Tiểu luận tác ĐỘNG của biến đổi khí hậu đến các VÙNG VEN BIỂN - Pdf 35

TÁC ĐỘNG CỦA BĐKH ĐẾN CÁC VÙNG VEN BIỂN
DẪN DẮT:
- Biến đổi khí hậu là vấn đề đang được toàn nhân loại quan tâm. Biến đổi khí
hậu đã và đang tác động trực tiếp đến đời sống kinh tế-xã hội và môi trường toàn
cầu. Trong những năm qua nhiều nơi trên thế giới đã phải chịu nhiều thiên tai
nguy hiểm như bão lớn, nắng nóng dữ dội, lũ lụt, hạn hán và khí hậu khắc nghiệt
gây thiệt hại lớn về tính mạng con người và vật chất. Đã có nhiều nghiên cứu
cho thấy mối liên hệ giữa các thiên tai nói trên với biến đổi khí hậu. Trong một
thế giới ấm lên rõ rệt như hiện nay và việc xuất hiện ngày càng nhiều các thiên
tai đặc biệt nguy hiểm với tần suất, quy mô và cường độ ngày càng khó lường,
thì việc hiểu rõ tác động của BĐKH lên các khía cạnh của đời sống con người là
thực sự cần thiết.
-Trình chiếu video 1 (46s)
I.Hiện trạng của BĐKH đến các vùng ven biển:
-Thế giới:
-Việt Nam:
a) Sự biến đổi của mực nước biển:
-Mức độ biến đổi của mực nước biển: Cũng như các yếu tố khí hậu
khác, mức độ biến đổi của mực nước biển từ năm này qua năm
khác được đánh giá bằng độ lệch tiêu chuẩn và biến suất. Về mực
nước trung bình năm, độ lệch tiêu chuẩn là 8,2 cm ở Hòn Dấu; 3,3
cm ở Sơn Trà và 5,6 cm ở Vũng Tàu với biến suất tương ứng là 4,4
%; 3,5 % và 2,1 %. Về mực nước cao nhất năm, trên cả 3 địa điểm
độ lệch tiêu chuẩn chỉ xấp xỉ mực nước trung bình. Về mực nước
thấp nhất năm, với độ lệch tiêu chuẩn là 13,2 cm; 4,1 cm và 11,4
cm, biến suất gấp đôi hoặc gấp ba mực nước trung bình và mực
nước cao nhất


Theo Kịch bản phát thải trung bình nêu trong Kịch bản BĐKH,
nước biển dâng do Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố năm

Đất) và phụ thuộc vào nguồn tài nguyên thiên nhiên. Mật độ dân số tại
khu vực bờ biển có thể tăng từ 77 người/km2 năm 1990, lên tới 115
người/km2 năm 2025.
 Băngladet: Bănglađét là một trong những vùng châu thổ lớn trên
thế giới với 230 hệ thống sông ngòi dày đặc phân bố khắp đất nước.
Trong đó lớn nhất là Hệ thống sông Hằng, Brahmaputra và
Meghna. Địa hình Bănglađét thoải từ phía Bắc xuống phía Nam với
710 km đường bờ biển. Dải ven biển phía Nam nằm song song với
Vịnh Bengal ở mũi phía Bắc của Ấn Độ Dương, nông và có dạng
hình cung lõm, thường xuyên bị bão tấn công, gây ra sóng lớn. Dải
ven biển tập trung 19 trong số 64 quận của Bănglađét, trong đó có
12 quận tiếp giáp với biển hoặc nằm trên vùng cửa sông. Theo đánh
giá của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) năm 2007,
mực nước biển dâng 1m sẽ nhấn chìm 18% diện tích đất, trực tiếp
đe doạ 11% dân số. Tác động của mực nước sông do mực nước
biển dâng cao có thể ảnh hưởng đến 70 triệu người. Nước biển
dâng cao 1m sẽ ảnh hưởng tới diện tích rộng lớn vùng ven biển và
vùng đồng bằng ngập lũ. Điều này sẽ ảnh hưởng đến việc thực hiện
các mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ, gây ra dòng người tị nạn môi
trường.
Bảng 1: Nước biển dâng và những ảnh hưởng tiềm tàng ở
Bănglađét
Năm
Mực nước dâng

2020
10cm

2050
25cm

ra, với mức tăng 10% về

làm mực nước biển dâng cao 1

cường độ, tốc độ gió tăng

m.

Ngập lụt tăng

từ 225 đến 248 km/h;
Tăng ngập lụt ở sông

Tăng diện tích bị ngập mức độ

20% .

đồng bằng ngập lũ sông

lũ lụt.

