhận lấy thông điệp” [Dẫn theo 41].
Trong bài viết “Một cách viết mới về đề tài lịch sử” ở cuối tiểu thuyết
Sóng hận sông Lô, PGS.TS. Vũ Nho đã có nhận định về những thành công của
tác phẩm. Tác giả cho rằng Vũ Ngọc Tiến “không chỉ khắc họa được chân dung
Trần Nguyên Hãn, một người cương trực, dũng mãnh và cái chết oan khuất của
ông, mà còn dựng lên chân dung một loạt những nhân vật quan trọng tham gia
Trần Nguyên Mộng cho Quý Ly như một thứ con tin rồi xin cầu hôn với con
gái riêng của Quý Ly để được phong chức Đông cung Phán thủ. Tác giả còn lý
giải, nhờ đó mà gia đình Trần Nguyên Đán vượt qua được hoạn nạn, giữ được
giống nòi kế thế mai sau. Cuốn sách cũng không đề cập đến việc chạy nạn lên
Sơn Đông của hai vợ chồng Trần Án - thân sinh Đức Tổ Trần Nguyên Hãn,
thậm chí còn viết nhầm lẫn họ của Tổ Mẫu là Đặng Thị Hoàn. Theo cách phân
tích diễn giải của tác giả thì hai vợ chồng cụ Trần Án lên Sơn Đông là để khai
hoang lập ấp, kiếm kế sinh nhai, chứ không phải đi lánh nạn. Tác giả còn hư
cấu một cách thái quá, không phù hợp với lịch sử, khi nói rằng hai vợ chồng
Trần Án lên Sơn Đông 3 năm chưa có con. Một buổi tối, bà Hoàn đi tắm sông,
được một tiên đồng giáng thế, sau đó mang thai, sinh ra Trần Nguyên Hãn.
Chưa hết, tác giả còn tự ghép mối quan hệ giữa Trần Nguyên Hãn với Nguyễn
Trãi là quan hệ chú cháu chứ không phải con cô, con cậu... Rõ ràng, với việc sử
dụng thủ pháp hư cấu chủ quan mang tính võ đoán của tác giả đã làm cho cuốn
tiểu thuyết lịch sử bị méo mó, không có giá trị thông tin, cũng như ý nghĩa về
mặt lịch sử” [54]. Như vậy, ông Trần Quang Trung cho rằng tác giả của tiểu
thuyết Người con trang Sơn Đông đã hư cấu quá nhiều, không đúng với sự thật
lịch sử. Mối quan hệ giữa sự thật lịch sử và hư cấu nghệ thuật là vấn đề vẫn còn
nhiều tranh luận. Hư cấu là một yêu cầu tất yếu của nghệ thuật nhưng không
8
được đi ngược với chân lý lịch sử. Từ cuốn Về lợi ích và tác hại của chủ nghĩa
lịch sử (F. Nietzsche) đến cuốn Sự khốn cùng của Chủ nghĩa lịch sử (Karl
Popper) đã xuất hiện nhiều quan điểm làm cho không chỉ các nhà sử học, nhà
văn viết tiểu thuyết lịch sử, mà cả những người đọc tiểu thuyết lịch sử cũng
phải suy nghĩ. Karl Popper cho rằng lịch sử cần được viết lại, vì mỗi thế hệ mới
lại đặt ra trước nó những vấn đề mới, nghĩa là không có lịch sử như trong quá
khứ mà chỉ có những cách giải thích lịch sử khác nhau và không có cách giải
khi ông ngửa mặt hỏi trời cao trước khi chết thật có sức lay động người đọc một thành công trong sáng tạo của Xuân Mai khi khép lại câu chuyện về bậc
danh tướng” [6]. Nhà văn Phạm Ngọc Chiểu đã có những đánh giá về thành
công của Xuân Mai, đặc biệt trong việc tái dựng một cách sống động nhân vật
anh hùng trong lịch sử dân tộc và đem đến cho tác phẩm một không gian lễ hội,
không gian văn hóa đậm đà bản sắc.
Chúng tôi nhận thấy các bài viết về ba tiểu thuyết lịch sử này còn chưa
nhiều và mới chỉ dừng lại ở những nhận định, đánh giá có tính chất khái quát.
Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về ba tiểu
thuyết lịch sử (Sóng hận sông Lô, Người con trang Sơn Đông, Người về chốn
cũ) và về nhân vật Trần Nguyên Hãn. Tuy nhiên, những ý kiến và nhận định về
ba tiểu thuyết trên là những gợi dẫn quan trọng để chúng tôi tiến hành khảo sát,
nghiên cứu và triển khai đề tài này.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn nhằm làm rõ sự sáng tạo của ba nhà
văn khi xây dựng nhân vật anh hùng Trần Nguyên Hãn và nghệ thuật xây dựng
nhân vật qua ba tiểu thuyết lịch sử Sóng hận sông Lô (Vũ Ngọc Tiến), Người
con trang Sơn Đông (Nguyễn Anh Đào), Người về chốn cũ (Xuân Mai). Từ đó,
khẳng định vị trí và những đóng góp quan trọng của các tác giả trong đời sống
văn học Việt Nam hiện đại.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu sự sáng tạo của các nhà văn khi xây dựng
nhân vật anh hùng Trần Nguyên Hãn qua ba tiểu thuyết lịch sử Sóng hận sông
10
Lô (Vũ Ngọc Tiến), Người con trang Sơn Đông (Nguyễn Anh Đào) và Người về
chốn cũ (Xuân Mai). Trong những trường hợp cần thiết, chúng tôi liên hệ so sánh
với những tác phẩm cùng đề tài lịch sử để làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
đối tượng nghiên cứu: hình tượng nhân vật.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Trong quá trình nghiên cứu, chúng
tôi có liên hệ, sử dụng một cách đúng mực kiến thức của ngành lịch sử, văn hóa
học, triết học... nhằm giúp cho việc đánh giá và nhìn nhận vấn đề nghiên cứu
được toàn diện, sâu sắc hơn.
7. Dự kiến đóng góp
Đây là công trình khoa học đầu tiên, kịp thời nghiên cứu về ba cuốn tiểu
thuyết lịch sử viết về Trần Nguyên Hãn trong văn học đương đại đã và đang thu
hút sự chú ý của người đọc. Từ công trình này, người viết muốn khẳng định vị
trí và những đóng góp của các nhà văn vào quá trình phát triển của tiểu thuyết
lịch sử Việt Nam.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn có kết cấu 3 chương:
Chương 1: Quan niệm về tiểu thuyết lịch sử và diện mạo của tiểu thuyết
lịch sử Việt Nam.
Chương 2: Bức tranh đời sống xã hội và sáng tạo nhân vật anh hùng Trần
Nguyên Hãn qua ba tiểu thuyết lịch sử: Sóng hận sông Lô; Người con trang
Sơn Đông; Người về chốn cũ.
Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật anh hùng Trần Nguyên Hãn qua
ba tiểu thuyết lịch sử: Sóng hận sông Lô; Người con trang Sơn Đông; Người về
chốn cũ.
12
NỘI DUNG
Chương 1
QUAN NIỆM VỀ TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VÀ DIỆN MẠO
CỦA TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM
thịnh, diệt vong của các nhà nước, những biến cố lớn trong đời sống xã hội của
cộng đồng quốc gia, trong quan hệ giữa các quốc gia như chiến tranh, cách
mạng..., cuộc sống và sự nghiệp của những nhân vật có ảnh hưởng đến tiến
trình lịch sử” [42, tr.1725].
Như vậy, tiểu thuyết lịch sử là những tác phẩm mang trọn đặc trưng của
tiểu thuyết nhưng lại lấy nội dung lịch sử làm đề tài và cảm hứng sáng tạo nghệ
thuật. Đối tượng của tiểu thuyết lịch sử là nhân vật, sự kiện, thời kỳ hay tiến
trình lịch sử. Đó có thể là một thời quá khứ xa xôi hay một thời kỳ lịch sử đặc
biệt. Tiểu thuyết lịch sử đòi hỏi người viết vừa phải có kiến thức uyên bác, tỉ mỉ
của một nhà sử học, lại vừa phải có khả năng sáng tạo nghệ thuật.
Cho đến nay, có cả một hệ thống quan niệm về tiểu thuyết lịch sử. Trong
khuôn khổ của Luận văn, người viết xin được đưa ra quan điểm về tiểu thuyết
lịch sử của một số tác giả, nhà nghiên cứu và phê bình văn học sau:
Alexandre Dumas, nhà tiểu thuyết lịch sử người Pháp cho rằng: “Lịch sử
đối với tôi là gì? Nó chỉ là một cái đinh để tôi treo các bức họa của tôi mà thôi”
[Dẫn theo 39, tr.31]. Quan điểm của Dumas rõ ràng đứng về phía hư cấu lịch
sử, xem những sự kiện, nhân vật lịch sử chỉ là phương tiện để nhà văn viết tiểu
thuyết và gửi gắm suy nghĩ, ý tưởng riêng của mình.