Bão

Ngập lụt

Meghna và sông Hằng.
Ngập trong mùa mưa làm
Nông nghiệp

Hệ sinh thái


Sundarbans có thể mất hoàn

Sundarbans

Sundarbans

toàn. Mất Sundarbans và các
vùng ngập nước ven biển làm
giảm diện tích các bãi đẻ của
nhiều loài cá, làm giảm số

Xâm nhập mặn

Tăng

Tăng

lượng quần thể.
Tăng

 Trung Quốc: Nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng cao đã gây

ra những tác động đối với các vùng ven biển Trung Quốc, gồm gia
tăng xói lở, suy thoái các hệ sinh thái, tăng nhiễm mặn, tần suất và
cường độ bão. Những tác động này khác nhau ở từng khu vực, tuỳ
thuộc vào các điều kiện vật lý, sinh thái, kinh tế xã hội của từng địa
phương. Các hoạt động của con người ở vùng ven biển cũng góp
phần làm gia tăng những ảnh hưởng này. Dọc bờ biển Trung Quốc
có 14 đơn vị hành chính, trong đó có 8 tỉnh, 2 thành phố lớn


tính năm 2030

tính năm

tính năm 2030

2000

2000

(nước biển dâng 30 cm)
Châu thổ sông Châu 22,6 tỷ NDT
56 tỷ NDT

(nước biển dâng 1m)
104,4 tỷ NDT 262,5 tỷ NDT

Giang
Châu

9,6 tỷ NDT

655,6 tỷ NDT

1599,5 tỷ NDT

274,6 tỷ NDT

118,1 tỷ NDT

Việt Nam có 3.260 km bờ biển với 28/64 tỉnh, thành phố có biển .
Kinh tế biển đã trở thành một yếu tố quan trọng không thể thiếu
trong chiến lược kinh tế đất nước. Biến đổi khí hậu sẽ tác động
mạnh mẽ đến đời sống con người, song đối với một nước có
đường bờ biển dài và hai đồng bằng châu thổ lớn thì mối đe doạ
do biến đổi khí hậu và nước biển dâng cao sẽ thực sự nghiêm
trọng. Các vùng ven biển Việt Nam sẽ phải chịu ảnh hưởng nhiều
nhất do biến đổi khí hậu gây ra như bão, lũ lụt, xói lở bờ biển và
xâm nhập mặn…Đó cũng là nguyên nhân làm chậm tốc độ tăng
trưởng kinh tế của khu vực, tăng tỷ lệ nghèo khổ và làm giảm
khả năng ứng phó đối với các thiên tai do biến đổi khí hậu gây
ra.Đối với nước ta, các tác động của biến đổi khí hậu ban đầu có
thể nhận thấy được thông qua những thay đổi về khí hậu theo
mùa ở các vùng miền khác nhau; lượng mưa và mùa mưa cũng sẽ
thay đổi... Tuy nhiên, thách thức lớn nhất lại là khi mực nước
biển dâng cao. Dải ven biển thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu
Long và Đồng bằng sông Hồng - Thái Bình, hai vùng kinh tế
trọng điểm của cả nước, mật độ dân cư cao và tập trung, địa hình
bằng phẳng và thấp (80% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long và
30% diện tích Đồng bằng sông Hồng có độ cao dưới 2,5m so với

mặt nước biển).
• Báo cáo số WPS 4136 tháng 2 năm 2007 của Ngân hàng Thế giới
đã chỉ ra rằng Việt Nam là nước thứ 5 trên thế giới và là nước thứ
nhất trong khu vực Đông Nam Á bị ảnh hưởng nặng nề nhất khi
mực nước biển dâng. Theo kịch bản mực nước biển dâng cao 1
mét vào năm 2100 thì Việt Nam sẽ có 5,3% diện tích đất, 10,8%
dân cư, 10,2% GDP, 10,9 diện tích đô thị, 7,2% diện tích nông
nghiệp, và 28,9% diện tích đất trũng bị tác động. Nếu theo kịch
bản mực nước biển dâng cao 5 mét vào năm 2100 thì Việt Nam


Vĩnh Long.
(phát video1- 3p)
2.Tác động đến dân số
Theo báo cáo Phát triển con người năm 2008 của UNDP và Bộ Tài
nguyên và Môi trường công bố ngày 28 – 11 – 2008 tại Hà Nội thì Việt
Nam có khoảng 22 triệu người bị mất nhà cửa khi mực nước biển dâng

-

cao 1 mét. Gần 2 triệu cư dân lưu vực sông Hồng bị ảnh hưởng.
Theo báo cáo tại hội thảo “TP Đà Nẵng và biến đổi khí hậu” được tổ chức
ngày 20 – 2 – 2008 trong 30 năm nữa, khi mực nước biển dâng 30cm thì
sẽ có 30.000 hộ với hơn 170.000 người ở 18 xã phường ven biển mất nhà
ở, số lượng nhà cửa vùng nông sẽ bị ngập sẽ tăng lên 40.000 nhà.