Lucacs, nhà mỹ học Mác xít lớn với nhiều công trình mỹ học, trong đó
có cuốn nghiên cứu về tiểu thuyết lịch sử khẳng định tiểu thuyết lịch sử phải có
nhiệm vụ nghệ thuật hóa lịch sử: “Nhiệm vụ của tiểu thuyết lịch sử là chứng
minh sự tồn tại của hoàn cảnh và nhân vật lịch sử bằng công cụ nghệ thuật”
[Dẫn theo 39, tr.31].
Trong Lời đầu sách cuốn tiểu thuyết Người về chốn cũ, nhà văn Xuân
Mai đã dẫn ý kiến của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều khi bàn về tiểu thuyết lịch
sử. Theo Nguyễn Quang Thiều, các tác phẩm văn học về đề tài lịch sử cần phải
14
vậy, lịch sử không phải là đích đến của nhà văn mà đó chỉ là cái cớ, là phương
tiện để nhà văn thể hiện cách đánh giá, nhìn nhận, suy ngẫm về nhân vật lịch sử
và sự kiện lịch sử.
Nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ cho rằng: “Trong quá trình sáng tác, các
nhà tiểu thuyết lịch sử vừa phải tôn trọng các sự kiện lịch sử, vừa phải phát huy
cao độ vai trò của hư cấu, sáng tạo nghệ thuật” [11, tr.164]. Với quan niệm này,
tác giả nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa sự thật lịch sử và hư cấu nghệ thuật
trong tiểu thuyết lịch sử.
Trong tiểu luận đề dẫn Hội thảo về chủ đề “Lịch sử và văn hóa - Cái nhìn
nghệ thuật của Nguyễn Xuân Khánh”, Nguyễn Đăng Điệp nhận định: “Khác
với truyền thống coi lịch sử là đại lịch sử (đã xong xuôi), lý thuyết hiện đại, hậu
hiện đại khẳng định lịch sử là quá trình chưa hoàn tất mà đang được cấu tạo lại
với sự xuất hiện của các tiểu lịch sử. Tại đấy, lịch sử được hình dung như
những mảnh vỡ... Có người khẳng định, nhà văn có quyền tưởng tượng đến vô
hạn và tác phẩm của họ thực chất là cách cấu tạo lịch sử theo quan điểm cá
nhân. Tại đó, có một thứ lịch sử khác (ngoại vi) so với lịch sử được thừa nhận
(trung tâm), và lịch sử, khi đã đi vào lãnh địa tiểu thuyết, phải được tổ chức
trên cơ sở hư cấu và nguyên tắc trò chơi vốn là một đặc trưng của nghệ
thuật” [12, tr.5-8]. Như vậy, theo quan điểm của tác giả, tiểu thuyết lịch sử cần
được sáng tạo theo quan điểm cá nhân, phát huy cao độ vai trò của yếu tố hư cấu.
Trong phần lời bạt kỷ yếu của chính Hội thảo trên, Trần Đình Sử cũng
nhận định ủng hộ cho tính hư cấu của văn học về đề tài lịch sử: “Trên thế giới
sự đổi thay của tiểu thuyết lịch sử gắn với quan niệm về lịch sử. Từ chủ nghĩa
cấu trúc đến hậu cấu trúc, từ hậu cấu trúc đến chủ nghĩa tân lịch sử người ta
nhận rõ lịch sử chỉ là sự trần thuật về lịch sử, tạo nên sự hoài nghi đối với tính
chân thực của văn bản lịch sử... Do đó, “sự thật lịch sử” là một khái niệm ẩn
dụ, mang tính chủ quan” [Dẫn theo 12, tr.467-469].
16
là đỉnh cao của văn xuôi tự sự trung đại.
Sau khi đạt đến đỉnh cao với Hoàng Lê nhất thống chí, tiểu thuyết
chương hồi rơi vào tình trạng bế tắc nhưng còn lại hai đại diện cuối cùng là
Hoàng Việt long hưng chí (Ngô Giáp Đậu) và Việt Lam tiểu sử (Lê Hoan).
19