ĐBSCL, nơi hơn 18 triệu người đang sinh sống, hiện cung cấp cho cả
nước 60% sản lượng lương thực, 90% sản lượng gạo xuất khẩu và 65%
tổng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản sẽ bị ảnh hưởng nặng nề
3.Sản xuất nông nghiệp, thủy hải sản và du lịch.
+ Sản xuất nông nghiệp:
Nước biển dâng cao khiến tình hình nhiễm mặn đã tác động không nhỏ tới
sản xuất nông nghiệp tại các tỉnh ven biển VN.Tại các điểm nhiễm mặn hầu
như không thể trồng được loại cây màu nào, phần lớn diện tích nhiễm mặn
đang bị bỏ hoang chờ thau chua, rửa mặn mới có thể khôi phục. Sự nhiễm
mặn đã ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển của cây lúa: giảm sức nảy
mầm của lúa, giảm chiều cao, đẻ nhánh. ĐB sông Cửu Long là vựa lúa lớn
nhất của VN, nhưng các nhà khoa học đang cảnh báo nguy cơ thu hẹp diện
tích đất canh tác và những biến đổi bất thường của khí hậu mà khu vực này

dâng lên rõ rệt. Đặc biệt, mỗi lần thủy triều lên, mực nước dâng cao tràn qua
đường khu du lịch ở thị trấn Quất Lâm, Chính quyền địa phương đã phải tổ
chức tôn cao đường trong khu du lịch từ 20 - 50cm và xây bờ chắn sóng. Hậu
quả của mực nước dâng cao 20cm đã phá hủy toàn bộ môi trường và cây cối
trong khu vực, ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế, du lịch và môi
trường của huyện.
4.Giao thông và cơ sở hạ tầng: Theo đánh giá của IPCC, do tác động của
biến đổi khí hậu toàn cầu, có khả năng mực nước biển sẽ dâng cao 1m vào
cuối thế kỷ 21, nếu Việt Nam không nhanh chóng xây dựng và nâng cấp
hoàn chỉnh hệ thống đê biển để ứng phó, thì hàng năm có đến 40.000km2
vùng ven biển sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề, trong đó 90% diện tích đồng bằng
sông Cửu Long bị ngập hoàn toàn, thiệt hại về tài sản lên tới 17 tỷ USD.Với
Việt Nam, các hệ thống cảng biển đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế
quốc gia. Hệ thống cảng biển nước sâu hiện nay ở vùng ven biển miền Trung
Việt Nam còn là cửa ngõ lớn qua các trục hành lang Đông Tây, nối liền miền
Trung Việt Nam với các nước tiểu vùng sông Mêkông, nối Việt Nam với các
nước châu Á - Thái Bình Dương và thế giới. Hiện nay, trên 24 tỉnh thành
vùng duyên hải Việt Nam có 266 cảng biển lớn nhỏ. Hơn nữa, Việt Nam còn
là nước có nhiều tiềm năng về dầu khí trong khu vực. Hiện nay công tác tìm


kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí ở Việt Nam đã được tiến hành cả trên đất
liền và vùng thềm lục địa (tập trung tại vùng biển Đông Nam và Tây Nam
Việt Nam). Mực nước biển dâng cao sẽ đe dọa đến các cơ sở hạ tầng có ý
nghĩa quan trọng này.
5. Nguy cơ thiếu nước ngọt và xâm nhập mặn: VN có 2 vùng châu thổ
rộng lớn là châu thổ sông Hồng ở phía Bắc và châu thổ sông Cửu Long ở
phía Nam, trong đó vùng châu thổ sông Cửu Long chịu ảnh hưởng nghiêm
trọng bởi chế độ thủy chiều.
Thủy triều sông ở ĐB sông Cửu Long là do từ biển truyền vào. Sự xâm nhập

kho bãi, khu công nghiệp…
+ Thích nghi: cải tạo cơ sở hạ tầng và chuyển đổi tập quán sinh hoạt, canh tác
của dân cư ven biển,
+ Né tránh: tái định cư, di dời cơ sở hạ tầng ra khỏi khu vực nguy hiểm vào
sâu trong lục địa lên vùng cao hơn.
-Trình chiếu video 3 (2p30)




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status